Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

31 tháng 01 năm 2008

1/ HIỆU QUẢ CỦA CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM BỊ ĐẶT VẤN ĐỀ.

          Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, những tài liệu xuất bản khoa học về các thuốc dưỡng thần (psychotropes) mới, đã thổi phồng tác dụng của những loại thuốc này.

          Đó là một tiết lộ đột ngột gây nhiều bối rối. Hiệu quả của các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) mới, được lưu hành trên thị trường từ giữa những năm 1980, với thuốc đầu đàn là fluoxétine (Prozac), đã bị nghi ngờ bởi các chuyên gia Hoa Kỳ thuộc FDA, cơ quan rất có thế lực của Hoa Kỳ về dược phẩm. Một công trình nghiên cứu của New England Journal of Medicine chứng tỏ rằng các tài liệu xuất bản đã phóng đại tính hiệu quả của những thuốc này. Các phòng bào chế, các thầy thuốc và ngay cả các bệnh nhân, đã tô vẽ cho các thuốc chống trầm cảm đủ mọi thứ tính năng.
           BS Erik Turner, bác sĩ tâm thần và là nhà dược học  (université de l’Oregon), đã cùng nhóm nghiên cứu của ông duyệt xét lại 74 thử nghiệm lâm sàng trên 12.564 bệnh nhân. Những công trình nghiên cứu này, tất cả đã được đệ trình lên FDA, có liên quan đến 12 loại thuốc chống trầm cảm mới rất được kê toa từ năm 1981 đến 2004.

          Các kết quả của những phân tích này đã cho nhiều phát hiện. Theo các dữ kiện được công bố trên những tạp chí khoa học, thì 94% các thuốc chống trầm cảm được trắc nghiệm đã có những hiệu quả dương tính. Nhưng theo FDA, với sự xét đoán tỉ mỉ hơn nhiều, thì chỉ có một nửa các nghiên cứu được đệ trình cho sự giám định của cơ quan này, là có những hiệu quả dương tính mà thôi.
          Trong một nửa kia, các thuốc chống trầm cảm đã không có tác dụng được mong chờ. Ngoài ra, trong khi tất cả các công trình nghiên cứu với kết quả dương tính đã được công bố trong các văn liệu khoa học, thì những công trình nghiên cứu có kết quả âm tính (33 trên 36 công trình đã chiêu mộ 5.212 bệnh nhân) đã vẫn nằm trong các ngăn kéo của FDA. Hoặc tệ hại hơn nữa, các công trình này đã được « trang điểm » để có một dạng vẻ dương tính, đi ngược lại với phán quyết của FDA. « Những tài liệu xuất bản có tính cách chọn lọc, có thể khiến các thầy thuốc và các bệnh nhân tin rằng những loại thuốc này có hiệu quả hơn là trên thực tế, một kết quả khả dĩ ảnh hưởng lên các thầy thuốc trong việc cho toa thuốc », BS Turner, suốt trong 3 năm đã là chuyên gia cố vấn của FDA về các thuốc dưỡng thần, trong đó có những thuốc chống trầm cảm, đã xác nhận như thế.

LUẬN LÝ THƯƠNG MÃI.
        “ Chúng ta không biết những sai lầm trong giải thích này là do lỗi của các tác giả hay của những người bảo trợ, hay do một quyết định của các nhà xuất bản không chịu công bố một vài công trình nghiên cứu.
Nhưng một điều chắc chắn là, các thầy thuốc cho toa và những người được điều trị (những người đầu tiên có liên quan), phải được quyền tham khảo các biên bản giám định, toàn bộ và không được ngụy trang ”

