|
1. CÁC TẾ BÀO THẦN
KINH CỦA THAI NHI ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG LÚC SINH
Bằng cách tác động lên các tế bào thần kinh
của thai nhi trước khi sinh,một hormone của người
mẹ,oxytocine,sẽ bảo vệ não bộ của trẻ sắp sinh khỏi bị thiếu oxy
trong thời kỳ chuyển dạ.
Vài giờ trước khi sinh,cơ thể người mẹ phóng
thích oxytocine,một hormone tác dụng lên tử cung và khởi động
các co thắt của tử cung. Nhóm nghiên
cứu của Roman Tyzio thuộc Viện sinh học thần kinh vừa chứng tỏ
trên chuột rằng hormone này của người mẹ cũng tác động lên các
tế bào thần kinh của thai nhi. Các neurone này có những thụ thể
nhạy cảm với oxytocine. Được kích thích bởi hormone,các tế bào
thần kinh của thai nhi bị ức chế trong 5 đến 6 giờ,điều này cho
phép chúng đề kháng lại với tình trạng thiếu oxy có thể xảy ra
trong lúc sinh.
Thật là ngoạn mục khi thấy được quá trình cơ chế sinh lý đang
được tiến hành chuẩn bị cho thai nhi trong lúc sinh.Tất cả vấn
đề của các công trình nghiên cứu (được tiến hành trên chuột) là
để biết xem các kết quả có thể được suy diễn trên người và có
thể áp dụng trong y học hay không. Vào giờ phút này, đó là điều
chúng ta không biết được.Tuy nhiên điều đó sẽ còn đặt ra nhiều
nghi vấn.
Trong trường hợp sinh bằng césarienne (mổ tử
cung lấy thai nhi ra) trước khi sự chuyển dạ bắt đầu,cơ thể
người mẹ sẽ không tiết ra oxytocine.Nếu không qua quá trình
chuyển dạ,sẽ không có sự phóng thích oxytocine.Nếu tác dụng bảo
vệ của oxytocine được chứng tỏ ở chuột cũng có thể áp dụng ở
người,thì chúng ta có thể tự hỏi không biết trẻ sơ sinh có được
che chở bởi tác dụng này hay không? Tuy nhiên xác suất thai nhi
chịu những biến cố thiếu oxy trong khi mồ césarienne rất nhỏ.
Một trong các dược phẩm hiệu quả nhất để ngăn
cản sinh non là atosiban, một chất có tác dụng cản
oxytocine.Thuốc này do tác dụng cản đối với oxytocine có hủy bỏ
cơ chế bảo vệ rất hữu ích đối với một thai nhi yếu ớt trong lòng
mẹ không? Giả thuyết này rất khó kiểm chứng.Tuy nhiên hãy yên
tâm vì chỉ có một nồng độ nhỏ atosiban đi từ mẹ sang thai nhi
(10%) và demi-vie của thuốc trong máu người mẹ rất ngắn ngủi.
(LA RECHERCHE 2/2007)
2. MỘT PHẦN DO ÔNG ADAM, MỘT PHẦN DO BÀ EVE
Tất cả các cuộc thăm dò tìm hiểu, dầu được
tiến hành bởi một tạp chí phụ nữ có số lượng in lớn hoặc bởi một
công trình nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, đều đưa đến một kết
luận rằng tần số các giao hợp và khoái lạc tình dục được xem là
điều ưu tiên của một cặp vợ chồng. Nhưng tuổi càng cao thì điều
ưu tiên này tuồng như giảm đi: 96% đối với với lứa tuổi từ
40-49, 65% đối với những người từ 60-69 tuổi và sụt xuống 39%
đối với những người trên 75 tuổi. Nếu như đối với các ông,tầm
quan trong của động tác giao hợp vẫn là điều rõ nét, ngay cả ở
lứa tuổi đã cao (69% đối với những người từ 60 đến 69 tuổi và
60% sau 70 tuổi), thì trong khi đó các bà công nhận có một sự
suy giảm nào do hoạt động tình dục với sự mất đi lòng ham muốn
thuần xác thịt. Các bà sẽ bù trừ những thiếu sót này bằng những
cử chỉ âu yếu dịu dàng. Sự thờ ơ rõ nét này của các bà phải
chăng là điều có thật hay chỉ để che dấu những bất lực nơi bạn
đường phối ngẫu mà các bà phải chịu đựng? Phải chăng sự thờ ơ
này đánh dấu một tiến triển bình thường của đời sống tình dục
hay là để che dấu ngay chính các rối loạn chức năng tình dục của
chính các bà?
