|
1/ CÁC
CUỘC VIỄN DU CỦA BẠCH HUYẾT.
Vào thế kỷ thứ 4 trước công
nguyên, Ptolémée 1er Soter (-367 đến -283), cựu tướng lãnh của
Alexandre Đại Đế và sau đó là vua của Ai Cập, đã biến Alexandrie
thành một kinh đô trí tuệ, nơi gặp gỡ của các kiến thức y học Hy
Lạp và Đông Phương. Pharaon cho phép
phẫu tích và như thế cho phép các nhân viên của trường y khoa
Alexandrie thực hiện nhiều khám phá cơ thể học và sinh lý học
quan trọng. Chính như thế mà các thầy thuốc Hy Lạp Erasistrate
de Céos và Hérophile de Chalcédoine đã từng gợi ý đến hệ bạch
huyết nhưng đã không đi xa hơn trong việc phát hiện.
Những khám phá này tiếc thay đã
không có một ảnh hưởng lên tư duy y học của thời kỳ đó vốn vẫn
chịu khuất phục bởi các lý thuyết của Aristote.
Mặc dầu không nổi bật, một chất dịch trong mờ dầu sao
cũng đã được đề cập đến nhiều lần suốt trong các thế kỷ tiếp
theo sau đó. Một vài lời sấm Hy lạp ám chỉ đến “ máu trắng ”
(sang blanc) và Galien đã nói về một thanh dịch (liquide séreux)
mà ông gọi là “ ichor ”.Vào cùng thời kỳ, các tác phẩm đề cập
một loại “ máu được thông khí ” (sang aéré) khác với máu tĩnh
mạch…tất cả những mô tả này có thể muốn ám chỉ bạch huyết
(lymphe), từ chữ latin limpidus có nghĩa là trong vắt (limpide),
trong (clair) và sáng (lumineux)
Nhưng bạch huyết có vẻ không làm quan
tâm lắm các thầy thuốc thời Thượng Cổ bởi vì họ không ngờ đến
tầm quan trọng của nó. Dạng vẻ không màu và việc khó phát hiện
có lẽ là những nguyên nhân của mối hững hờ này.
Vào thời Trung Cổ, thời kỳ mà các tiến bộ bị
kềm hãm lại bởi chủ nghĩa thanh giáo (puritanisme), người ta
cũng chẳng đề cập gì thêm hơn về chất dịch này.
CUỘC KHÁM PHÁ CỦA NGƯỜI Ý.
Vào đầu thế
kỷ 17, trong khi William Harvey cố gắng áp đặt quan điểm của
mình lên sự tuần hoàn máu, thì một thầy thuốc người Ý khám phá
ra chức năng của hệ bạch huyết.
Gaspare Aselli (Crémone, 1581 –
Milan 1625), khi đó là giáo sư cơ thể học ở Pavie và là phẫu
thuật viên của các quân đội Ý, đã thực hiện một chứng minh bằng
phẫu tích trên chó. Đột nhiên ông nhận thấy một hệ thống các sợi
dây (lacets) có màu xà cừ mà ban đầu ông đã lầm lẩn cho đó là
các dây thần kinh. Trong lúc phân vân, ông cắt một trong các dây
thừng (cordons) này, và thình lình một chất dịch hữu cơ màu
trắng chảy ra, mà trước đây ông đã chưa từng thấy bao giờ. Ông
gọi tên tập hợp các dây thừng này là venae lactea (veines
lactées, tĩnh mạch sữa) và cố gắng xác định sự tuần hoàn của nó.
Chúng ta ở vào năm 1622 và Aselli đã không dừng lại ở đó bởi vì
cũng vào năm đó, ông phát hiện các van bạch huyết (valvules
lymphatiques). Những khám phá này được thực hiện không phải là
không có va chạm. Cũng như trong trường hợp của Harvey, thầy
thuốc người Ý phải đương đầu với nhiều người chống đối, trong số
đó ông rất đỗi ngạc nhiên nhận thấy cả William Harvey, người
đương thời người Anh của ông ! Các công trình của Aselli tiếc
thay chỉ được công bố 2 năm sau khi ông mất trong De lactibus
seu lactis venis, quarto vasorum mesaraicorum genere novo
inventa và sự tuần hoàn của bạch huyết, còn được gọi là chyle,
từ chữ Hy lạp khulos (suc : dịch) đã không được mô tả một cách
chính xác trong tác phẩm này.
