|
1/ KỂ NHỮNG NGUYÊN NHÂN
CỦA NGỘ ĐỘC THỨC ĂN
- Ngoại độc tố được sản xuất bởi vi sinh
vật
- Các vi sinh vật ( vi khuẩn, nấm,
virus, ký sinh trùng) (được xếp loại thành xâm nhập ( invasive
), không xâm nhập ( noninvasive ) hoặc sinh độc tố (
toxin-producing)
- Các chất hiện diện trong thức ăn một
cách tự nhiên ( amatoxin (nấm), dinoflagellates hay
thallophytes)
2/ MỨC ĐỘ LƯU HÀNH CỦA NGỘ ĐỘC THỨC
ĂN ? CÓ GÂY CHẾT NGƯỜI KHÔNG ?
Từ năm
1996 đến 1997, người ta ước tính ở Hoa Kỳ có 76 triệu trường hợp
bệnh do ngộ độc thức ăn (food-borne illness) đưa đến 325.000 lần
nhập viện và 5000 tử vong. Những nguyên nhân do vi khuẩn dẫn
đầu của tử vong do thức ăn là salmonella không phải thương hàn
và listeria monocytogenes.
3/ KỂ NHỮNG NGUYÊN NHÂN
DẪN ĐẦU CỦA BỆNH DO NGỘ ĐỘC THỨC ĂN ?
- Siêu vi trùng Norwalk và các siêu
vi trùng tương tự là nguyên nhân của 2/3 các trường hợp bệnh do
ngộ độc thức ăn.
- Các vi khuẩn gây bệnh thông thường
nhất là :
- Campylobacter jejuni
- Salmonella không phải thương
hàn (nontyphoidal)
- Clostridium perfringens
2/ LIỆT KÊ NHỮNG TRIỆU
CHỨNG THÔNG THƯỜNG CỦA NGỘ ĐỘC THỨC ĂN
- Nôn mửa
- Tiêu chảy
- Sốt nhẹ
- Đau bụng quặn
4/ BỆNH SỬ NÀO LÀM NGHĨ
ĐẾN NGỘ ĐỘC THỨC ĂN ?
Sự hiện diện của những triệu chứng
tương tự nơi những thành viên khác của gia đình hoặc những người
khác đã ăn cùng thức ăn hay uống cùng thứ nước, hiện diện máu
trong phân, và mới đây đi du lịch ở các nước kém phát triển hoặc
ở vùng núi. Những điểm khác trong bệnh sử bao gồm tiến triển của
bệnh (cấp tính, bán cấp tính, mãn tính), thức ăn vừa mới được ăn
vào, những bệnh lý nội khoa khác ( tình trạng HIV, cao huyết
áp), các phẫu thuật bụng trước đây, bệnh sử về hoạt động tình
dục và các động vật nuôi trong nhà.
5/ CÁC DẤU CHỨNG VẬT LÝ THÔNG THƯỜNG
?
Nói
chung bụng mềm và rất ít nhạy cảm đau (tender) khi ấn chấn,
không có dấu hiệu phúc mạc ( peritoneal signs ). Nhu động ruột
nghe được ( bowel sounds) có thể tăng hoạt động hoặc bình
thường, và máu có thể hiện diện trong phân.
6/ CÁC DẤU CHỨNG VẬT
LÝ NÀO LÀ KHÔNG ĐIỂN HÌNH TRONG NGỘ ĐỘC THỨC ĂN ?
Các vùng bụng nhạy cảm đau
(abdominal tenderness) nằm riêng rẻ, các dấu hiệu phúc mạc ,
phân có máu rõ rệt hoặc đại tiện máu đen (melena) là những dấu
hiệu cảnh cáo cần phải thăm dò hơn nữa, bao gồm hội chẩn ngoại
khoa hoặc chuyên khoa tiêu hóa. Sốt cao không phải là một đặc
tính thông thường của tiêu chảy do vi khuẩn (bacterial diarrhea)
ngoại trừ bệnh Shigella ( shigellosis )
7/ CHẨN ĐOÁN PHÂN
BIỆT TIÊU CHẢY GÂY NÊN BỞI VI TRÙNG XÂM NHẬP VÀ KHÔNG XÂM NHẬP
Các vi khuẩn xâm nhập niêm mạc (
Escherichia coli, Salmonella, Shigella, Campylobacter và
Yersinia) gây nên tiêu chảy với phân chứa niêm dịch (mucoid) và
có máu. Các nội độc tố (enterotoxin) được sản xuất bởi các vi
sinh vật khác ( siêu vi, Vibrio cholerae, E.Coli, Staphylococcus
aureus, Clostridium perfringens, Clostridium difficile, và
Bacillus cereus ) ảnh hưởng lên bơm cyclic adenosine
monophosphate nằm trong niêm mạc ruột và gây nên tiêu chảy toàn
nước (watery diarrhea)
8/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ KHỞI ĐẦU TRÚNG ĐỘC
THỨC ĂN Ở PHÒNG CẤP CỨU.