ĐÀN ÔNG HỖN LOẠN
CHỨC NĂNG TÌNH DỤC
Sự loạn năng cương (dysfonction érectile) là
một bộ phận của các tiến triển đi kèm quá trình lão hóa vì lẽ từ
50 tuổi trở lên,ta có thể cho rằng cứ hai người đàn ông sẽ có
một người bị rối loạn này ở một mức độ nào đó và cứ 3 người sẽ
có một người bị rối loạn nghiêm trọng.Nếu tình trạng này ảnh
hưởng to lớn đến chất lượng cuộc sống và sự thoải mái về tâm lý
(lo âu, stress, trầm cảm), nó cũng có thể làm rối loạn sự quân
bình của đôi lứa( ngoại tình,xuất hiện rõ những vấn để quan hệ
bí ẩn dấu,mất lòng quý mến).Mặc dầu các bà vẫn kín đáo về việc
này nhưng vấn đề kỹ thuật này(sự loạn năng cương) ảnh hưởng to
lớn đến khoái lạc và sự thỏa mãn tình dục của các bà.Một công
trình nghiên cứu ở Chili năm 2003 rất bổ ích về vấn đề
này.Nghiên cứu cho thấy rằng, theo các bà, mức độ thỏa mãn toàn
bộ của đôi lứa giảm từ 89% (nếu người chồng không có vấn đề hỗn
loạn tính năng tình dục) xuống còn 29% trong trường hợp người
chồng bất lực.Lòng ham muốn tình dục giảm từ 72% xuống còn 46% ,
sự kích thích tình dục sụt giảm từ 75% xuống 44% và sự đạt khoái
lạc cực độ (orgasme) giảm từ 65% xuống 30%.Vậy giải pháp của vấn
đề ? Sự điều trị cho phép phục hồi một sự hài hoà tình dục nào
đó trong đôi lứa.Nhưng phải chăng chỉ có quý ông là thủ phạm?
Thế thì Bà Eve há không có một phần trách nhiệm trong sự bất
quân bình này hay sao ?
ĐÀN BÀ HỖN LOẠN CHỨC
NĂNG TÌNH DỤC
Các người phối ngẫu của các ông bất lực
thường cũng có tỷ lệ cao về rối loạn chức năng tình dục.Theo các
điều tra,tỷ lệ loạn năng tình dục đạt đến từ 24% đến 62% ở các
bà.Chứng mất khoái lạc cực độ (anorgasmie), chứng co đau âm đạo
(vaginisme), chứng giao hợp đau (dyspareunie) (những rối loạn
này trở nên trầm trọng hay được phát hiện trong thời kỳ mãn
kinh),các rối loạn tiểu tiện (són tiểu lúc gắng sức),một vài
bệnh lý ( u xơ tử cung) và sự giảm ham muốn tình dục nơi các
bà ( thường xảy ra lúc lớn tuổi) có thể làm các ông mất hứng
khởi hoặc cụt hứng ,nhất là khi các ông đã bị yếu đi bởi các lý
do khác như sống cảnh hưu trí,lo âu tuổi già,bệnh tật.