TỪ PECQUET ĐẾN... PEQUET.
Một thầy thuốc trẻ người Pháp, Jean
Pecquet ( 1622-1674), đến lượt mình cố gắng xác định chất bạch
huyết bằng cách dựa trên các công trình của người tiền thân của
mình. Ông dành một phần lớn các công trình nghiên cứu vào sự
tuần hoàn của bạch huyết. Trong tác phẩm của mình tựa đề Bàn về
sự tuần hoàn máu và sự chuyển động của bạch huyết (Dissertation
sur là circulation du sang et le mouvement du chyle) cũng như
trong Khái luận về sự cân bằng của các chất dịch ( Traité de
l’équilibre des liquides), ông mô tả lộ trình của bạch huyết và
sự trộn nhập của nó vào hệ tuần hoàn máu. Nhưng những xác nhận
này đã là đối tượng của nhiều tranh cãi và ông cũng đã phải chịu
nhiều tấn công của các đối thủ của mình, rất nổi danh như Guy
Patin và Jean Riolan. Một lần nữa, William Harvey có vẻ muốn dèm
pha khi xác nhận rằng “ không cần thiết cho là các mạch bạch
huyết là khác với các mạch khác ” .
Nhưng Pecquet không chán nản. Ông được ủng hộ bởi Madame
de Sévigné mà ông là thầy thuốc được ưa thích. Bà Sévigné đánh
giá ông về lối trò chuyện, phong cách thượng lưu và tính nghề
nghiệp và bà đã gọi ông một cách rất triều mến là " cậu bé
Pecquet của tôi " (mon petit Pecquet ). Những nhân vật khác
không thuộc giới y khoa cũng theo phe các « circulateurs » (
muốn nói những người môn đồ của lý thuyết của Pecquet).Trong số
những người ủng hộ Pecquet có Molière và Boileau, đã không ngại
ngùng chỉ trích công khai ( nhưng với vẻ dí dỏm) các “
anti-circulateurs ” ! Vua Mặt trời (Le Roi Soleil) cuối cùng
ủng hộ những người đổi mới và chính thức hóa những khám phá mới
bằng cách mở chức giáo sư cơ thể học ở Jardin du Roi năm 1672.
" Cậu bé Pecquet " bảo vệ ý kiến cho rằng có một bể chứa
(réceptacle) dịch bạch huyết trong lồng ngực, và chứng minh rằng
các mạch mang dịch bạch huyết đổ vào các mạch máu dưới đòn mà
không phải đi qua gan. Những công trình của ông còn đưa đến khám
phá chỗ giãn hình túi , nằm trước đốt sống thắt lưng thứ hai mà
ta biết dưới tên “ bể Pecquet ” (citerne de Pecquet). Bể Pecquet
không phải luôn luôn hiện diện ở người.
Dựa trên các nghiên cứu của riêng mình, được
thực hiện chủ yếu trên động vật, cũng như dựa trên các công
trình của Rubeck và Bartholin, Pecquet chứng minh hệ tuần hoàn
thứ ba này của cơ thể còn người cũng như sự chuyển động của máu,
sự thu tâm của tim và sức cản đàn hồi của các mạch máu.
Nhưng, mặc dầu là thầy thuốc giỏi,
Pecquet lại cho rằng rượu trắng ( péquet hay péket :
eau-de-vie parfumée au genièvre ) là một thuốc chữa bách bệnh và
đã không do dự kê đơn thường xuyên cho mình phép điều trị này.
Có lẽ do uống quá thường xuyên, nên theo như lời của vài nguời
đương thời, rượu là nguyên nhân tử vong của ông ngày 26 tháng
hai năm 1674. Mặt khác, một trong những người đương thời đã viết
về ông rằng “ rượu trắng đốt cháy ruột ông và làm ông bị chết
sớm , nếu không ông đã có thể sử dụng những năm tháng của cuộc
đời để phục vụ một cách hữu ích cho nhân loại ” .
LÁ GAN BỊ MẤT CHỨC.