          Công trình nghiên cứu này mang lại những lý lẽ mới cho các chuyên gia để tố cáo việc buông trôi của thị trường các thuốc dưỡng thần và lên án luận lý thương mãi của những xí nghiệp dược phẩm.
       “ Khối lượng thuốc dưỡng thần được bán ra đã tăng gấp đôi trong vòng mười năm ở Pháp cũng như ở Bỉ, BS tâm thần người Bỉ Monique Debauche đã nhắc nhở như vậy nhân một cuộc tranh luận được tổ chức bởi tạp chí Prescrire về đề tài sức khỏe tâm thần.Và sự việc này xảy ra trong bối cảnh rất tác động với những chiến dịch khuyến khích chẩn đoán để điều trị nhiều hơn, thậm chí khuyến khích các bệnh nhân tự chẩn đoán chứng bệnh trầm cảm. Monique giải thích tình trạng buông trôi này là do sự có mặt khắp nơi của các phòng bào chế : trong việc đào tạo và thông tin những người săn sóc y tế, trong sự tài trợ các hiệp hội các bệnh nhân và trong việc quảng cáo gián tiếp qua các chiến dịch được gọi là làm nhạy cảm (sensibilisation).
         Việc gia tăng tiêu thụ các thuốc chống trầm cảm cũng là do nhu cầu rất cao của các bệnh nhân bị trầm cảm, với thói quen suy nghĩ rằng nỗi đau khổ của họ là căn bệnh có thể chữa được bằng các viên thuốc nhỏ và do việc đào tạo các thầy thuốc chỉ chú ý đến thuốc men. Nữ BS tâm thần không ngần ngại cáo giác việc xây dựng những thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa ra thị trường các loại thuốc mới.Vì lý do những được thua về mặt tài chánh, những thử nghiệm lâm sàng này được xây dựng như là những hỗ trợ trong quảng cáo, với những bậc thang đánh giá chỉ đưa ra những triệu chứng được cải thiện bởi thuốc mà thôi.

Và bởi vì những thử nghiệm lâm sàng này rất tốn kém, nên chúng được giao thầu lại cho các công ty tư nhân. Những công ty này trong một vài trường hợp đã đưa các thử nghiệm này thực hiện trong các các nước ít chú ý đến tính chất chặt chẽ của phương pháp học, như các nước cộng hòa của Liên Xô trước đây, Ấn độ hay Trung Quốc, không quan tâm đến số lượng bệnh nhân quá ít ỏi, với những nhà nghiên cứu không phải là nhà lâm sàng để đánh giá các thử nghiệm này, và với những thang đánh giá không tính đến những đặc điểm về văn hóa và xã hội.

        BS Debauche đi đến cùng kết luận với BS Erick : chỉ có những thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ những hiệu quả dương tính là được công bố mà thôi. Sau cùng, chính toàn bộ vấn đề về tính khách quan của nghiên cứu sinh y học là đã được đặt ra.
         Baebara Mintzes, nhà nghiên cứu nữ người Canada về y tế công cộng (đại học Colombie-Britanique) đã cáo giác sự  “ gia công các bệnh ” nhằm mở rộng định nghĩa một bệnh cần phải điều trị, để làm gia tăng lượng thuốc điều trị được bán ra.

         Chính vì vậy mà bệnh trầm cảm, ngày xưa được xem như là một bệnh lý cấp tính, bây giờ càng ngày càng được giới thiệu như một bệnh mãn tính, bắt đầu ở những bệnh nhân càng ngày càng trẻ. Đến độ, theo nhà nghiên cứu nữ này, ở Hoa kỳ, việc cho toa các thuốc chống trầm cảm nơi những thiếu niên và ngay cả trẻ em đã tăng lên từ 4 đến 10 lần từ năm 1992 đến 2002 và gấp 10 ở Vương Quốc Anh từ 1992 đến 2001( LE FIGARO 22/1/2008)

 

2/ CÁC NHÀ ĐIÊU KHẮC SỐNG LÂU HƠN CÁC HỌA SĨ.

         Ở Châu Âu, các nghệ nhân gia công cẩm thạch hoặc sắt trung bình sống 4 năm nhiều hơn các họa sĩ.

        Họa sĩ hay nhà điêu khắc ? Các nghệ nhân như Michel-Ange hoặc, gần chúng ta hơn, Degas và Picasso, đã hành nghề điêu khắc và hội họa với tài nghệ ngang nhau. Do đó, việc lựa chọn điêu khắc hay hội họa không có gì là chuyên nhất, nhưng tuy vậy thường xảy ra.Theo một công trình nghiên cứu được công bố trong một tạp chí chuyên về sự lão hóa (Age and Ageing, tháng giêng 2008), sự lựa chọn này có thể có những hàm ý không phải vì lý đó nghệ thuật.Thật vậy, Phillip Greespan và hai trong số các cộng sự viên của ông thuộc Đại Học Géorgie, ở Athens (Hoa Kỳ) xác nhận rằng điêu khắc có tác dụng bảo tồn cuộc sống tốt hơn là hội họa.

MICHEL-ANGE CHẾT NĂM 88 TUỔI.
         Ba nhà nghiên cứu đã so sánh tuổi thọ của 144 nhà điêu khắc với tuổi thọ của 262 họa sĩ. Họ dùng các trích dẫn tham khảo trong Dictionnaire Larousse des peintres và Encyclopédie de la sculpture. Nói một cách khác, các nhà nghiên cứu quan tâm đến các nghệ nhân châu Âu, từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX.

Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, tuổi thọ trung bình của các bậc thầy hội họa là 63,6 năm, so với 67,4 năm đối với những nghệ nhân gia công đá hoa cương, đất, kim loại hay thạch cao. Về phía các họa sĩ, đúng là nhiều người trong số họ, trong số những người danh tiếng nhất, đã chết khi còn khá trẻ. Như là các họa sĩ người Ý Raphael và Le Caravage đã qua đời vào năm 37 tuổi, trong khi Donatello và Berni (hai nhà điêu khắc nổi tiếng), đã sống đến 80 tuổi và Michel-Ange qua đời lúc 88 tuổi. Ngay trong Hy Lạp cổ đại, các nhà điêu khắc Praxitèle và Polyclèle đã qua đời ở một lứa tuổi cao đối với thời kỳ đó (71 tuổi).

       “ Đó là một nhận xét lý thú “, James Hanley, một nhà dịch tễ học người Canada, mặc dầu nổi tiếng về tính nghiêm khắc của ông đối với loại nghiên cứu này, đã công nhận như thế trong tạp chí Nature.Tuy nhiên, các nguyên nhân của  chênh lệch về tuổi thọ giữa điêu khắc và hội họa vẫn còn bí ẩn. Vào thời nào cũng thế, trong ngành hội hoạ, luôn luôn có những chất độc không ít thì nhiều. Chắc là thế, nhưng các bụi đá và những nhát khắc của những nhà điêu khắc cũng không phải là vô hại. Năm 2006, Cnam đã kiểm kê được 95 trường hợp bệnh nơi những nhà điêu khắc, thợ đẽo và thợ xẻ đá nghề nghiệp.

        Phillip Greenspan và hai đồng nghiệp đánh giá rằng vào một thời kỳ chưa có kháng sinh, chính việc phải chi tiêu năng lượng vật chất trong lúc làm việc đã khiến các nhà điêu khắc tạo nên cho mình một thành lũy tự nhiên chống lại các vi trùng ( LE FIGARO 22/1/2008)

 


3/ XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NHANH MRSA.

         Với dòng thời gian, vài giống gốc (souches) tụ cầu khuẩn vàng (staphylocoque doré) có được khả năng đề kháng với các kháng sinh, đặc biệt là với méthicilline. Do đó điều quan trọng là phải phân biệt giữa một tụ cầu khuẩn vàng « bình thường » và một MRSA (Methicillin resistant staphylococcus aureus). Thật vậy xét nghiệm mới này cho phép trong vòng 2 giờ xác nhận xem chất liệu di truyền của vi khuẩn được chứa trong một mẫu nghiệm máu là thuộc về giống gốc tụ cầu vàng « bình thường » hay giống gốc MRSA.

       Nhiễm trùng do tụ cầu vàng gây bệnh nhiều hơn nơi những người có tình trạng miễn dịch bị suy kém, một thông báo của FDA News ( 2/1/2008) đã nhắc lại như thế. Các tụ cầu này có thể gây nên những nhiễm trùng bề mặt thông thường, những viêm tấy (phlegmon) hoặc những áp xe. Nếu tụ cầu vàng nhạy cảm với kháng sinh thì tương đối dễ dàng chống lại. Trái lại, MRSA thì khó bị diệt trừ hơn. FDA nhắc lại rằng sự ra đời của xét nghiệm mới này không được dùng như là cái cớ để xao lãng những yêu cầu về vệ sinh bệnh viện hoặc để nới lỏng tinh thần cảnh giác đối với những nguyên nhân nhiễm trùng hay biến chứng khác.( LE JOURNAL DU MEDECIN 22/1/2008 )

 

4/ NHI KHOA : ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI TẠI GIA ?

          Những kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây được thực hiện ở Pakistan chứng tỏ rằng có thể điều trị ngoại trú các trẻ em bị viêm phổi nặng với các kháng sinh dùng bằng đường miệng. Những kết luận này có tính chất quyết định trong việc điều trị viêm phổi thể nặng nơi các trẻ em sống trong các nước của thế giới thứ ba.Theo những khuyến nghị hiện nay của OMS, những trường hợp viêm phổi không nghiêm trọng của trẻ em có thể được điều trị tại gia bằng các kháng sinh dùng bằng đường miệng, nhưng các trẻ em bị viêm phổi thể nặng phải được nhập viện.Theo Tabish Hazir và các cộng sự viên, việc điều trị ngoại trú với một kháng sinh liệu pháp bằng đường miệng với liều lượng cao, tương đương với một điều trị kháng sinh ngoài đường tiêu hóa  (traitement parentéral) ở bệnh viện, trong trường hợp viêm phổi thể nặng nhưng không có biến chứng.

