Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

29 tháng 03 năm 2007

 

1.  CÁC TẾ BÀO THẦN KINH CỦA THAI NHI ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG LÚC SINH

Bằng cách tác động lên các tế bào thần kinh của thai nhi trước khi sinh,một hormone của người mẹ,oxytocine,sẽ bảo vệ não bộ của trẻ sắp sinh khỏi bị thiếu oxy trong thời kỳ chuyển dạ.

Vài giờ trước khi sinh,cơ thể người mẹ phóng thích oxytocine,một hormone tác dụng lên tử cung và khởi động các co thắt của tử cung. Nhóm nghiên cứu của Roman Tyzio thuộc Viện sinh học thần kinh vừa chứng tỏ trên chuột rằng hormone này của người mẹ cũng tác động lên các tế bào thần kinh của thai nhi. Các neurone này có những thụ thể nhạy cảm với oxytocine. Được kích thích bởi hormone,các tế bào thần kinh của thai nhi bị ức chế trong 5 đến 6 giờ,điều này cho phép chúng đề kháng lại với tình trạng thiếu oxy có thể xảy ra trong lúc sinh.
Thật là ngoạn mục khi thấy được quá trình cơ chế sinh lý đang được tiến hành chuẩn bị cho thai nhi trong lúc sinh.Tất cả vấn đề của các công trình nghiên cứu (được tiến hành trên chuột) là để biết xem các kết quả có thể được suy diễn trên người và có thể áp dụng trong y học hay không. Vào giờ phút này, đó là điều chúng ta không biết được.Tuy nhiên điều đó sẽ còn đặt ra nhiều nghi vấn.

Trong trường hợp sinh bằng césarienne (mổ tử cung lấy thai nhi ra) trước khi sự chuyển dạ bắt đầu,cơ thể người mẹ sẽ không tiết ra oxytocine.Nếu không qua quá trình chuyển dạ,sẽ không có sự phóng thích oxytocine.Nếu tác dụng bảo vệ của oxytocine được chứng tỏ ở chuột cũng có thể áp dụng ở người,thì chúng ta có thể tự hỏi không biết trẻ sơ sinh có được che chở bởi tác dụng này hay không? Tuy nhiên xác suất thai nhi chịu những biến cố thiếu oxy trong khi mồ césarienne rất nhỏ.

Một trong các dược phẩm hiệu quả nhất để ngăn cản sinh non là atosiban, một chất có tác dụng cản oxytocine.Thuốc này do tác dụng cản đối với oxytocine có hủy bỏ cơ chế bảo vệ rất hữu ích đối với một thai nhi yếu ớt trong lòng mẹ không? Giả thuyết này rất khó kiểm chứng.Tuy nhiên hãy yên tâm vì chỉ có một nồng độ nhỏ atosiban đi từ mẹ sang thai nhi (10%) và demi-vie của thuốc trong máu người mẹ rất ngắn ngủi.  (LA RECHERCHE 2/2007)

 

2. MỘT PHẦN DO ÔNG ADAM, MỘT PHẦN DO BÀ EVE

Tất cả các cuộc thăm dò tìm hiểu, dầu được tiến hành bởi một tạp chí phụ nữ có số lượng in lớn hoặc bởi một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, đều đưa đến một kết luận rằng tần số các giao hợp và khoái lạc tình dục được xem là điều ưu tiên của một cặp vợ chồng. Nhưng tuổi càng cao thì điều ưu tiên này tuồng như giảm đi: 96% đối với với lứa tuổi từ 40-49, 65% đối với những người từ 60-69 tuổi và sụt xuống 39% đối với những người trên 75 tuổi. Nếu như đối với các ông,tầm quan trong của động tác giao hợp vẫn là điều rõ nét, ngay cả ở lứa tuổi đã cao (69% đối với những người từ 60 đến 69 tuổi và 60% sau 70 tuổi), thì trong khi đó các bà công nhận có một sự suy giảm nào do hoạt động tình dục với sự mất đi lòng ham muốn thuần xác thịt. Các bà sẽ bù trừ những thiếu sót này bằng những cử chỉ âu yếu dịu dàng. Sự thờ ơ rõ nét này của các bà phải chăng là điều có thật hay chỉ để che dấu những bất lực nơi bạn đường phối ngẫu mà các bà phải chịu đựng? Phải chăng sự thờ ơ này đánh dấu một tiến triển bình thường của đời sống tình dục hay là để che dấu ngay chính các rối loạn chức năng tình dục của chính các bà?