Các xét nghiệm về độ nhạy cảm của bộ phận
sinh dục,écho-doppler phân bố mạch âm vật (vascularisation
clitoridienne) và nhiệt ký (thermographie) là những công cụ chẩn
đoán mới nhất để phát hiện vài hỗn loạn khả năng tình dục ở phụ
nữ và tìm giải pháp điều trị hoặc bằng dược lý học hoặc bằng
những kỹ thuật thích ứng.
(GENERALISTE 8/3/2007)
3. COI CHỪNG CHỨNG
HUYẾT KHỐI
Các nhân viên văn phòng ngồi hàng giờ bất
động trong văn phòng có khuynh hướng bị huyết khối (thrombose :
sự tạo thành cục máu đông trong huyết quản) hơn là các hành
khách của những chuyến bay đường dài.Đó là kết quả của một
nghiên cứu Tân Tây Lan,được tiến hành bởi giáo sư Richard
Biesley thuộc Viện Nghiên Cứu Y Học Wellington.Công trình nghiên
cứu cho thấy rằng 1/3 các trường hợp bệnh nhân nhập viện vì
huyết khối là những nhân viên văn phòng ngồi hàng giờ trước các
computer của họ. 34% trong số 62 người đối tượng của công trình
nghiên cứu nằm trong tình trạng này trong khi đó 21% các bệnh
nhân mới đây đã dùng những chuyến bay đường dài,tờ báo New
Zealand Herald xác định như thế.Một vài nhân viên là nạn nhân
của chứng huyết khối đã ngồi đến 14 giờ trong một ngày trước các
computer của họ. (METRO 15/3/2007)
4. CẤU TRÚC HOÁ HỌC
CỦA GIẤC MƠ
100 năm sau Sigmund Freud, các nhà khoa học đã cố gắng phân tích
kỹ cơ chế của các giấc mơ của chúng ta. Chính như vậy mà BS Eric
Nofzinger đã thiết lập một chương trình nghiên cứu về sự tạo ảnh
thần kinh(neuroimagerie) của giấc ngủ ở Trung Tâm Bệnh Viện Đaị
Học Pittsburgh.Sau khi tiêm glucose có độ phóng xạ thấp vào
trong não bộ của một người đang ngủ, nhà nghiên cứu theo dõi dấu
vết chất phóng xạ bằng chụp lớp (tomographie),cho đến tận hệ
limbique,trung khu của các cảm xúc và cái nôi của các giấc
mơ.Trong thời kỳ giấc ngủ nghịch lý(sommeil paradoxal),hệ
limbique là một pháo hoa cảm xúc thật sự.
BS Notzinger giải thích: “Đó là lý do tại sao các giấc mơ thường
có tính chất thảm thương.Hoặc chúng ta xa rời mối nguy hiểm,hoặc
chúng ta bị rơi vào trong một tình huống gây âu lo.Vùng não bộ
chỉ huy giấc mơ của chúng ta cũng điều hoà các bản năng,năng
lực,bản năng giới tính và các phản ứng chiến đấu hay bỏ chạy của
chúng ta.” Song hành,các thùy trán vốn điều khiển tính logic,trở
nên mất hoạt động.Điều này giải thích rằng các giấc mơ thường là
một hỗn hợp lạ kỳ của các biến cố và các nhân vật.