Mặc dầu nhà cơ thể học người Đan
Mạch Thomas Bertelsen, được gọi là Bartholin ( 1616-1680), không
phải luôn luôn tỏ ra quý mến Pecquet, dầu vậy ông đã xác nhận
luận đề và các công trình khám phá của người đồng nghiệp người
Pháp của mình. Năm 1652, ông chích chất nhuộm màu vào trong hệ
bạch huyết (réseau chylifère) và như vậy thu được những thông
tin cần thiết để xác định các phân nhánh, nghĩa là các mạch. Ông
đã mô tả hệ thống bạch huyết, một hệ thống hoàn toàn riêng biệt
mà ông gọi tên một cách dứt khoát là “ hệ bạch huyết ” (système
lymphatique).
Trong tác phẩm của mình, dành cho Frédéric III của Đan
Mạch, ông đã nói : “ Thân thể của chúng ta có một hệ thống tháo
thải cũng giống hệt như thành phố Copenhague ”.
Bartholin sữa lại quan điểm của
Galien về tác dụng sinh huyết của gan và như thế tuyên bố kết
thúc sự ngự trị của lý thuyết về các khí chất của Hippocrate.
DẤN LƯU BẠCH HUYẾT ( DAINAGE LYMPHATIQUE).
Nhưng phép điều trị không phải vì
vậy mà được cải thiện. Thật vậy, vai trò của bạch huyết trong sự
tiêu hóa và hệ máu chưa được phát hiện và các khám phá đã không
được khai thác đúng mức. Phải chờ đợi hơn một thế kỷ để các bước
tiến bộ mới được ghi nhận.
Năm 1883, một tập bản đồ tuần hoàn
bạch huyết được công bố. Các bản đồ này bao gồm các tranh mô tả
về các bạch huyết quản và đường đi của chúng cũng như các vùng
hạch. Ít lâu sau đó nhiều tiến bộ khác được thực hiện trong lãnh
vực này. Năm 1892, nhà ngoại khoa người Áo Winiwater đã thực
hiện những xoa nắn đầu tiên nhằm làm tan biến các phù nề sau các
phẫu thuật ngoại khoa của ông. Tuy vậy, chính một người Đan Mạch
khác là nguồn gốc của dẫn lưu bạch huyết (drainage lymphatique).
Emil Vodder ( 1896-1986), nhà vật lý trị liệu, sống ở Cannes với
gia đình, đã hiệu chính một phương thức dẫn lưu bạch huyết bằng
tay ( DLM : drainage lymphatique manuel). Với sự giúp đỡ của vợ
là Astrid, ông đã hoàn thiện kỹ thuật và mở viện chuyên khoa đầu
tiên ở Copenhague vào năm 1942. 30 năm sau, một trường đầu tiên
ra đời ở Walchsee (Áo). Mặc dầu thế, Emile Vodder cảm thấy khó
khăn trong việc làm công nhận tính chất có căn cứ của kỹ thuật
của mình. Năm 1981, sau cùng DLM được công nhận như là một phép
trị liệu chính thức.
Nguồn : SEMPER ( 3/2008 )
2/ SỰ GÂY MÊ BẰNG XÉNON ĐẦU TIÊN Ở PHÁP
Chất khí trơ này duy trì sự gây mê
và thải rất nhanh qua các lá phổi.
Sau 3 giờ rưởi trải qua ở phòng mổ
để được đặt một prothèse của mắc cá chân, bệnh nhân, 72 tuổi,
thức dậy trong vòng 5 phút, nhanh hơn nhiều so với một gây mê cổ
điển, nhưng cũng với một sự lanh lợi khác thường. Bí quyết của
sự thức giấc nhanh chóng và thoải mái này ?
Đó là xénon. Được sử dụng trong nhiều bóng
đèn pha xe hơi, chất khí này, hiện diện với các lượng vô cùng
nhỏ trong không khí mà chúng ta thở ( 0,000009%) từ nay cũng có
mặt trong phòng mổ. Và việc sử dụng này chỉ có trong hai trung
tâm ở Pháp, ở Nime và Bordeaux.
“ Đây không phải là chuyện thường ngày
mà chúng ta có được một sự đổi mới trong khoa gây mê ”, G.S
Jacques Ripart, phụ trách khoa gây mê đau đớn ở CHU Nimes, một
trong những người đầu tiên sử dụng xénon, đã nhấn mạnh như thế.
“ Khí gây mê này rất là có lợi đối với những phẫu thuật kéo dài
bởi vì chất gây mê không tích lũy trong các mô mỡ như những chất
gây mê cổ điển ”.