Những kết luận này được căn cứ trên một công trình nghiên cứu được thực hiện nơi một nhóm 2.037 trẻ em được điều trị vì chứng viêm phổi nặng ở Pakistan .

Các tác giả chủ trương xét lại các khuyến nghị của OMS về điều trị bệnh viêm phổi thể nặng.Trong các nước thuộc thế giới thứ ba, viêm phổi vẫn là một bệnh nghiêm trọng đe dọa đến tiên lượng sống.( LE JOURNAL DU MEDECIN 22/1/2008 )

 

5/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG ĐỊA TRUNG HẢI CŨNG CÓ HIỆU QUẢ

ĐỐI VỚI CÁC NGƯỜI MỸ.

          Chế độ ăn uống địa trung hải (régime méditerranéen) có lợi cho sức khỏe và có tác dụng thuận lợi lên tuổi thọ : đó là mà điều nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh. Một công trình nghiên cứu có quy mô của Hoa Kỳ một lần nữa chứng tỏ các hiệu năng của loại dinh dưỡng này lên tỷ lệ tử vong.Thật vậy, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Panagiota Mitrou và các cộng sự viên ( USA) đã thực hiện một công trình nghiên cứu viễn cảnh trên một mẫu gồm 214.284 người đàn ông và 166.012 phụ nữ, lấy trong National Institutes of Health (NIH)-AARP      ( American Association of Retired Persons) Diet and Health Study.

        Suốt trong 10 năm theo dõi (1995-2005), 27.799 trường hợp tử vong đã xảy ra.Trong 5 năm đầu, 5.985 trường hợp tử vong do ung thư và 3.451 tử vong do bệnh tim mạch đã được báo cáo. Các tác giả đã sử dụng một thang 9 điểm để đánh giá sự tuân thủ chế độ ăn uống địa trung hải : tiêu thụ rau xanh, trái cây, cây bộ đậu (légumineuses), quả hồ đào (noix), ngũ cốc toàn phần (céréales complètes), cá, tỷ suất mỡ monoinsaturée/saturée, rượu và thịt.

         Các kết quả cho thấy rằng chế độ ăn uống địa trung hải được liên kết với một sự giảm nguy cơ tử vong, do nguyên nhân đặc hiệu và do tất cả các nguyên nhân. Thật vậy người ta nhận thấy ở những người theo chế độ ăn uống địa trung hải một cách trung thành nhất, một sự giảm tỷ lệ tử vong do tất cả các nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân ung thư và các bệnh tim mạch. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 22/1/2008)

 

6/ NGĂN NGỪA TÉ NGÃ VÀ CÁC BIẾN CHỨNG NƠI NHỮNG NGƯỜI GIÀ : HÃY NGHĨ ĐẾN VITAMINE D.

          Việc sử dụng vitamine D làm giảm nguy cơ té ngã và biến chứng gãy xương nơi các người già. Phương thức này, được xác nhận bởi nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng, không còn có thể không được biết đến, đứng trước sự lão hóa dân số và trước những hậu quả lâm sàng, xã hội và tài chánh của các gãy xương gây nên bởi những té ngã này. Đối với Giáo Sư Thierry Pepersack  (Trưởng bộ môn lâm sàng và Giáo sư lão khoa ( Erasme-ULB), thì cần phải cho vitamine D nơi tất cả những người già yếu.

       Các té ngã và những biến chứng của chúng là điều thường rất hay xảy ra nơi các người già.Trên 70 tuổi, mỗi năm, cứ ba phụ nữ thì có một sẽ bị té ngã (một trên hai trong các nhà dưỡng lão), trong khi đó chúng ta cũng biết rằng một khi đã bị té ngã một lần thì thuờng sẽ bị một té ngã khác sau đó. Hậu quả là gãy xương : một té ngã nặng có thể đột ngột làm cho sức khỏe và khả năng độc lập  (autonomoie) của một người già bị lâm nguy. « Khi một người già bị té, người ta ước tính rằng có thể có 5% nguy cơ gãy xương, nhưng trên 80 tuổi, nguy cơ này lên đến 15%. Các hậu quả về mặt ngân sách là to lớn khi chúng ta biết rằng ngày nay có 17.000 trường hợp gãy xương háng mỗi năm ở Bỉ và rằng mỗi trường hợp gãy xương gây tổn phí khoảng 25.000 Euro cho tập thể ». Ngoài ra khi một người già bị té ngã và bị gãy xương , cơ may sống sót sẽ càng thấp khi tuổi càng cao. Tỷ lệ tử vong do té ngã biến thiên từ 12/100.000 đối với các phụ nữ từ 65  đến 74 tuổi, so với 123/100.000 đối với  các phụ nữ 85 tuổi hoặc hơn.