Khi bệnh
sử và khám vật lý đã được thực hiện và chẩn đoán là viêm dạ dày
ruột (gastroenteritis) ( bất kể là nguyên nhân gì) thì mức độ
mất nước (dehydration) phải được đánh giá và điều trị. Cần đặc
biệt thận trọng nơi nhũ nhi và trẻ em; bệnh tiêu chảy vẫn tiếp
tục là một nguyên nhân dẫn đầu về tử vong của trẻ nhỏ trên toàn
thế giới, kể cả Hoa Kỳ. Có thể cần phải bồi hoàn nước với
crystalloid bằng đường tĩnh mạch. Bồi hoàn nước bằng đường miệng
(oral rehydration) được thực hiện bằng những dung dịch chứa
glucose đẳng trương (giúp làm dễ hấp thụ nước và sodium). Có thể
cho các thuốc chống nôn (emetics).
9/ XÉT NGHIỆM TỐT NHẤT ĐỂ
CHẤN ĐOÁN BỆNH TIÊU CHẢY XÂM NHẬP ( INVASIVE DIARRHEA ) ?
Sự hiện diện bạch cầu và máu ẩn (
occult blood ) trong phân là dấu hiệu tiên đoán nhạy cảm và đặc
hiệu về nguyên nhân vi khuẩn xâm nhập niêm mạc ( invasive
bacteria ) của chứng tiêu chảy và khả năng cấy phân dương tính
với vi khuẩn.
10/ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA KHÁCH DU LỊCH
LÀ GÌ ?
- Bệnh tiêu chảy của khách du lịch
(traveler’s diarrhea) là thuật ngữ thông thường để chỉ khởi đầu
chứng tiêu chảy nơi những bệnh nhân đi du lịch ở các nước khác,
thường là thuộc thế giới thứ ba, nơi có quần thế vi khuẩn ruột
(enteric flora) khác. 80% các trường hợp được gây nên bởi các vi
khuẩn có thể được truyền bằng đường phân-miệng. Các siêu vi
trùng gây bệnh cho 10% các trường hợp, và các ký sinh trùng gây
bệnh cho 2-3%. Trong những trường hợp còn lại thì nguyên nhân
không được biết.
- Trường hợp điển hình, bệnh tiêu chảy của khách du
lịch bắt đầu từ 5 đến 15 ngày sau khi đến, với tiêu chảy toàn
nước kèm theo khó chịu, chán ăn, đau bụng quặn, và đôi khi nôn
và mửa .Sốt và tiêu chảy có máu ít khi xảy ra. Enterotoxigenic
E.coli (ETEC) là nguyên nhân thông thường nhất của tiêu chảy của
khách du lịch.
11/ NHỮNG VI KHUẨN THÔNG THƯỜNG NHẤT
GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CỦA KHÁCH DU LỊCH ?
Enterotoxigenic
E.coli Enteroaggregative E.coli
Shigella sp.
Salmonella sp
Campylobacter jejuni Aeromonas sp
Plesiomonas sp.
Norwalk virus
Rotavirus Giardia
sp.
Cryptosporidium sp.
Cyclospora sp.
12/ MONTEZUMA’s REVENGE LÀ GÌ ?
Hầu hết
các trường hợp tiêu chảy của khách du lịch ( traveler’s
diarrhea, turista hay Montezuma ‘s revenge ) xuất phát từ
Mexico, Nam Mỹ hoặc châu Phi. Trong trường hợp điển hình, tiêu
chảy toàn nước bắt đầu vài ngày sau du lịch và thông thường
nhất gây nên bởi enterotoxigenic E.coli.
E.coli có thể gây ỉa chảy bằng ba
cơ chế :
(1) Giống sinh nội độc tố
(enterotoxigenic strains) sản xuất một độc tố gây nên tiêu chảy
toàn nước tương tự với tiểu chảy trong bệnh dịch tả.
(2) Giống sinh bệnh ruột
(enteropathogenic strains) sinh sống ở ruột, gây nên những đợt
tiêu chảy trong các nhà trẻ bệnh viện
(3) Giống xâm nhập niêm mạc ruột
(enteroinvasive strains) ( E.coli 0157 : H7) có thể gây nên
bệnh giống shigella với phân có máu và niêm dịch.
13/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ
BỆNH TIÊU CHẢY CỦA KHÁCH DU LỊCH.