Những hiệu quả gây mê của
xénon, được khám phá do tình cờ, đã bắt đầu được sử dụng trong
những năm 1950 sau các công trình của Nga và Đức. “ Nhưng chỉ
trong những năm 1990 mà những nghiên cứu lâm sàng mới thật sự
bắt đầu ” , Frédéric Mamouroux, phụ trách Air Liquide, nhóm đã
thương mãi hóa cách nay ít lâu “ chất khí thuốc ” (gaz
médicament) này, ở Pháp cũng như trong 12 nước châu Âu, đã xác
nhận như thế. Ở Pháp, khoảng 30 bệnh nhân đã được gây mê bởi
xénon, hơn 200 ở Đức, là nơi xénon đã được sử dụng từ hai năm
nay.
Cần xác định rõ : xénon không được
sử dụng để phát khởi một sự gây mê mà là để duy trì nó. Xénon
cũng được cho với oxy, nhờ một thiết bị đặc biệt điều hòa một
cách chính xác nồng độ của xénon trong hỗn hợp được hít vào, qua
trung gian một ống được đặt trong khí quản của bệnh nhân. Sau đó
khí tác động lên các thụ thể não bộ trung ương và củng cố sự
buồn ngủ. Khác với các chất gây mê cổ điển ( fluranes và các
xuất, protoxyde d’azote), xénon, khí trơ, không được chuyển hóa
bởi cơ thể và được thải ra nhanh chóng qua đường phổi. Do đó “
một sự thức dậy nhanh chóng và một sự hồi phục dễ dàng sau phẫu
thuật ” , G.S Ripart đã xác nhận như thế. Một ưu thế khác :
xénon không gây hạ huyết áp.
Nhưng những gì hiếm thường đắt giá
: phí tổn của xénon 5 đến 10 lần cao hơn phí tổn của một thuốc
gây mê cổ điển. Một hạn chế đáng kể cho việc sử dụng thường quy.
“ Chất thuốc gây mê này sẽ không được sử dụng một cách đại trà.
Phải dành thuốc gây mê xénon khi có những nguy cơ tích lũy
thuốc, đối với những phẫu thuật kéo dài, nơi các người già và
béo phì ”. Một hạn chế khác : tính nhớt của xénon làm thuốc lưu
thông khó khăn trong các phế nang. Hậu quả : không nên sử dụng
xénon trong trường hợp các thương tổn phổi nghiêm trọng
( hen phế quản) và nơi những người nghiện thuốc lá nặng.
Nguồn :
SCIENCES ET AVENIR ( 5/2008 )
3/ UNG THƯ VÚ
: COI CHỪNG CÁC ACIDE BÉO.
Các acide
béo không bảo hòa ( acides gras insaturés) được tiếng là có lợi
cho sức khỏe trừ các “ trans ” làm gia tăng nguy cơ tim mạch.
Trong thiên nhiên các acide béo “ trans ” hiện diện với lượng
nhỏ trong thịt và các sản phẩm sữa
nhưng với số lượng lớn trong các sản phẩm
công nghiệp (bánh mì, viennoiseries, chip, bánh ngọt, pizzas
..). Một công trình nghiên cứu của Inserm và viện Gustave-
Roussy, vừa chứng tỏ rằng những nồng độ cao của acide béo “
trans ” cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bị ung thư vú.
Nguồn : PARIS
MATCH ( 7/5-14/5/2008 )
4/ CÁC TÍNH
CHẤT CHỐNG VIRUS CỦA BƯỞI.
Một nhóm
nghiên cứu của Đại Học Havard vừa khám phá ra rằng nước vắt của
trái bưởi có những tính chất chống virus mạnh mẽ, nhất là đối
với virus của viêm gan C. Theo các nhà nghiên cứu, lượng virus
này trong các tế bào bị nhiễm trùng của gan có thể được thu giảm
70 đến 90%. Chính nargerine, một thành phần của bưởi, có hiệu
quả chống virus này.
Nguồn : PARIS MATCH (
22/5-28/5/2008 )
5/ CÀ PHÊ
KHỔNG LÀM TĂNG CAO HUYẾT ÁP.