NGÃ VÀ VITAMINE D.
        Một sự thiếu hụt vitamine D sẽ làm giảm sự hấp thụ calcium ở ruột và làm giảm sự khoáng hóa xương (minéralisation de l’os). Các thiếu hụt vitamine D là nguyên nhân của ostéopénie, loãng xương (ostéoporose), nhuyễn xương (osteomalacie), tăng năng tuyến cận giáp (hyperparathyroidie) thứ cấp và làm gia tăng nguy cơ té ngã và gãy xương. Trong một bài viết về các phụ nữ bị chứng loãng xương phải nhập viện vì bị gãy xương háng, 50% trong số những phụ nữ này có những triệu chứng thiếu hụt vitamine D. « Đứng trước điều chứng thực này, việc cho bổ sung vitamine D cho tất cả những người già yếu ớt rất là hữu ích, vì lẽ ít nhất 80% những người sống trong các nhà dưỡng lão đều bị thiếu hụt vitamine D, bởi vì họ ăn ít đồ sữa do không dung nạp được hoặc bởi vì họ ít đi ra ngoài. Điều này hoàn toàn biện minh cho việc sử dụng bổ sung vitamine D ». Giáo sư Pepersack đã nhấn mạnh như thế.

            Và những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó. Nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ rằng việc cho bổ sung vitamine D làm giảm từ 23% đến 53% tỷ lệ té ngã nơi những người già sống trong các nhà dưỡng lão và một phân tích méta quy tụ 5 công trình nghiên cứu và 1.237 người cao niên (80% phụ nữ trong lứa tuổi 70, được cho từ 400 UI đến 800 UI vitamine D3 mỗi ngày, có bổ sung calcium hoặc không ) đã đi đến cùng kết luận, với tỷ lệ té ngã giảm 22%. Ngoài ra, hiệu quả này độc lập với việc cho calcium bổ sung, với loại vitamine được sử dụng, với thời gian điều trị và với giới tính. Có nên kết hợp vitamine D với calcium hay không ? « Không cần thiết. Nếu cần phải cho calcium, có thể chỉ cần tăng cường về mặt dinh dưỡng là đủ, như thế tránh được những vấn đề trong tuân thủ điều trị hoặc những vấn đề do không dung nạp tiêu hóa gây nên bởi muối calcium », Giáo sư Pepersack đã giải thích như vậy. Hơn nữa vai trò của calcium trong phòng ngừa nguy cơ gãy xương đã không được xác lập. Trái lại, vài dữ kiện cho thấy rằng việc cho calcium bổ sung có thể cản ruột hấp thụ phosphates và do đó góp phần vào việc làm giảm khối lượng xương.

          Theo giáo sư Pepersack, « Ngày nay, các khuyến nghị yêu cầu cho vitamine D3 (cholécalciférol) với liều lượng 1 ampoule 25.000 UI/ml mỗi tháng hoặc 800 UI mỗi ngày nơi mọi người già ốm yếu, dầu cho tình trạng có thiếu hụt vitamine D3 hay không » ( LE JOURNAL DU MEDECIN 22/1/2008).

 

7/ CAFFEINE CÓ LIÊN HỆ TRONG VIỆC LÀM SẨY THAI.

           Uống quá nhiều cà phê trong thời kỳ thai nghén có thể làm gia tăng nguy cơ sẩy thai, một công trình nghiên cứu mới đã phát biểu như vậy, và các tác giả gợi ý rằng các phụ nữ có thai có thể cần giảm bớt lượng cà phê uống vào hoặc phải từ bỏ toàn bộ.

          Nhiều Bác sĩ chuyên khoa Sản đã khuyên các phụ nữ hạn chế caffeine, mặc dầu vấn đề này đã gây nhiều tranh cãi , với các công trình nghiên cứu mâu thuẫn nhau, các dữ kiện không rõ ràng và những lời khuyến nghị khác nhau trong nhiều năm qua.