Dịch và các chất
điện giải, cùng với các tác nhân làm giảm thể tích phân là trụ
cột của điều trị chứng tiêu chảy của khách du lịch. Bismuth
subsalicylate (Pepto-Bismol) làm giảm 50% số lần phân chưa thành
hình ; loperamide (Imodium) làm giảm tiêu chảy 80%. Đối với các
bệnh nhân không đáp ứng đối với các biện pháp này, hãy xét đến
việc điều trị bằng kháng sinh.Trimethoprim-sulfamethoxazole
(Bactrim) với liều lượng mạnh gấp đôi (160mg trimethoprim và
800mg sulfamethoxazole), một viên hai lần mỗi ngày, được khuyên
sử dụng đối với các khách du lịch đến các vùng không phải bờ
biển của Mexico trong mùa hè. Đối với các vùng khác và vào các
mùa khác, loại kháng sinh fluoroquinolone là thuốc được lựa
chọn. Ciprofloxacin (Ciproxine) (750mg), levofloxacin (Tavanic)
(500mg), norfloxacin (Zoroxin) (800mg), azithromycin (Zitromax)
(1000mg) có thể cho với liều lượng duy nhất ở phòng cấp cứu hoặc
với thời gian điều trị 3 ngày cho những bệnh nhân bị bệnh nặng
hơn.
14/ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA
KHÁCH DU LỊCH CÓ THẾ ĐƯỢC PHÒNG NGỪA NHƯ THỂ NÀO ?
- Các
khách du lịch nên chọn lựa, xử lý và làm cẩn thận thức ăn và các
sản phẩm sữa. Mọi vật đều phải được rửa kỹ và mới được nấu. Nước
đóng chai, đồ uống carbonate và bia đều an toàn ; nhưng cơm gạo
thì không!
- tránh nước không được đóng chai
(unbottled ), nước đá, và trái cây hay rau không thể bóc vỏ
15/ VAI TRÒ ĐIỀU TRỊ PHÒNG NGỪA
CHỐNG LẠI TIÊU CHẢY CỦA KHÁCH DU LỊCH ?
Những kháng sinh phòng ngừa có thể
thích hợp đối với những bệnh nhân có tình trạng sức khỏe kém đi
du lịch ở những vùng có nguy cơ cao ( high-risk areas). Các bệnh
nhân với bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease), bệnh đái
đường phụ thuộc insulin, bệnh tim ở các người già hoặc AID, có
thể xét đến việc điều trị bằng kháng sinh phòng ngừa, sử dụng
trimethoprim-sulfamethoxazole hay một fluoroquinolone, tùy thuộc
vùng mà họ đến để du lịch. Các khách du lịch không có bệnh tật
và muốn được phòng ngừa, có thể khuyên sử dụng bismuth
subsalicylate với liều lượng 2 viên, 4 lần mỗi ngày. Không nên
cho dược phẩm này không nên cho nơi các bệnh nhân đang được điều
trị bằng thuốc chống đông máu (anticoagulants) hoặc salicylates
hoặc nơi những người dị ứng với salicylates
16/ THỜI GIAN KHỞI
ĐẦU BỆNH LIÊN HỆ VỚI NGUYÊN NHÂN TRÚNG ĐỘC THỨC ĂN NHƯ THẾ NÀO ?
CÁC
NGUYÊN NHÂN TRÚNG ĐỘC THỨC ĂN
KHỞI ĐẦU TRIỆU CHỨNG VÀ
DẤU CHỨNG TÁC NHÂN
1 giờ Nôn, mửa, đau bụng quặn
- Ngộ độc kim loại
nặng (đồng, kẽm,
thiếc, cadmium)
1 giờ Dị cảm
(paresthesia) - Ngộ độc scrombroid
ngộ
độc sò hến, hội
chứng tiệm ăn tàu,
ngộ
độc niacin
1-6 giờ Nôn và
mửa - các độc
tố đã tạo
sẵn của tụ cầu
khuẩn và Bacillus
cereus.
2 giờ Mê sảng, tăng hoạt tính phó
giáo cảm, ăn phải nấm độc
ảo giác,
phản ứng disulfiram, hoặc viêm
dạ dày ruột
8-16 giờ đau bụng quặn, tiêu
chảy sản xuất in vivo
độc tố ruột
bởi
Clostridium
perfringens và
Bacillus cereus.
6-24 giờ đau bụng quặn, tiêu chảy, tiếp
theo ăn phải nấm độc
sau là suy
gan (Amanita
sp)
16-48 giờ sốt, đau bụng quặn, tiêu
chảy Salmonella,Shigella,
Clostridium
jejuni,
E.Coli xâm nhập
Yersinia
entero-
colitica,Vibrio para-
hemolyticus
16-72 giờ đau bụng quặn, tiêu
chảy -siêu vi Norwalk,
độc tố sản xuất
bởi Vibrio sp.