Về mặt nhất thời, cà phê gây nên
một cao huyết áp nhẹ. Tác dụng này thấy rõ ngay sau khi uống cà
phê và có thể so sánh với tác dụng của nhiều tình huống thông
thường của đời sống hàng ngày.Trái lại, các nghiên cứu đã chứng
tỏ rằng về lâu về dài, cà phê không ảnh hưởng (hoặc ít) lên
huyết áp. Các kết quả của một phân tích méta 16 công trình
nghiên cứu so sánh tác dụng của cà phê và tác dụng của caféine,
đã chứng tỏ rằng caféine gây nên cao huyết áp động mạch quan
trọng hơn cà phê. Từ các công trình nghiên cứu này người ta suy
ra rằng tác dụng của caféine rất có thể được bù trừ bởi những
thành phần khác của cà phê như potassium, magnésium hay các
polyphénols. Những công trình nghiên cứu khác còn đưa đến kết
luận rằng cà phê không có tác dụng hoặc có tác dụng rất thu hẹp
lên huyết áp. Vậy, một sự tiêu thụ bình thường cà phê không gây
nên vấn đề về huyết áp : không cần thiết phải áp đặt những hạn
chế lên bệnh nhân cao huyết áp tiêu thụ cà phê một cách bình
thường. Mặc dầu vậy vẫn khôn ngoan khuyên những người thái quá
nên uống cà phê có chừng mực.
Nguồn : LE
MAGZINE DES GLEMS ( 4/2008 )
6/ TỪ SARS
ĐẾN VIRUS CÚM GIA CẦM : MỘT CÁI LÒ CỦA CÁC BỆNH VIRUS.
Tiểu lục địa là chỗ chứa và sản
xuất một phần lớn các biến dị siêu vi trùng của các bệnh mới
phát sinh (maladies émergentes)
Đối với các chuyên gia về virus
học, Đông Nam châu Á là một cái lò sinh ra các bệnh mới phát
sinh này : virus của bệnh SARS, các bệnh dịch cúm xảy ra theo
mùa hàng năm, virus Nipah gây một bệnh viêm não chết người,
flavivirus gây viêm não Nhật Bản, và dĩ nhiên virus H5N1, có khả
năng gây bệnh rất cao, là nguyên nhân của dịch cúm gia cầm phát
sinh ở Hồng Kông và lần lượt đi vòng quanh thế giới. Ngày 18
tháng 4 năm 2008, tạp chí Hoa Kỳ Science đã công bố các công
trình của các BS Derek Smith và Colin Russel của đại học
Cambridge (Massachusetts), đã phân tích 13.000 mẫu nghiệm virus
H3N2, virus gây bệnh cúm xảy ra theo mùa ở người. Các nhà nghiên
cứu chứng tỏ rằng các giống gốc mới xuất phát độc nhất từ Viễn
Đông ( Trung Hoa, Nhật Bản) hay từ vùng Đông Nam Á (Việt Nam,
Nam Dương). Các virus này sau đó lan tràn ra phần còn lại của
thế giới, cần từ 6 đến 9 tháng để đến châu Âu và Bắc Mỹ. Mỗi
trận dịch cúm hàng năm giết chết từ 250.000 đến 500.000 người.
Cũng có
virus Nipah, được khám phá năm 1999 ở Mã Lai : nhìn lại về quá
khứ, ngày nay người ta biết rằng virus này đã là nguyên nhân của
11 trận dịch từ năm 1988, ở Bangladesh, ở Ấn Độ, ở Mã Lai và ở
Singapour (đã gây nên 242 nạn nhân trên 493 trường hợp được khai
báo). Virus Nipah gây nên, trong vòng 4 đến 18 ngày, sau khi
tiếp xúc kéo dài giữa người và heo bị nhiễm trùng, một hội chứng
cúm (syndrome grippal) với sốt cao, đau cơ, có thể tiến triển
đến viêm não với co giật và hôn mê : 50% các trường hợp lâm sàng
được khai báo đều tử vong. Ổ chứa tự nhiên của virus là các con
dơi ăn quả, sống ở Úc, Nam Dương, Phi Luật Tận và trong các đảo
của Thái Bình Dương.
ĐI VÒNG QUANH THẾ GIỚI BẰNG MÁY BAY.
Virus của bệnh SARS, được
khám phá ở Trung Quốc năm 2002, được che dấu bởi chính phủ Trung
Quốc trong hơn 1 năm và đã đi vòng quanh thế giới bằng máy bay
năm 2003, đã giết chết 916 người và làm bị bệnh 8.500 người khác
chỉ trong một trận dịch. Đó là một virus mới thuộc họ
coronavirus mà hiện nay chúng ta không biết được ổ chứa động vật
: virus đã được tìm thấy nơi các con cầy (civettes), các loài
gậm nhấm hoang dại được bán để tiêu thụ trên các chợ ở Á Châu.