(READER’S DIGEST 11/2006)
5. TỤY TẠNG NHÂN TẠO CHO THIẾU NIÊN BỊ TIỂU ĐƯỜNG
Các nhà nghiên cứu của Cambridge ra sức
hiệu chính một tụy tạng nhân tạo(pancréas artificiel) cho các
trẻ em và thiếu niên bị bệnh tiểu đường loại I. Thiết bị sử dụng
một máy dò (détecteur) có kích thước của một tấm thẻ ngân hàng
(carte de crédit),mang dính vào da,để theo dõi thường xuyên nồng
độ của đường trong máu.Các dữ kiện thu được sẽ được truyền đến
một computer kiểm soát một bơm insuline.Bơm này được đặt ở dây
thắt lưng của bệnh nhân.và tiêm tự động lượng insuline cần
thiết.Nhiều bệnh nhân tiểu đường đã sử dụng các bơm này nhưng họ
phải đo nồng độ đường nhiều lần trong ngày.Đây là một điều bó
buộc lớn đối với các bệnh nhân trẻ vì nhu cầu về insuline của
chúng thường không đều đặn như đối với người trưởng thành,
“ Thiết
bị này sẽ vừa mang lại cho các bệnh nhân trẻ một sự nhẹ nhõm về
mặt tâm lý,vừa cho phép kiểm tra tốt hơn và giảm các biến chứng
về lâu về dài.”.Karen Addington,nữ chủ tịch của Juvenile
Diabetes Research Foundation (quỹ tài trợ dự án),đã giải thích
như vậy.Các thử nghiệm lâm sàng đã bắt đầu vào tháng giêng trên
các trẻ từ 5 đến 18 tuổi.Các thử nghiệm trắc nghiệm thiết bị
dùng vào đêm,ở bệnh viện và tại nhà của bệnh nhân.Việc xử lý các
dữ kiện sẽ được thực hiện trên các computer gắn vào hộp của bơm
insuline.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2007)
6. CHỨNG LOÃNG XƯƠNG ĐƯỢC PHÁT HIỆN TRONG XƯƠNG HÀM
Các nha sĩ điều tra
phát hiện chứng loãng xương giữa hai lần khám sâu răng? Đó là
mục tiêu của một chương trình rộng lớn của Châu Âu vừa được phát
động nhờ các công trình mới đây của một nhóm nghiên cứu của Đaị
Học Manchester (Anh Quốc),được công bố trong tạp chí Bone. Thật
vậy,các giáo sư Keith Horner và Hugh Devlin đã khám phá một mối
liên hệ giữa bề dày của xương hàm và nguy cơ phát sinh bệnh
loãng xương(ostéoporose),bệnh lý nguyên nhân của các trường hợp
gẫy xương ở phụ nữ và đàn ông trên 50 tuổi. Phát hiện này sẽ có
liên quan đến gần 250 triệu người trên thế giới
Nhóm nghiên cứu đã hiệu chính một logiciel đo
bề dày của một phần xương hàm (vỏ xương=cortex) bằng một máy
quang tuyến đơn giản có thể thực hiện ở phòng khám nha khoa.Đây
là một công việc ít nặng nề hơn densitométrie thường được thực
hiện ở khoa quang tuyến Nguy cơ loãng xương xuất hiện khi bề dày
vỏ xương hàm được đo có trị số dưới 3 mm.
Các Đại Học Athènes(Hy Lạp),Amsterdam (Hoà
Lan),Malmo (Thụy Điển) và Louvain (Bỉ) sẽ tham gia vào chương
trình nghiên cứu kéo dài 3 năm này.Các nhà chế tạo máy cũng được
yêu cầu gắn logiciel này vào máy chụp quang tuyến được sử dụng
bởi các nha sĩ.Chương trình nghiên cứu này xuất hiện vào lúc sự
điều trị chứng loãng xương có thể thực hiện bằng cách uống
Bonviva hàng tháng Thuốc này đang được lưu hành ở Pháp.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2007)
7. UỐNG SỮA BÉO LÀM
GIẢM NGUY CƠ VÔ SINH.
Các nhà nghiên cứu
Hoa Kỳ,Chavarro và các cộng sự viên đã theo dõi 18.555 phụ nữ đã
lập gia đình ,ở lứa tuổi sinh đẻ và không có tiền sử về những
vấn đề vô sinh.Các phụ nữ này mong muốn có thai hoặc đã có thai
trong thời kỳ nghiên cứu theo dõi kéo dài 8 năm.Các dữ kiện về
thói quen ăn uống được thu thập bằng các bảng câu hỏi.Suốt trong
thời kỳ theo dõi,438 phụ nữ đã báo cáo những vấn đề vô sinh do
không phóng noãn (anovulation).