E.coli và đôi khi
Salmonella, Shi-
- gella, C.jejuni
18-36 giờ nôn, mửa, tiêu chảy,
liệt botulism
72-100 giờ tiêu chảy ra máu, không
sốt Enterotoxigenic E.
coli, serotype
0157 : H7
17/ VI KHUẨN GÂY TIÊU
CHẢY NÀO LIÊN KẾT VỚI CO GIẬT DO SỐT Ở TRẺ EM ?
Nhiễm trùng
Shigella nơi các trẻ nhỏ thường gây nên sốt cao với các cơn co
giật do sốt (febrile seizures) trước khi khởi đầu bệnh tiêu
chảy. Bệnh có thể rất nặng và tử vong do mất nước (dehydration)
có thể xảy ra trong vòng 8 giờ kể từ khi bắt đầu tiêu chảy. Đau
bụng và sốt thường đi trước tiêu chảy.Trong trường hợp điển
hình, phân có máu và có dạng nhầy (mucoid). Xét nghiệm máu cho
thấy bạch cầu tăng cao và chuyển sang trái rõ rệt.
18/ MÔ TẢ MỘT BỆNH
NHÂN TRÚNG ĐỘC THỨC ĂN DO SALMONELLA.
Trong trường hợp điển hình bệnh nhân đi tiêu chảy toàn nước và
đau bụng quặn, thường không có nôn mửa, xảy ra khoảng 12 đến 36
giờ sau khi ăn đồ ăn bị ô nhiễm. Các nguồn thức ăn gồm có trứng,
gà vịt, thịt, gà tây và sửa hoặc nước trái cây không được tiệt
trùng. Nếu như có nhiễm khuẩn huyết (bacteremia), các triệu
chứng toàn thân như sốt, ho, đau đầu và viêm màng não giả
(meningism) có thể xảy ra. Nên nhập viện và điều trị trường hợp
sốt trong ruột (enteric fever)
19/ CÓ NÊN ĐIỀU
TRỊ VIÊM DẠ DÀY RUỘT (GASTROENTERITIS) DO SALMONELLA KHÔNG ?
Trị liệu kháng sinh không nên được sử dụng một cách
thông lệ để điều trị viêm dạ dày ruột do Salmonella, thường là
một bệnh tự được giới hạn và kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Điều trị
bằng kháng sinh đã không được chứng tỏ là làm rút ngắn thời gian
bệnh; thay vì như thế điều trị kháng sinh liên kết với tỷ lệ tái
phát lâm sàng cao hơn và với tình trạng nguoi lành mang trùng
mãn tính.Tuy nhiên cần phải xét đến trị liệu kháng sinh để tránh
vi khuẩn huyết (bacteremia) trong một số trường hợp chọn lọc.
Mặc dầu vi khuẩn huyết xảy ra dưới 5% các bệnh nhân với viêm dạ
dày ruột do Salmonella, vài nhóm bệnh nhân được xác định là có
nguy cơ cao.
Trị liệu dự phòng nên được xét đến đối với : những bệnh
nhân bị suy giảm miễn dịch (immunocompromised), những bệnh nhân
có bất thường van tim hoặc thành tim, những bệnh nhân với vữa xơ
động mạch (atherosclerosis) hoặc phình (aneurysm) động mạch chủ
nghiêm trọng, và những bệnh nhân có bộ phận giả (prothèse).
Điều trị phòng ngừa cũng nên được xét đến đối với trẻ sơ sinh và
những bệnh nhân trên 50 tuổi. Nếu điều trị được thực hiện, thời
gian điều trị được khuyên là 48 đến 72 giờ hoặc cho đến khi bệnh
nhân hết sốt . Đối với những vi khuẩn nhạy cảm, quinolone,
trimethoprim-sulfamethoxazole, hoặc ngay cả amoxicillin có thể
được sử dụng. Salmonella đề kháng với những thứ thuốc này ngày
càng gia tăng
20/ VI KHUẨN NÀO TĂNG
SINH TRONG THỊT ĐƯỢC NẤU TRƯỚC HOẶC ĐƯỢC HÂM LẠI KHÔNG KỸ VÀ GÂY
NÊN ĐAU BỤNG QUẶN VÀ TIÊU CHẢY 12 GIỜ SAU KHI ĂN THỨC ĂN BỊ Ô
NHIỄM ?
- Clostridium
perfringens thường liên kết với các các cơ sở phục vụ ăn uống,
nơi thức ăn được nấu trước. Những triệu chứng thông thường gồm
có tiêu chảy, đau bụng và đôi khi nôn. Không có sốt và mửa.