Glaxo Smith Kline và Viện Pasteur từ năm 2003 đang thực hiện
việc hiệu chính một vaccin chống lại virus của SARS.
Một virus khác xuất phát từ Trung Quốc và Thái Lan,
bệnh Dengue đang dần dần mở rộng tầm ảnh hưởng trên thế giới.
Được truyền bởi một loại muỗi thuộc loại Aedes, bệnh cúm nhiệt
đới này được mô tả năm 1779, ngày xua chỉ được giới hạn ở Trung
Quốc (440.000 trường hợp năm 1980) hoặc ở Thái lan (200.000
trường hợp năm 1987). Nhưng từ đó bệnh đã không ngừng lan đến Ấn
Độ dương, Nam Thái bình dương ( 32.800 trường hợp ở Tahiti và
Moorea, Polynésie thuộc Pháp năm 2001) và nhất là ở Châu Mỹ La
tinh, nơi đây các trường hợp mỗi năm được nhân lên 60 lần từ năm
1984 đến 1993. Sốt xuất huyết (1% các trường hợp Dengue) thường
gây tử vong : không có một vaccin nào hoặc một điều trị đặc hiệu
nào chống lại bệnh Dengue cả.
Nguồn : LE FIGARO (
19/5/2008 )
7/ BẬT ĐÈN XANH CHO VACCIN CHỐNG BỆNH
CÚM GIA CẦM CỦA BỈ.
Vaccin tiền toàn dịch (vaccin
prépandémique) chống cúm gia cầm H5N1 đã đến.
Cơ quan
dược phẩm châu Âu đã cho phép thương mãi hóa vaccin tiền toàn
dịch (vaccin prépandémique) đầu tiên của hãng GSK.
Tin vui đối với hãng chế tạo vaccin
“ GSK Biologicals ” của Bỉ. Emea, Cơ quan dược phẩm châu Âu, đã
đồng ý cho phát hành vaccin tiền toàn dịch chống bệnh cúm gia
cầm của GSK. Một sản phẩm được thương mãi hóa dưới tên
“ Prepandrix ” và dành cho những người tuổi từ 18 đến 60.
Có hai loại vaccin có thể được sử
dụng trong trường hợp một trận toàn dịch ( pandémie), ví dụ do
sự biến dị của virus cúm gia cầm thành một virus có một tác động
lên con người.
Các vaccin toàn dịch (vaccins pandémiques) được sản
xuất ngay khi trận toàn dịch cúm gia cầm xảy ra. Khi đó người ta
sử dụng giống gốc nguyên nhân đặc hiệu của trận toàn dịch để chế
tạo thuốc chủng. Dĩ nhiên việc chế tạo này cần nhiều tháng.
Vaccin “ tiền toàn dịch”
(prépandémique), như tên của nó chỉ rõ, được sản xuất trước trận
toàn dịch cúm gia cầm.
Loại vaccin này được chế tạo trên cơ
sở virus của cúm gia cầm H5N1 hiện nay đang lưu hành và khả dĩ
gây nên một trận toàn dịch trong trường hợp biến dị và tái phối
hợp với một virus người. Trái lại, vaccin cũng có khả năng gây
nên sự phát triển một bảo vệ miễn dịch chống lại các giống gốc
biến dị tiềm tàng của virus.
HỆ THỐNG CHẤT HỔ TRỢ (ADJUVANT) MỚI.
Trong
trường hợp vaccin tiền toàn dịch sẽ được phân phối trong 27 nước
của Liên Hiệp Châu Âu, đó là một sản phẩm được chế tạo với một
hệ thống chất hỗ trợ (adjuvant) mới
“ Các chất hỗ trợ (adjuvant) này
gây nên một đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ với một liều lượng kháng
nguyên thu nhỏ. Đáp ứng này đồng thời vừa kéo dài vừa hoạt động
chống lại một loạt các giống gốc của virus H5N1 ”
Thuốc chủng sử dụng kháng nguyên
của giống gốc H5N1 A/Vietnam/1194/04, được khuyến nghị bởi Tổ
chức y tế thế giới. Trong lúc thử nghiệm lâm sàng, thuốc chủng
này đă làm gia tăng ít nhất gấp 4 lần các kháng thể hiệu quả
trong huyết thanh nơi 77% đến 85% các người được tiêm chủng và
chống lại 3 loại của giống gốc H5N1
Một đáp ứng miễn dịch càng đáng lưu
ý vì nó chống lại các biến thể của virus H5N1 hiện đang lưu hành
ở châu Á, châu Âu và châu Phi.