 

ĐÀN ÔNG HỖN LOẠN CHỨC NĂNG TÌNH DỤC

Sự loạn năng cương (dysfonction érectile) là một bộ phận của các tiến triển đi kèm quá trình lão hóa vì lẽ từ 50 tuổi trở lên,ta có thể cho rằng cứ hai người đàn ông sẽ có một người bị rối loạn này ở một mức độ nào đó và cứ 3 người sẽ có một người bị rối loạn nghiêm trọng.Nếu tình trạng này ảnh hưởng to lớn đến chất lượng cuộc sống và sự thoải mái về tâm lý (lo âu, stress, trầm cảm), nó cũng có thể làm rối loạn sự quân bình của đôi lứa( ngoại tình,xuất hiện rõ những vấn để quan hệ bí ẩn dấu,mất lòng quý mến).Mặc dầu các bà vẫn kín đáo về việc này nhưng vấn đề kỹ thuật này(sự loạn năng cương) ảnh hưởng to lớn đến khoái lạc và sự thỏa mãn tình dục của các bà.Một công trình nghiên cứu ở Chili năm 2003 rất bổ ích về vấn đề này.Nghiên cứu cho thấy rằng, theo các bà, mức độ thỏa mãn toàn bộ của đôi lứa giảm từ 89% (nếu người chồng không có vấn đề hỗn loạn tính năng tình dục) xuống còn 29% trong trường hợp người chồng bất lực.Lòng ham muốn tình dục giảm từ 72% xuống còn 46% , sự kích thích tình dục sụt giảm từ 75% xuống 44% và sự đạt khoái lạc cực độ (orgasme) giảm từ 65% xuống 30%.Vậy giải pháp của vấn đề ? Sự điều trị cho phép phục hồi một sự hài hoà tình dục nào đó trong đôi lứa.Nhưng phải chăng chỉ có quý ông là thủ phạm? Thế thì Bà Eve há không có một phần trách nhiệm trong sự bất quân bình này hay sao ?

 

ĐÀN BÀ HỖN LOẠN CHỨC NĂNG TÌNH DỤC

Các người phối ngẫu của các ông bất lực thường cũng có tỷ lệ cao về rối loạn chức năng tình dục.Theo các điều tra,tỷ lệ loạn năng tình dục đạt đến từ 24% đến 62% ở các bà.Chứng mất khoái lạc cực độ (anorgasmie), chứng co đau âm đạo (vaginisme), chứng giao hợp đau (dyspareunie)   (những rối loạn này trở nên trầm trọng hay được phát hiện trong thời kỳ mãn kinh),các rối loạn tiểu tiện (són tiểu lúc gắng sức),một vài bệnh lý ( u xơ tử cung) và sự giảm ham muốn tình dục nơi các bà   ( thường xảy ra lúc lớn tuổi) có thể làm các ông mất hứng khởi hoặc cụt hứng ,nhất là khi các ông đã bị yếu đi bởi các lý do khác như sống cảnh hưu trí,lo âu tuổi già,bệnh tật.

Các xét nghiệm về độ nhạy cảm của bộ phận sinh dục,écho-doppler phân bố mạch âm vật (vascularisation clitoridienne) và nhiệt ký (thermographie) là những công cụ chẩn đoán mới nhất để phát hiện vài hỗn loạn khả năng tình dục ở phụ nữ và tìm giải pháp điều trị hoặc bằng dược lý học hoặc bằng những kỹ thuật thích ứng. (GENERALISTE 8/3/2007)

 

3.  COI CHỪNG CHỨNG HUYẾT KHỐI

Các nhân viên văn phòng ngồi hàng giờ bất động trong văn phòng có khuynh hướng bị huyết khối (thrombose : sự tạo thành cục máu đông trong huyết quản) hơn là các hành khách của những chuyến bay đường dài.Đó là kết quả của một nghiên cứu Tân Tây Lan,được tiến hành bởi giáo sư Richard Biesley thuộc Viện Nghiên Cứu Y Học Wellington.Công trình nghiên cứu cho thấy rằng 1/3 các trường hợp bệnh nhân nhập viện vì huyết khối là những nhân viên văn phòng ngồi hàng giờ trước các computer của họ. 34% trong số 62 người đối tượng của công trình nghiên cứu nằm trong tình trạng này trong khi đó 21% các bệnh nhân mới đây đã dùng những chuyến bay đường dài,tờ báo New Zealand Herald xác định như thế.Một vài nhân viên là nạn nhân của chứng huyết khối đã ngồi đến 14 giờ trong một ngày trước các computer của họ.  (METRO 15/3/2007)

 