- C. perfringens, một trực khuẩn kỵ khí gram dương sinh
bào tử, là nguyên nhân đứng hàng thứ ba của bệnh vi khuẩn truyền
bởi thức ăn ở Hoa Kỳ.Trúng độc thức ăn do C. perfringens gây
tiêu chảy và đau bụng quặn 8-16 giờ sau khi ăn phải thức ăn bị
nhiễm trùng, và biến mất trong vòng 24 giờ.Vi khuẩn này được tìm
thấy trong dạ dày ruột của các động vật (gồm cả người) và trong
thịt bò, gà vịt, và nước thịt bị ô nhiễm. Nướng thịt có thể
không giết chết các bào tử và giữ thịt ở nhiệt độ của phòng có
thể cho phép các bào tử nẩy mầm.Vi khuẩn tiết ra độc tố ruột (
CPE : clostridium perfringens enterotoxin) sau khi hình thành
bào tử ở dạ dày.
21/ NGỘ ĐỘC THỨC ĂN NÀO GÂY TRIỆU
CHỨNG TRONG VÒNG 1 ĐẾN 6 GIỜ ?
- Nội độc tố staphylococcus aureus
bền với nhiệt ; gây nôn mửa, đau bụng quặn và tiêu chảy nhẹ. Nội
độc tố này được sản xuất trong thịt làm nguội, thực phẩm, thức
ăn bơ sữa, hàng bánh mì được để trong thời gian lâu ở nhiệt độ
của phòng
- Nội độc tố bacillus cereus được tìm
thấy trong cơm và gây nên nôn mửa nhiều.
22/ KỂ TÊN CÁC VI
KHUẨN SẢN XUẤT CÁC ĐỘC TỐ ĐÃ TẠO SẴN ( PREFORMED TOXINS ) GÂY
NGỘ ĐỘC THỨC ĂN ?
Staphylococcus aureus, Bacillus cereus
và Clostridium botulinum.
23/ Một nhân viên thư ký 27 tuổi
tham dự buổi picnic của công ty.
Anh uống rượu vang đỏ pha
đường và xô đa ( badminton ) và ăn món trứng với rau trộn dầu
nhấm ( egg salad ). Sau đó vào đêm anh buộc phải hoãn lại một
buổi hẹn gặp bởi vì nôn mửa và ỉa chảy. Nguyên nhân khả dĩ nhất
gây trúng độc thức ăn nơi anh thư ký này ?
Bệnh sử gợi ý về một độc tố được tạo
thành trước (preformed toxin). Ngộ độc thức ăn do Staphylococcus
aureus gây nôn mửa với khởi đầu đột ngột (76% các bệnh nhân),
sau đó là tiêu chảy (77% các bệnh nhân) và đôi khi sốt ( 23% các
bệnh nhân ). Các thức ăn bị ô nhiễm bởi S.aureus chế tạo ra các
độc tố bền với nhiệt (A,B,C,D,E ), là nguyên nhân gây bệnh. Ngộ
độc thức ăn do S.aureus là nguyên nhân đứng hàng thứ 4 của bệnh
vi khuẩn truyền bởi thức ăn (bacterial food-borne illness ), mặc
dầu tỷ lệ mắc bệnh có lẽ bị đánh giá thấp do tiến triển nhanh
của ngộ độc này. Các triệu chứng thường biến mất trong vòng 12
giờ.
Những đợt ngộ độc đó S.aureus xảy ra chủ yếu
vào mua hè, liên quan với giăm bông (ham), đồ ăn gà vịt, món
trứng có rau trộn (egg salad) và bánh ngọt. Những người xử lý
thức ăn (foodhandler) thường là nguyên nhân của sự ô nhiễm ; tuy
nhiên để tăng trưởng vi khuẩn cần được tiếp xúc dài lâu với
nhiệt độ chung quanh. Các vụ bộc phát ngộ độc do S.aureus có thể
được xác định bằng cách cấy thức ăn gây ngộ độc cũng như phân và
chất mửa.
24 / Một thiếu niên 14 tuổi đến
phòng cấp cứu sau khi tiêu chảy ra máu và đau bụng quặn trong 2
ngày.Anh ta nhớ lại là đã ăn cách nay 1 tuần một hamburger khác
thường.
Bệnh nhân không sốt và xét nghiệm cho thấy schistocytes trên
kính phết ngoại biên và giảm tiểu cầu trong máu
(thrombocytopenia).Vi khuẩn nào đã gây nên bệnh tiêu chảy này ?
Enterohemorrhagic E.coli (EHEC) tiềm
phục trong 3 đến 8 ngày và khởi đầu gây tiêu chảy toàn nước, sau
đó đi chảy ra máu với đau bụng gia tăng sau 24 đến 48 giờ. EHEC
là vi khuẩn khong xâm nhập niêm mạc (noninvasive) và bệnh gây
nên bởi vi khuẩn là do Shiga toxin .Thủ phạm là serotype 0157:
H7 nhưng những serotype khác cũng có thể sản xuất Shiga toxin.