        Công trình nghiên cứu mới, được công bố hôm thứ hai trên tờ Journal of Obstetrics and Gynecology, nhận thấy rằng các phụ nữ có thai uống 200 mg caffeine hoặc hơn mỗi ngày (lượng được chứa trong 10 ounces cà phê hoặc 25 ounces trà), có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ sẩy thai của họ. 10 ounces tương đương với khoảng 300 ml.

       Các phụ nữ có thai nên từ bỏ caffeine trong ít nhất 3-4 tháng đầu của thời kỳ thai nghén, BS De-Kun Li, tác giả lãnh đạo công trình, một nhà dịch tễ học về sinh sản thuộc Kaiser Permanente Division of Research, ở Oakland, California, đã phát biểu như vậy.

        “ Nếu vì bất cứ lý do nào đó, họ thật sự không thể từ bỏ được, thì nên cắt giảm chỉ còn một tách hoặc chuyển sang decaf (cà phê không có caffeine) ”, BS Li nói như vậy. “ Ngừng uống caffeine thật sự không có một tác dụng âm tính nào ”

          Các nhóm chuyên môn nghề nghiệp như American College of Obstetricians and Gynecologists và American Society for Reproductive Medicine đã không có lập trường chính thức về caffeine, các đại diện đã nói như vậy.

         Hôm thứ sáu, Website của March of Dimes đã nói rằng hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng lượng caffeine được chứa trong 8-16 ounces cà phê uống mỗi ngày là an toàn. Website ghi nhận rằng vài công trình nghiên cứu đã liên kết việc tiêu thụ caffeine với liều lượng cao hơn với sự sẩy thai và với trọng lượng lúc sinh thấp, nhưng web site phát biểu : “ Tuy nhiên không có bằng cớ vững chắc cho rằng caffeine gây nên những vấn đề này. Cho đến khi được biết rõ nhiều hơn, các phụ nữ tốt hơn nên giới hạn lượng caffeine uống vào trong thời kỳ thai nghén ”
         Bây giờ đây, sau khi đã duyệt lại công trình nghiên cứu mới, March of Dimes dự kiến thay đổi thông điệp của mình, khuyên các phụ nữ đang có thai hoặc đang cố thụ thai, giới hạn việc tiêu thụ caffeine hàng ngày còn 200 mg hoặc ít hơn, Janis Biermann đã nói như vậy.

         Công trình nghiên cứu của Li bao gồm 1.063 phụ nữ có thai được phỏng vấn một lần về lượng caffeine được tiêu thụ. Vào lúc phỏng vấn, thời gian thai nghén trung bình là 71 ngày. Nhưng 102 người đã sẩy thai ( không đáng ngạc nhiên vì hầu hết các trường hợp sẩy thai xảy ra rất sớm trong thời kỳ thai nghén). Sau đó thêm 70 phụ nữ nữa bị sẩy thai. Như vậy tỷ lệ sẩy thai toàn thể là 16%.

         Trong số 264 phụ nữ nói là họ đã không dùng caffeine, 12,5% bị sẩy thai. Nhưng tỷ lệ sẩy thai là 24,5 % nơi 164 phụ nữ đã tiêu thụ 200mg caffeine hoặc hơn mỗi ngày. Nguy cơ sẩy thai gia tăng được liên kết với chính caffeine chứ không phải với các yếu tố nguy cơ đã được biết như tuổi của người mẹ hoặc thói quen hút thuốc, các nhà  nghiên cứu đã nói như vậy.

          Li nói rằng công trình nghiên cứu đã trả lời một câu hỏi quan trọng mà nghiên cứu trước đây vẫn để bỏ ngõ. Các phụ nữ bị chứng nôn mửa vào buổi sáng (morning sickness) ít bị sẩy thai hơn là những phụ nữ không có chứng khó ở này, có lẽ bởi vì những thay đổi về hormone là nguyên nhân của chứng nôn mửa này, đã góp phần cho sự phát triển của một thai nghén lành mạnh. Nhưng các nhà nghiên cứu đã nói rằng chứng nôn mửa vào buổi sáng có thể dẫn đến những kết quả làm sai lạc trong công trình nghiên cứu caffeine.

         Những nhà nghiên cứu này lý luận rằng bởi vì cảm thấy khó ở, vài phụ nữ có thể đã uống ít caffeine. Khuynh hướng này có thể làm cho có cảm tưởng rằng sự việc các phụ nữ có vẻ ít bị sẩy thai hơn là bởi vì họ đã tránh tiêu thụ caffeine .
         Li nói rằng ông ta và các đồng nghiệp đã cẩn thận phân tích các dữ kiện và đã xác định rằng nguy cơ làm sẩy thai do caffeine là thật sự và không thể được giải thích bởi các tỷ lệ khác nhau trong chứng nôn mửa buổi sáng.