4.  CẤU TRÚC HOÁ HỌC CỦA GIẤC MƠ
100 năm sau Sigmund Freud, các nhà khoa học đã cố gắng phân tích kỹ cơ chế của các giấc mơ của chúng ta. Chính như vậy mà BS Eric Nofzinger đã thiết lập một chương trình nghiên cứu về sự tạo ảnh thần kinh(neuroimagerie) của giấc ngủ ở Trung Tâm Bệnh Viện Đaị Học Pittsburgh.Sau khi tiêm glucose có độ phóng xạ thấp vào trong não bộ của một người đang ngủ, nhà nghiên cứu theo dõi dấu vết chất phóng xạ bằng chụp lớp (tomographie),cho đến tận hệ limbique,trung khu của các cảm xúc và cái nôi của các giấc mơ.Trong thời kỳ giấc ngủ nghịch lý(sommeil paradoxal),hệ limbique là một pháo hoa cảm xúc thật sự.
BS Notzinger giải thích: “Đó là lý do tại sao các giấc mơ thường có tính chất thảm thương.Hoặc chúng ta xa rời mối nguy hiểm,hoặc chúng ta bị rơi vào trong một tình huống gây âu lo.Vùng não bộ chỉ huy giấc mơ của chúng ta cũng điều hoà các bản năng,năng lực,bản năng giới tính và các phản ứng chiến đấu hay bỏ chạy của chúng ta.” Song hành,các thùy trán vốn điều khiển tính logic,trở nên mất hoạt động.Điều này giải thích rằng các giấc mơ thường là một hỗn hợp lạ kỳ của các biến cố và các nhân vật. (READER’S DIGEST 11/2006)

 

5.  TỤY TẠNG NHÂN TẠO CHO THIẾU NIÊN BỊ TIỂU ĐƯỜNG

Các nhà nghiên cứu của Cambridge ra sức hiệu chính một tụy tạng nhân tạo(pancréas artificiel) cho các trẻ em và thiếu niên bị bệnh tiểu đường loại I. Thiết bị sử dụng một máy dò (détecteur) có kích thước của một tấm thẻ ngân hàng (carte de crédit),mang dính vào da,để theo dõi thường xuyên nồng độ của đường trong máu.Các dữ kiện thu được sẽ được truyền đến một computer kiểm soát một bơm insuline.Bơm này được đặt ở dây thắt lưng của bệnh nhân.và tiêm tự động lượng insuline cần thiết.Nhiều bệnh nhân tiểu đường đã sử dụng các bơm này nhưng họ phải đo nồng độ đường nhiều lần trong ngày.Đây là một điều bó buộc lớn đối với các bệnh nhân trẻ vì nhu cầu về insuline của chúng thường không đều đặn như đối với người trưởng thành, “ Thiết bị này sẽ vừa mang lại cho các bệnh nhân trẻ một sự nhẹ nhõm về mặt tâm lý,vừa cho phép kiểm tra tốt hơn và giảm các biến chứng về lâu về dài.”.Karen Addington,nữ chủ tịch của Juvenile Diabetes Research Foundation (quỹ tài trợ dự án),đã giải thích như vậy.Các thử nghiệm lâm sàng đã bắt đầu vào tháng giêng trên các trẻ từ 5 đến 18 tuổi.Các thử nghiệm trắc nghiệm thiết bị dùng vào đêm,ở bệnh viện và tại nhà của bệnh nhân.Việc xử lý các dữ kiện sẽ được thực hiện trên các computer gắn vào hộp của bơm insuline.  (SCIENCES ET AVENIR 2/2007)

 

6.  CHỨNG LOÃNG XƯƠNG ĐƯỢC PHÁT HIỆN TRONG XƯƠNG HÀM

Các nha sĩ điều tra phát hiện chứng loãng xương giữa hai lần khám sâu răng? Đó là mục tiêu của một chương trình rộng lớn của Châu Âu vừa được phát động nhờ các công trình mới đây của một nhóm nghiên cứu của Đaị Học Manchester (Anh Quốc),được công bố trong tạp chí Bone. Thật vậy,các giáo sư Keith Horner và Hugh Devlin đã khám phá một mối liên hệ giữa bề dày của xương hàm và nguy cơ phát sinh bệnh loãng xương(ostéoporose),bệnh lý nguyên nhân của các trường hợp gẫy xương ở phụ nữ và đàn ông trên 50 tuổi. Phát hiện này sẽ có liên quan đến gần 250 triệu người trên thế giới

Nhóm nghiên cứu đã hiệu chính một logiciel đo bề dày của một phần xương hàm (vỏ xương=cortex) bằng một máy quang tuyến đơn giản có thể thực hiện ở phòng khám nha khoa.Đây là một công việc ít nặng nề hơn densitométrie thường được thực hiện ở khoa quang tuyến Nguy cơ loãng xương xuất hiện khi bề dày vỏ xương hàm được đo có trị số dưới 3 mm. 