Tiêu chảy do EHEC thường tự giới hạn, kéo dài 1 đến 12 ngày,
nhưng có thể gây biến chứng là hội chứng huyết tán tăng urée máu
( hemolytic uremic syndrome : HUS ) trong 2-7% trường hợp, với
tỷ lệ mắc phải cao nhất ở trẻ em.Tỷ lệ tử vong do EHEC HUS từ 0
đến 2% nhưng tỷ lệ đã được báo cáo lên cao đến 36% trong 1 đợt
bộc phát tại nhà trẻ.
25/ NHIỄM ĐỘC THỨC ĂN
DO VI KHUẨN THÔNG THƯỜNG NHẤT Ở HOA KỲ ?
- Nhiễm trùng bởi Campylobacter jejuni
gây đau bụng với tiêu chảy và trong 1/3 trường hợp có tiền
triệu giống bệnh cúm trước khi bắt đầu các triệu chứng tiêu hóa.
Phần lớn được tìm thấy trong thịt gia cầm sống hoặc không được
nấu kỹ, C.jejuny có thể gây nên một hội chứng Guillain Barré
hoặc viêm khớp phản ứng (reactive arthritis) trong vòng 12 giờ
sau khi bị nhiễm trùng.
- Campylobacter jejuni là nguyên nhân dẫn đầu của bệnh
vi khuẩn truyền bởi thức ăn ở Hoa Kỳ. Vi khuẩn này thường gây ô
nhiễm gà nhiều nhất. Sốt xảy ra nơi 90% bệnh nhân và bạch cầu
trong phân (fecal leucocytes) hiện diện trong hơn 75% trường
hợp. C.jejuni được phân biệt với các vi khuẩn khác bởi thời gian
tiềm phục hơi dài hơn (đến 7 ngày) và ít triệu chứng mửa (12-15%
các bệnh nhân).Vào lúc cao điểm của bệnh, bệnh nhân có thể tiêu
chảy 10 lần mỗi ngày.
26/ BỆNH NHIỄM TRÙNG THỨC ĂN NÀO CÓ
THỀ CÓ TRIỆU CHỨNG GIỐNG VỚI VIÊM RUỘT THỪA CẤP TÍNH NƠI TRẺ LỚN
VÀ NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH ?
- Nhiễm trùng bởi Yersinia
enterocolitica có thể dẫn đến những triệu chứng cấp tính như đau
vùng hố chậu phải, sốt cao, nôn mửa và tăng bạch cầu với tiêu
chảy nhẹ. Hội chứng này, được gọi là viêm ruột thừa giả
(pseudoappendicitis) hay viêm hạch mạc treo (mesenteric
adenitis) đã dẫn đến nhiều trường hợp cắt bỏ ruột thừa không cần
thiết.
- Yersinia enterocolitica là một trực khuẩn gram âm
có thể gây sốt, đau bụng quặn, và tiêu chảy 16 đến 48 giờ sau
khi ăn. Động vật là ký chủ tự nhiên của Yersinia. Những đợt bùng
phát ở Hoa Kỳ được gây ra bởi ruột lợn, sữa và giá đậu bị nhiễm
bởi vi khuẩn này. Các triệu chứng có thể kéo dài từ 1 đến 30
ngày. Hiếm có vi khuẩn huyết (bacteremia) nhưng có thể xảy ra
nơi những người có yếu tố nguy cơ ( đái đường, hemochromatosis,
xơ gan và những bệnh nhân có quá tải sắt ). Sepsis gây bởi
Yersinia có tỷ lệ tử vong 50%.
27/ SCOMBROID LÀ GÌ ?
- Ngộ độc
bởi histamine của cá ( histamine fish poisoning) ( hay
scombroid ) được gây nên do sự tạo thành histamine hay amine
trong cá ngừ California ( tuna ), cá xanh ( bluefish ), cá thu (
mackerel ), cá marlin ( poisson épieu). Các triệu chứng đỏ bừng
mặt ( flushing ), mày đay ( urticaria), chóng mặt và dị cảm (
paresthesia ) xảy ra từ nhiều phút đến nhiều giờ sau khi ăn thức
ăn bị ô nhiễm. Hầu hết các trường hợp được tự hạn chế và
diphenhydramine và cimetidine có thể được sử dụng để làm giảm
triệu chứng. Một số bệnh nhân có thể bị độc tính tương đương với
quá mẫn cấp tính ( acute anaphylaxis ) và cần được xử lý tích
cực hơn.
- Các bệnh nhân bị ngộ độc bởi các độc tố scombroid
thường đến phòng cấp cứu một giờ sau khi ăn cá ngừ (thon), cá
thu (maquereau).Các triệu chứng ngộ độc giống như sau khi khi ăn
phải histamine : khô miệng, đỏ da (flush cutané), cảm giác bỏng
trong miệng và họng, nôn, mửa, tiêu chảy, đau bụng quặn, ngứa và
nổi mày đay. Có thể có đau đầu. Ban đỏ thường quan trọng ở mặt
và ở vài bệnh nhân có thể có co thắt phế quản (bronchospasm).