Nguồn :
LE SOIR ( 20/5/2008 )
8/ CÁC GIÁO
SƯ GALLO VA MONTAGNIER MONG MUỐN CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG BỆNH SIDA
ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG.
Từ khi khám phá ra virus bệnh sida,
cách nay 25 năm, căn bệnh này đã gây nên 25 triệu nạn nhân trên
thế giới.
Các Giáo sư Luc Montagnier và
Robert Gallo, các nhà khám phá virus sida chỉ cách nhau vài
tháng, hôm qua, vào lúc khai mạc của cuộc hội thảo ở Paris nhân
lễ kỷ niệm năm thứ 25 của việc khám phá virus này, đã phàn nàn
về sự chậm chạp của các tiến bộ trước trận dịch bệnh sida.
Lễ kỹ niệm này không phải là một “
lễ ca ngợi ” (célébration) mà là một “ lễ tưởng niệm ”
(commémoration), bởi vì virus vẫn luôn luôn còn đó, giáo sư
người Pháp Luc Montagnier đã lấy làm tiếc khi phát biểu như vậy.
Ông và nhóm nghiên cứu của ông của Viện Pasteur đã thực hiện
những mô tả đầu tiên về virus sida trong tạp chí Science, ngày
20 tháng 5 năm 1983.
“ Đúng ra tôi ước mong cử hành với qúy vị việc kết
thúc bệnh Sida, hơn là lễ kỷ niệm lần thứ 25 khám phá virus này
”, ông đã tuyên bố như vậy trước nhiều trăm chuyên gia họp ở
Viện Pasteur.
Nhà sinh học nổi tiếng sau đó
truớc báo chí, đã lấy làm tiếc rằng “ sự việc
không tiến triển nhanh hơn ” và rằng các nhà
nghiên cứu không có tinh thần “đổi mới hơn ”. “ Chúng tôi không
thỏa mãn ”, và hy vọng trong một thời gian không lâu nữa một
vaccin điều trị nhằm phục hồi hệ miễn dịch sẽ được khám phá.
Giáo sư người Mỹ Robert Gallo,
người đã xác nhận, cùng với nhóm nghiên cứu của ông thuộc
National Cancer Institute để Bethesda, sự phân lập virus vào năm
1984, về phần mình, đã lấy làm tiếc cho các thử nghiệm quy mô
lớn của vaccin. “ Đã có những tiến bộ lớn, nhưng cũng có những
sai lầm lớn, và còn có nhiều việc để làm ”.
Cả hai cũng đã nhấn mạnh rằng các căng thẳng ngày xưa,
và những tranh cãi quanh quyền tác giả của công cuộc khám phá
virus bệnh sida là đã thuộc về dĩ vãng xa xăm. “ Chúng tôi hiện
nay là đồng nghiệp và là bạn ” , BS Gallo đã đảm bảo như vậy,
cho rằng “ sự ganh đua dẫn đến sự sáng tạo ”
Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne
Bachelot, về phần mình, đã lấy làm tiếc rằng “ hôm nay, vào giờ
phút trận dịch đã đốn ngã 25 triệu người, vẫn còn có bài diễn
văn vạch mặt chỉ tên ”
ƯU TIÊN LỚN
Theo bà bộ trưởng, công cuộc nghiên
cứu bệnh sida “ mang những hy vọng lớn ” vẫn là “ ưu tiên lớn ”
của Bộ y tế. Bà cũng đã ghi nhận rằng cần phải huy động để săn
sóc bệnh nhân và bảo vệ những quyền lợi của họ.
Về phần mình, Jean-François
Delfraissy, giám đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida
(ANRS) đã tiên đoán rằng căn bệnh này sẽ vẫn là trận dịch của
thế kỷ XXI và ông đã lợi dụng lễ tưởng niệm này để kêu gọi chính
quyền tiếp tục duy trì các kinh phí về nghiên cứu bệnh Sida.
Nguồn : LE FIGARO ( 20/5/2008 )
9/ VACCIN
CHỐNG BỆNH ZONA.