Các tác giả đã phát
hiện mối liên hệ giữa vấn đề vô sinh và sự tiêu thụ các sản phẩm
sữa.Các phụ nữ tiêu thụ hai suất (hoặc nhiều hơn) sản phẩm sữa
gầy mỗi ngày,đặc biệt là sữa được lọai bỏ chất kem (lait écrémé)
và yaourt,sẽ có nguy cơ bị những vấn để vô sinh cao hơn nhiều so
với các phụ nữ tiêu thụ dưới một suất sữa mỗi tuần.
Mối liên hệ nghịch
được nhận thấy với sữa béo,đặc biệt là sữa toàn bộ (lait
entier).Các phụ nữ tiêu thụ tối thiểu một suất sản phẩm sữa béo
mỗi ngày sẽ có ít hơn nhiều những vấn đề vô sinh do phóng
noãn,so với các phụ nữ tiêu thụ tối đa một suất sữa mỗi
tuần.Theo các tác giả,sự tiêu thụ lactose, calcium, phosphore và
vitamine D không có một mối liên hệ nào với những vấn để sinh
sản liên quan với phóng noãn.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/3/2007)
8. NGUY CƠ KHẢ DĨ DO
SỬ DỤNG ASPIRIN
Một nghiên cứu mới đây báo cáo
rằng những người sử dụng hàng ngày aspirin, acetaminophen hoặc
các thuốc chống viêm như ibuprofen có thể sẽ có nguy cơ cao hơn
một chút bị cao huyết áp.
Sau khi chỉnh lý các yếu tố như tuổi tác,hút thuốc,thể dục và
bệnh sử gia đình về cao huyết áp,các nhà nghiên cứu đã nhận thấy
rằng so với những người không sử dụng,những người dùng hoặc
acetaminophen hoặc các thuốc chống viêm 6 hoặc 7 lần mỗi tuần,sẽ
làm gia tăng nguy cơ bị cáo huyết áp 1/3.Sử dụng aspirin làm gia
tăng nguy cơ 26%.Công trình nghiên cứu này được công bố trong số
28/2 của The Archives of Internal Medicine.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát trên hơn
16.000 người vào đầu năm 2000. Không có ai bị cao huyết áp vào
lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và tuổi trung bình của những
người tham gia là 65.Trong vòng 4 năm sau đó có 1968 trường hợp
bị cao huyết áp mới xảy ra được báo cáo.Cơ chế chính xác để giải
thích các kết quả này vẫn không được biết nhưng các tác giả vạch
ra các tác dụng khác nhau của các thuốc chống đau này trên các
huyết quản.
B.S Gary C.Curhan,tác giả cao niên của công
trình và là BS của Bệnh Viện Brigham and Women’s Hospital ở
Boston đã nói rằng những người có nguy cơ bệnh tim và đang dùng
aspirin mỗi ngày,nên tiếp tục uống thuốc này.Nhưng ông nói thêm:
« Những người không có nguy cơ bệnh tim cần hiểu rằng sẽ có thể
có nguy cơ nếu dùng các thuốc này một cách đều đặn »
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 15/3/2007)
9. TỰ TỬ ĐƯỢC NHẬN THẤY ÍT XẢY RA HƠN NƠI NHỮNG NGƯỜI BÉO MẬP
Nói rằng những người béo mập vui vẻ yêu
đời thì nghe như là một huyền thoại.Nhưng một nghiên cứu công bố
tuần này đã tìm thấy một mồi liên hệ rõ ràng giữa chỉ số khối
lượng cơ thể (BMI :Body Mass Index) cao và nguy cơ tự tử thấp.