Bệnh lý này là do ăn phải độc tố bền với nhiệt, đuợc sản xuất do
sự thoái hóa histadine bởi các vi khuẩn gây nhiễm thịt cá. Có lẽ
sự khiếm khuyết về việc đông lạnh là nguyên nhân của quá trình
bệnh lý này.
28/ KÝ SINH TRÙNG NÀO NÊN ĐƯỢC NGHI
NGỜ NƠI MỘT NGƯỜI ĐI CẮM TRẠI BỊ TRƯỚNG BỤNG KINH NIÊN VÀ TIÊU
CHẢY LUÂN PHIÊN VỚI TÁO BÓN.
Giardia
lamblia gây dịch địa phương (endemic) ở nhiều vùng ở Hoa Kỳ và
là ký sinh trùng quan trọng nhất của nước Mỹ. Nhiễm trùng mắc
phải do uống nước bị ô nhiễm hoặc tiếp xúc từ người này qua
người khác (person-to-person contact). Trên toàn bộ dân số có 7%
người mang ký sinh trùng ở giai đoạn nang (cystic stage). Thường
được điều trị hiệu quả với metronidazole, mặc dầu việc sử dụng
thuốc này trong điều trị bệnh nhiễm trùng này không được ưng
thuận.
29/ ĐIỀU TRỊ
BỆNH TIÊU CHẢY DO VI KHUẨN NHƯ THỂ NÀO ?
Cột trụ của điều
trị chủ yếu là bù nước (rehydration). Các thuốc làm chậm nhu
động (antimotility agents) làm giảm triệu chứng nhưng thường
không nên dùng nơi những bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm trùng xâm
nhập (sốt, tiêu chảy ra máu, bạch cầu trong phân ), đặc biệt là
ở những bệnh nhân nghi nhiễm trùng bởi E.coli 0157 : H7. Điều
trị kháng sinh dành cho những bệnh nhân với tiêu chảy xâm nhập
(invasive diarrhea) có sốt cao, tiêu chảy ra máu, hoặc bệnh kéo
dài hơn một tuần, hoặc bệnh nhân có thai, nhiễm HIV hoặc bị suy
giảm miễn dịch (immunocompromised). Điều trị kháng sinh có thể
làm giảm thời gian bệnh và sự phóng thải vi khuẩn.Trong những
trường hợp như thế có thể sử dụng fluoroquinolone hoặc
trimethoprim-sulfamethoxazole. Ở Hoa Kỳ ít nhất 10% C.jejuni đề
kháng với fluoroquinolone, còn ở Thái lan lên đến 84%. Do đó,
erythromycin là điều trị chọn lựa cho nhiễm trùng bởi
C.jejuni.Đối với các bệnh nhân nghi tiêu chảy ra máu do E.coli
0157 : H7 kháng sinh nên tránh sử dụng bởi vì chúng làm gia tăng
nguy cơ mắc phải hội chứng huyết tán tăng urée
máu.
30/ CÓ NÊN SỬ DỤNG KHÁNG SINH ĐỂ
ĐIỀU TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY DO VI KHUẨN HAY KHÔNG ?
Việc sử dụng kháng
sinh trong điều trị bệnh tiêu chảy gây tranh cải và kháng sinh
không được chỉ định đối với những trường hợp tiêu chảy không xâm
nhập niêm mạc (noninvasive diarrhea). Bất cứ kháng sinh nào cũng
có khả năng đưa lại sự tăng sinh vượt mức của Clostridium
difficile, dẫn tới bệnh viêm đại tràng giả mạc (pseudomembranous
colitis). Điều trị kháng sinh bệnh tiêu chảy ra máu (bloody
diarrhea) nói chung không được khuyến nghị do sự liên kết giữa
hội chứng huyết tán tăng urée máu (hemolytic-uremic syndrome)
với nhiễm trùng bởi E.coli 0157 : H7. Những người trưởng thành
có bệnh tiêu chảy với thời gian dưới hai tuần, sốt và có bạch
cầu trong phân ( fecal keucocyte ) hay phân dương tính với
Hemoccult có thể được điều trị trong 3 đến 5 ngày với
trimethoprim-sulfamethoxazole ( 1viên, 2 lần mỗi ngày),
ciprofloxacin ( 500mg, hai lần mỗi ngày), norfloxacin ( 400mg,
hai lần mỗi ngày ), levofloxacin ( 500mg, mỗi lần mỗi ngày )
hoặc azithromycin ( 500mg mỗi lần mỗi ngày )
31/ CÓ NÊN ĐIỀU TRỊ GIẢM TRIỆU CHỨNG
BẰNG CÁC THUỐC CẦM TIÊU CHẢY KHÔNG ?