Các Đại Học Athènes(Hy Lạp),Amsterdam (Hoà Lan),Malmo (Thụy Điển) và Louvain (Bỉ) sẽ tham gia vào chương trình nghiên cứu kéo dài 3 năm này.Các nhà chế tạo máy cũng được yêu cầu gắn logiciel này vào máy chụp quang tuyến được sử dụng bởi các nha sĩ.Chương trình nghiên cứu này xuất hiện vào lúc sự điều trị chứng loãng xương có thể thực hiện bằng cách uống Bonviva hàng tháng Thuốc này đang được lưu hành ở Pháp. (SCIENCES ET AVENIR 3/2007)

 

7.  UỐNG SỮA BÉO LÀM GIẢM NGUY CƠ VÔ SINH.

Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ,Chavarro và các cộng sự viên đã theo dõi 18.555 phụ nữ đã lập gia đình ,ở lứa tuổi sinh đẻ và không có tiền sử về những vấn đề vô sinh.Các phụ nữ này mong muốn có thai hoặc đã có thai trong thời kỳ nghiên cứu theo dõi kéo dài 8 năm.Các dữ kiện về thói quen ăn uống được thu thập bằng các bảng câu hỏi.Suốt trong thời kỳ theo dõi,438 phụ nữ đã báo cáo những vấn đề vô sinh do không phóng noãn (anovulation).

Các tác giả đã phát hiện mối liên hệ giữa vấn đề vô sinh và sự tiêu thụ các sản phẩm sữa.Các phụ nữ tiêu thụ hai suất (hoặc nhiều hơn) sản phẩm sữa gầy mỗi ngày,đặc biệt là sữa được lọai bỏ chất kem (lait écrémé) và yaourt,sẽ có nguy cơ bị những vấn để vô sinh cao hơn nhiều so với các phụ nữ tiêu thụ dưới một suất sữa mỗi tuần.

Mối liên hệ nghịch được nhận thấy với sữa béo,đặc biệt là sữa toàn bộ (lait entier).Các phụ nữ tiêu thụ tối thiểu một suất sản phẩm sữa béo mỗi ngày sẽ có ít hơn nhiều những vấn đề vô sinh do phóng noãn,so với các phụ nữ tiêu thụ tối đa một suất sữa mỗi tuần.Theo các tác giả,sự tiêu thụ lactose, calcium, phosphore và vitamine D không có một mối liên hệ nào với những vấn để sinh sản liên quan với phóng noãn. (LE JOURNAL DU MEDECIN 9/3/2007)

 

8.  NGUY CƠ KHẢ DĨ DO SỬ DỤNG ASPIRIN
Một nghiên cứu mới đây báo cáo rằng những người sử dụng hàng ngày aspirin, acetaminophen hoặc các thuốc chống viêm như ibuprofen có thể sẽ có nguy cơ cao hơn một chút bị cao huyết áp.
Sau khi chỉnh lý các yếu tố như tuổi tác,hút thuốc,thể dục và bệnh sử gia đình về cao huyết áp,các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng so với những người không sử dụng,những người dùng hoặc acetaminophen hoặc các thuốc chống viêm 6 hoặc 7 lần mỗi tuần,sẽ làm gia tăng nguy cơ bị cáo huyết áp 1/3.Sử dụng aspirin làm gia tăng nguy cơ 26%.Công trình nghiên cứu này được công bố trong số 28/2 của The Archives of Internal Medicine.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát trên hơn 16.000 người vào đầu năm 2000. Không có ai bị cao huyết áp vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và tuổi trung bình của những người tham gia là 65.Trong vòng 4 năm sau đó có 1968 trường hợp bị cao huyết áp mới xảy ra được báo cáo.Cơ chế chính xác để giải thích các kết quả này vẫn không được biết nhưng các tác giả vạch ra các tác dụng khác nhau của các thuốc chống đau này trên các huyết quản.