Trong một công trình nghiên cứu kéo dài 16 năm, theo dõi hơn
45.000 nhân viên y tế nam,các nhà nghiên cứu đã nhận thấy sự
giảm đều đặn các trường hợp tự tử khi BMI gia tăng,ngay cả sau
khi đã kiểm tra các biến số như nghiện thuốc, chế độ ăn
uống,hoạt động vật lý, tình trạng gia đình và nghiện rượu.
Có 131 trường hợp tự tử trong suốt thời gian
nghiên cứu.So với những người có BMI ở mức 20 % thấp nhất thì
những người ở mức 1/5 cao nhất có it nguy cơ tự tử đến 60%.
« Đó là một mối liên
hệ rõ rệt gây ngạc nhiên ».Kenneth Mukamal,tác giả lãnh đạo công
trình và phó giáo sư y khoa thuộc Đaị Học Havard đã phát biểu
như thế. « Nhưng mặc dầu chúng ta thấy rằng những người càng béo
mập thì càng ít có khuynh hướng tự tử, mặt khác có rất nhiều
nghiên cứu khác liên kết sự béo phì với tình trạng sức khỏe
kém.Lên cân không phải là phương cách tốt nhất để cải thiện sức
khỏe tâm thần của bất cứ ai.Tôi hy vọng rằng những khám phá này
sẽ cho một hiểu biết sâu sắc về các chiến lược mới để ngăn ngừa
tự tử »
Viết trong Thế
Archives of Internal Medicine,các tác giả gợi ý rằng BMI có thể
liên hệ đến tự tử qua nồng độ Insulin trong máu.Mà Insulin có
thể đóng một vai trò trong sự xác định tính khí.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 15/3/2007)
10. UNG THƯ VÀ HOẠT
ĐỘNG THỂ LỰC
Hoạt động thể lực có
một hiệu quả thuận lợi đồng thời trên bình diện tâm thần và thể
xác nơi những người bị ung thư.Đó là kết quả của một nghiên cứu
được công bố bởi một nhóm nhà nghiên cứu người Anh.
Từ lâu chúng ta biết rằng hoạt động thể lực có một hiệu quả
thuận lợi trên các bệnh nhân bị bệnh tim.Hiện nay,các hoạt động
thể lực được đưa vào các chương trình phục hồi chức năng của các
bệnh nhân này.Trong BMJ,Nanette Mutrie (Glasgow) và các cộng sự
viên công bố kết quả các suy nghĩ của họ về ảnh hưởng thuận lợi
của hoạt động thế lực trên những người bị ung thư.Để trả lời câu
hỏi này,họ đã thực hiện một nghiên cứu trên 177 phụ nữ bị ung
thư vú ở giai đoạn sớm.Suốt trong 12 tuần lễ của chương trình
luyện tập và trong 6 tháng tiếp theo sau đó,các bệnh nhân thuộc
nhóm luyện tập cảm thấy khoẻ hơn cả trên bình diện tâm thần lẫn
thể xác,so với nhóm placebo tương ứng.Chất lượng cuộc sống của
những người theo chương trình luyện tập thể lực cũng tốt hơn.
Trong bài xã luận trên báo
BMJ,Julie Server nhấn mạnh rằng hoạt động thể lực có một hiệu
quả thuận lợi trên bình diện tâm thần của những bệnh nhân bị ung
thư nhưng không có tác dụng trên bình diện thể xác.Tuy nhiên các
tác giả chấp nhận rằng công trình nghiên cứu của họ có mặt hạn
chế.Tuy vậy,công trình này mở ra triển vọng khá phấn khởi để
biện minh cho sự theo đuổi các công trình nghiên cứu. Các tác
giả cũng chủ trương hội nhập hoạt động thể lực và huấn luyện vào
chương trình phục hồi sau khi điều trị ung thư vú.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/3/2007)
Bác
sĩ Nguyễn văn Thịnh
(20/3/2007)
Trở về Trang Chính
|