        BS Carolyn Westhoff, một giáo sư sản phụ khoa và dịch tể học, thuộc Columbia University Medical Center, Nữu Ước, đã tỏ ra dè dặt về công trình nghiên cứu. Bà ghi nhận rằng nghiên cứu hoặc giải thích sự sẩy thai là việc khó làm. Bà nói rằng hầu hết các trường hợp sẩy thai đều là do bất thường về nhiễm sắc thể, và không có bằng chứng cho rằng caffeine có thể gây nên những vấn đề đó.( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 21/1/2008)

 

8/ VIỆC CÃI CỌ VỢ CHỒNG LÀ CÓ LỢI CHO SỨC KHOẺ

          Cãi cọ với chồng hoặc với vợ mình, thì ra có thể có lợi cho sức khỏe, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ được công bố trong ấn bản tháng giêng của Journal of Family Communication đã xác nhận điều đó.

          Những cặp vợ chồng không bày tỏ được nỗi giận dữ của mình có một tý lệ tử vong hai lần quan trọng hơn những cặp vợ chồng trong đó ít nhất có một người (chồng hoặc vợ) bộc lộ được ra ngoài cơn giận dữ. Và, sau 17 năm, các cặp vợ chồng, trong đó không có người nào biểu lộ được sự giận dữ của mình, có nguy cơ cả hai đều chết, năm lần nhiều hơn những cặp vợ chồng hay cãi cọ, theo công trình nghiên cứu. “ Nếu quý vị dấu kín nổi giận dữ của quý vị, nếu quý vị lập đi lập lại mãi cơn giận dữ này và nếu quý vị cảm thấy oán hận với người kia...và quý vị không tìm cách cố gắng giải quyết mối xung đột, thế thì quý vị sẽ có một vấn đề ”, Ernest Harbourg, tác giả chính của công trình nghiên cứu, giáo sư đại học Michigan (bắc) đã giải thích như vậy.

         Những công trình nghiên cứu trước đã chứng tỏ rằng sự việc kềm chế sự giận dữ làm gia tăng những bệnh do sự căng thẳng (stress) như những vấn đề về tim hoặc những vấn đề liên quan với huyết áp.Công trình điều tra này nhằm vào sự tác động của nỗi giận dữ được dấu kín và của lòng oán hận lên tỷ lệ tử vong của những cặp vợ chồng.
       Trên 192 cặp vợ chồng được khảo sát, 26 cặp cố tránh mọi mối xung đột, trong khi đó nơi 166 cặp khác, ít nhất có vợ hoặc chồng đã biểu lộ nổi giận dữ của mình. Công trình nghiên cứu đã được thực hiện từ năm 1971 đến 1988 trong số 192 cặp vợ chồng thuộc giai cấp trung lưu của một thành phố nhỏ của Michigan, và hầu hết các phụ nữ là những bà mẹ nội trợ. Một phân tích các tỷ lệ sống sót của cùng nhóm người này 30 năm sau sẽ cho những kết quả bổ sung. ( LE FIGARO 25/1/2008).

 

9/ THUỐC NGỪA THAI BẢO VỆ CHỐNG UNG THƯ BUỒNG TRỨNG .

        Thuốc ngừa thai dùng bằng đường miệng (contraception orale) làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng. Uống thuốc ngừa thai trong 15 năm làm giảm một nửa nguy cơ mắc phải ung thư này.

        Thường bị gán cho mọi điều xấu xa, thuốc ngừa thai (pilule contraceptive) giờ đây lấy lại thế thượng phong của mình ! Thát vậy, trong khi niềm tin đại chúng muốn rằng việc sử dụng thuốc ngừa thai kéo dài là có hại, thì một công trình nghiên cứu được công bố trong The Lancet lại gieo mối hoài nghi.Theo các công trình của nhóm nghiên cứu của giáo sư Valérie Beral (Đại Học Oxford), thời gian dùng thuốc ngừa thai càng dài lâu, thì các phụ nữ càng được bảo vệ chống lại ung thư buồng trứng.

        Ý tưởng này không phải là mới, nhưng một vấn đề vẫn chưa được giải quyết : làm sao mà thời gian dùng thuốc ngừa thai lại có thể có ảnh hưởng lên sự bảo vệ chống lại ung thư sau khi đã ngưng dùng thuốc ?

        Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã khảo sát 23.257 phụ nữ bị một ung thư buồng trứng và 87.303 phụ nữ lành mạnh.Từ đó họ suy ra xác suất phát triển một ung thư buồng trứng giảm 20% sau mỗi thời kỳ 5 năm dùng thuốc ngừa thai bằng đường miệng. Nói một cách khác, các phụ nữ sau khi đã dùng thuốc ngừa thai trong 15 năm, đã giảm một nửa nguy cơ phát triển một ung thư buồng trứng.

         “ Nếu 5000 phụ nữ uống thuốc ngừa thai trong 1 năm, khoảng 2 ung thư buồng trứng và một trường hợp tử vong trước 75 tuổi sẽ có thể tránh được ”, các tác giả của nghiên cứu đã giải thích như vậy.
         Vì công trình nghiên cứu này trải dài nhiều chục năm uống thuốc ngừa thai, nên các nhà khoa học cũng đã có thể nghiên cứu vai trò của các oestrogènes trong việc bảo vệ chống ung thư. Thật vậy, từ năm 1960 đến 1980, nồng độ của hormone sinh dục này đã giảm một nửa trong các viên thuốc ngừa thai đã được phân phối. Nhóm nghiên cứu của giáo sư Beral đã không chứng nhận một biến thiên nào của xác suất phát triển một ung thư vú  trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1980. Do đó các oestrogènes không có liên hệ trong cơ chế bảo vệ chống ung thư.

         Sau hết các kết quả thu được gợi ý rằng mối liên hệ giữa thuốc ngừa thai và nguy cơ phát triển một ung thư buồng trứng không tùy thuộc vào những kinh nguyệt đầu tiên, tiền sử gia đình về ung thư vú, thể trọng cũng như việc uống rượu hay hút thuốc.
         “ Công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng việc uống thuốc ngừa thai bằng đường miệng đã cho phép tránh khoảng 200.000 trường hợp ung thư buồng trứng và 100.000 trường hợp tử vong.Từ nay cho đến những thập niên tiếp theo, số ung thư tránh được sẽ lên đến 30.000 trường hợp mỗi năm ”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. (LE SOIR 25/1/2008)

 

10/  HUYẾT ÁP : TỐT NHẤT NÊN ĐIỀU TRỊ VÀO BUỔI CHIỀU.

           Có lẽ đây là một tin tốt lành đối với một vài bệnh nhân bị cao huyết áp. Theo một công trình nghiên cứu của Ý được công bố trong American Journal of Kidney Diseases, thì dường như việc uống thuốc cao huyết áp vào buổi chiều thay vì buổi sáng sẽ cho phép làm cho huyết áp được quân bình hơn. Chúng ta biết rằng các trị số huyết áp sẽ hạ một cách tự nhiên vào ban đêm, ở những người có sức khỏe tốt cũng như ở vài người cao huyết áp được gọi là “ thợ lặn ” (dippers, plongeurs). Nhưng ở những người cao huyết áp khác, “ không phải là thợ lặn ” (non-dippers), không có sự giảm huyết áp trong đêm tối, điều này khiến họ bị nhiều biến chứng tim mạch hơn những người khác.
        Các thầy thuốc của Naples đã có ý nghĩ yêu cầu các người cao huyết áp “không phải là thợ lặn ” (non-dippers) đừng dùng thuốc cao huyết áp vào buổi sáng nữa mà vào buổi chiều. Kết quả : sau 2 tháng, huyết áp của họ được cải thiện rõ rệt. Vì chỉ được thực hiện trên 32 bệnh nhân, nên công trình nghiên cứu này không thể biện giải cho sự thay đổi thời khắc dùng thuốc đối với tất cả các người cao huyết áp. Hơn nữa trên thực tế khó mà phân biệt được những người cao huyết áp “ không phải là thợ lặn ” (non-dippers) , trừ phi phải kiểm tra liên tiếp và liên tục huyết áp nhiều ngày liền. Nhưng công trình nghiên cứu này sẽ mở ra một con đường nghiên cứu, được cụ thể hóa bởi một thử nghiệm rộng lớn hơn sẽ được tiến hành bởi đại học Johns Hopkins de Baltimore.
( SCIENCES ET AVENIR 2/2008).

                       
BS NGUYỄN VĂN THỊNH

                                 ( 27/1/2008)


          
                                                                                                                                 

Trở về Trang Chính