B.S Gary C.Curhan,tác giả cao niên của công trình và là BS của Bệnh Viện Brigham and Women’s Hospital ở Boston đã nói rằng những người có nguy cơ bệnh tim và đang dùng aspirin mỗi ngày,nên tiếp tục uống thuốc này.Nhưng ông nói thêm: « Những người không có nguy cơ bệnh tim cần hiểu rằng sẽ có thể có nguy cơ nếu dùng các thuốc này một cách đều đặn » (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 15/3/2007)

 

9.  TỰ TỬ ĐƯỢC NHẬN THẤY ÍT XẢY RA HƠN NƠI NHỮNG NGƯỜI BÉO MẬP

Nói rằng những người béo mập vui vẻ yêu đời thì nghe như là một huyền thoại.Nhưng một nghiên cứu công bố tuần này đã tìm thấy một mồi liên hệ rõ ràng giữa chỉ số khối lượng cơ thể (BMI :Body Mass Index) cao và nguy cơ tự tử thấp.
Trong một công trình nghiên cứu kéo dài 16 năm, theo dõi hơn 45.000 nhân viên y tế nam,các nhà nghiên cứu đã nhận thấy sự giảm đều đặn các trường hợp tự tử khi BMI gia tăng,ngay cả sau khi đã kiểm tra các biến số như nghiện thuốc, chế độ ăn uống,hoạt động vật lý, tình trạng gia đình và nghiện rượu.

Có 131 trường hợp tự tử trong suốt thời gian nghiên cứu.So với những người có BMI ở mức 20 % thấp nhất thì những người ở mức 1/5 cao nhất có it nguy cơ tự tử đến 60%.

« Đó là một mối liên hệ rõ rệt gây ngạc nhiên ».Kenneth Mukamal,tác giả lãnh đạo công trình và phó giáo sư y khoa thuộc Đaị Học Havard đã phát biểu như thế. « Nhưng mặc dầu chúng ta thấy rằng những người càng béo mập thì càng ít có khuynh hướng tự tử, mặt khác có rất nhiều nghiên cứu khác liên kết sự béo phì với tình trạng sức khỏe kém.Lên cân không phải là phương cách tốt nhất để cải thiện sức khỏe tâm thần của bất cứ ai.Tôi hy vọng rằng những khám phá này sẽ cho một hiểu biết sâu sắc về các chiến lược mới để ngăn ngừa tự tử »

Viết trong Thế Archives of Internal Medicine,các tác giả gợi ý rằng BMI có thể liên hệ đến tự tử qua nồng độ Insulin trong máu.Mà Insulin có thể đóng một vai trò trong sự xác định tính khí. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 15/3/2007)

 

10.   UNG THƯ VÀ HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC

Hoạt động thể lực có một hiệu quả thuận lợi đồng thời trên bình diện tâm thần và thể xác nơi những người bị ung thư.Đó là kết quả của một nghiên cứu được công bố bởi một nhóm nhà nghiên cứu người Anh.
Từ lâu chúng ta biết rằng hoạt động thể lực có một hiệu quả thuận lợi trên các bệnh nhân bị bệnh tim.Hiện nay,các hoạt động thể lực được đưa vào các chương trình phục hồi chức năng của các bệnh nhân này.Trong BMJ,Nanette Mutrie (Glasgow) và các cộng sự viên công bố kết quả các suy nghĩ của họ về ảnh hưởng thuận lợi của hoạt động thế lực trên những người bị ung thư.Để trả lời câu hỏi này,họ đã thực hiện một nghiên cứu trên 177 phụ nữ bị ung thư vú ở giai đoạn sớm.Suốt trong 12 tuần lễ của chương trình luyện tập và trong 6 tháng tiếp theo sau đó,các bệnh nhân thuộc nhóm luyện tập cảm thấy khoẻ hơn cả trên bình diện tâm thần lẫn thể xác,so với nhóm placebo tương ứng.Chất lượng cuộc sống của những người theo chương trình luyện tập thể lực cũng tốt hơn.

Trong bài xã luận trên báo BMJ,Julie Server nhấn mạnh rằng hoạt động thể lực có một hiệu quả thuận lợi trên bình diện tâm thần của những bệnh nhân bị ung thư nhưng không có tác dụng trên bình diện thể xác.Tuy nhiên các tác giả chấp nhận rằng công trình nghiên cứu của họ có mặt hạn chế.Tuy vậy,công trình này mở ra triển vọng khá phấn khởi để biện minh cho sự theo đuổi các công trình nghiên cứu. Các tác giả cũng chủ trương hội nhập hoạt động thể lực và huấn luyện vào chương trình phục hồi sau khi điều trị ung thư vú. (LE JOURNAL DU MEDECIN 20/3/2007)

                                                  
Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh
                                                               (20/3/2007)

                          

 

Trở về Trang Chính