Điều trị
giảm triệu chứng bằng các thuốc cầm tiêu chảy chỉ được đề nghị
cho những bệnh nhân với tiêu chảy không xâm nhập niêm mạc (
noninvasive diarrhea ) ( không có sự hiện diện của bạch cầu
trong các kính phết phân ).Các bệnh nhân tiêu chảy xâm nhập niêm
mạc ( invasive diarrhea) có thể phát triển chứng đại tràng do
độc tố ( toxic megacolon) và tiếp tục thải các vi khuẩn nếu
được điều trị bằng các thuốc chống lại nhu động (antimotility
drugs). Tuy nhiên, mới đây, loperamide đã được sử dụng một cách
an toàn cho tất cả các dạng viêm dạ dày ruột (gastroenteritis),
nhưng với diphenoxylate ( Lomotil) thì nên tránh trong trường
hợp tiêu chảy xâm nhập niêm mạc.
32/ TÓM TẮT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
CỦA NGỘ ĐỘC THỨC ĂN
TÁC
NHÂN TIỀM PHỤC TRIỆU CHỨNG THỜI GIAN THỨC ĂN MÙA
B. cereus 1-6 giờ nôn và mửa
nhiều giờ đến cơm chiên, quanh
(gây mửa)
nhiều ngày rau, thịt năm
S. aureus 1-6 giờ mửa và tiêu
nhiều giờ đến gà vịt, rau mùa hè
chảy nhiều ngày xà lách,
jambon
bánh ngọt
C. botulinum 1-2 ngày Sớm : nôn, mửa nhiều
tuần cá chế mùa hè
tiêu
chảy đến nhiều biến, rau mùa thu
Muộn : song
thị tháng trái cây
khó phát âm
khó nuốt, bại
liệt
C. perfringens 8-16 giờ nôn, đau bụng
1-2 ngày thịt bò, mùa thu
quặn, tiêu
chảy gà vịt,
nước thịt
đồ ăn Mễ
B. cereus 8-16 giờ tiêu chảy
,đau 1-2 ngày cơm chiên, quanh (tiêu chảy)
bụng quặn, mửa rau, thịt năm
Salmonella 16-48 giờ nôn, mửa, tiêu
2-7 ngày gà vịt, mùa hè
(không phải chảy, sốt,
đau trứng, thịt
thương hàn) bụng
quặn bò, đồ bơ
sữa, sản
vật.
Campylo- 1-7 ngày sốt, đau bụng quặn 1-2
tuần gà vit, sữa
mùa
-bacter tiêu chảy ( hiếm
khi sống xuân,
nôn
mửa)
mùa hè
E.coli 3-8 ngày đau bụng quặn, tiêu
1-12 ngày thịt bò mùa hè (sản xuất
chảy ra máu, không nghiền , mùa thu
Shiga toxin)
sốt sản vật
Yersinia 16-48 giờ sốt, đau bụng quặn
1-30 ngày sữa, lòng mùa
entero-
mửa
tofu đông
colitica
Listeria 1 ngày sốt, đau bụng
quặn 7 ngày sữa, cơm mùa monocyto-
tiêu chảy, đau đầu xà lách
đông
genes đau cơ
Norwalk- 1-2 ngày mửa, đau đầu, đau
1-5 ngày sò hến, quanh
like virus bụng quặn ,
tiêu xà lách năm
chảy toàn nước
Scombroid 5 phút đến đỏ bừng mặt, đau nhiều giờ
cá ngừ quanh
( Ngộ độc 1 giờ đầu, dị cảm
quanh cá thu năm
histamine miệng , đau
bụng mahi-mahi
của cá ) quặn, nôn, đôi
khi kingfish
hạ huyết
áp albacore
bonito
Ciguatera 1-6 giờ mửa, tiêu chảy nhiều
ngày grouper tháng 2
dị cảm,
ngứa, sea bass đến
yếu người,
đôi snapper tháng 9
khi hạ huyết
áp barracuda
tim đập
chậm jack
Paralytic 5 phút đến Nhẹ : dị cảm nhiều
giờ sò hến tháng 5
shellfish 4 giờ mặt/chi, mửa
đến nhiều clams đến
poisoning tiêu
chảy ngày oysters tháng
11
( PSP) Nặng : khó
phát
scallops
âm, thất
điều, mussels
suy hô
hấp limpets
sao biển
Puffer fish 15 phút Sớm : dị cảm nhiều
giờ puffer fish quanh poisoning
quanh miệng đến nhiều Fugu sushi năm
(tetrodo- nôn, chóng mặt
ngày
toxin) Muộn :
yếu
người, tê, loạn
vận ngôn, suy hô
hấp
Références :
- Emergency Medicine Secrets
- Infectious Diseases Secrets
- Medical Secrets
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 28/11/2007)
Trở về Trang Chính
|