ACIP ( Advisory committe on
immunization practices) vừa đưa việc tiêm chủng chống lại bệnh
zona vào trong các khuyến nghị chủng ngừa. Sự tiêm chủng zona
được thực hiện nhờ một vaccin sống được làm giảm độc lực, chống
lại virus herpès zoster (VHZ). Đây là lần đầu tiên ACIP đưa ra
một lời khuyến nghị về việc sử dụng một virus sống được làm giảm
độc lực trong việc ngăn ngừa các nhiễm trùng bởi VHZ và những
biến chứng của chúng như zona. Vaccin đã được chấp thuận bởi FDA
ngày 25 tháng 5 năm 2006.
Cần nhắc lại rằng zona không phải
là một bệnh lành tính nơi người già hay người bị suy giảm miễn
dịch. Bệnh xảy ra là do sự phục hoạt của VHZ vốn bị nhiễm trong
khi bị bệnh thủy đậu. Khoảng cứ ba người thì có một phát triển
bệnh zona trong suốt cuộc đời mình, điều này ở Hoa Kỳ thể hiện 1
triệu trường hợp mỗi năm. Zona thường có biến chứng là những cơn
đau sau khi bị bệnh (douleurs postzostériennes), một bệnh mãn
tính gây suy kiệt khả dĩ kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều
năm. Những cơn đau này xảy ra trong 10% đến 18% các trường hợp.
Biến chứng khác : viêm kết mạc do herpès (kératite herpétique)
xảy ra trong 10 đến 25% các trường hợp zona và có thể dẫn đến
những cơn đau ở mặt kéo dài hay thường trực, cũng như mất thị
lực hoặc những vết sẹo ở mặt. Khoảng 3% các trường hợp zona cần
phải nhập viện và trong hầu hết các trường hợp là những bệnh
nhân bị suy giảm miễn dịch. Một điều trị sớm bằng aciclovir,
valaciclovir hay famciclovir cho phép làm giảm cường độ và thời
gian của các cơn đau sau zona. Trong vài trường hợp cần điều trị
bằng corticoides, cho những thuốc giảm đau cổ điển hay đặc hiệu,
hoặc các thuốc chống trầm cảm.
Vaccin chống VHZ được ACIP khuyến nghị nơi các bệnh nhân
trên 60 tuổi không có chống chỉ định, kể cả những người đã là
nạn nhân của zona hay có một bệnh mãn tính.Vaccin không được chỉ
định để điều trị zona cấp tính, hoặc để ngăn ngừa những cơn đau
nơi các bệnh nhân bị bệnh zona.
Nguồn : LE JOURNAL DU
MEDECIN ( 23/5/2008 )
10/ GIỚI TÍNH CỦA EM BÉ ĐƯỢC BIẾT NGAY Ở THÁNG THỨ HAI.
Từ trước đến nay thường phải đợi
tháng thứ tư hoặc tháng thứ năm của thai kỳ mới có thể biết giới
tính của đứa trẻ được sinh ra đời . Một nhóm nghiên cứu người
Tây ban Nha thuộc Đại học Grenade đã hiệu chính một trắc nghiệm
di tuyền cho phép xác định giới tính của phôi thai từ tuần lễ
thứ 8 của thai kỳ, bằng cách tách ADN phôi thai hiện diện trong
huyết thanh của đàn bà có thai. BS
Sébastian Manzanares và các cộng sự viên đã cho 120 phụ nữ có
thai chịu một trắc nghiệm lâm sàng. Phương pháp đã tỏ ra có hiệu
quả 98%. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mặc dầu trắc
nghiệm có thể được thực hiện ngay tuần lễ thứ 6 của thai kỳ, tuy
vậy kỹ thuật rõ ràng đáng tin cậy hơn từ tuần lễ thứ 8. Trong
thời kỳ thai nghén, khoảng 3,4 và 6,2% ADN toàn thể tự do trong
huyết thanh của người mẹ có nguồn gốc phôi thai. Như thế chỉ cần
một mẫu nghiệm máu ngoại biên của người mẹ cũng đủ để thực hiện
trắc nghiệm. Đối với các tác giả, kỹ thuật của họ sẽ mở ra các
khả năng mới trong lãnh vực chẩn đoán tiền sinh không xâm nhập
(diagnostic prénatal non invasif).
Nguồn : LE
JOURNAL DU MEDECIN ( 20/5/2008 )
BS NGUYỄN
VĂN THỊNH
(
25/5/2008)
Trở về Trang Chính
|