CHỌN LỰA THỨC ĂN VÀ GÂY HẠI CỦA BỌ CÁNH CỨNG HẠI DỪA (Brontispa longissima) TRÊN MỘT SỐ GIỐNG DỪA PHỔ BIẾN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 

THE COLLECTION THE FOOD AND DAMAGE OF COCONUT LEAF BEETLES (Brontispa longissima) ON SOME OF COMMONLY DISTRIBUTED ARIETIES IN THE MEKONG DELTA                                                  

 


 

Nguyễn Xuân Niệm, Trần Văn Cầu và Nguyễn Trọng Nhâm

05 tháng 06 năm 2008

Abstract

A study was carried out at Plant Protection Section of Can Tho University in 2007 to evaluate the capacity of collection the food and damage of Coconut Leaf Beetles (Brontispa longissima) on some of commonly distributed cultivars in the Mekong Delta. The obtained results: (1) Among the varieties of Ta Xanh, Dau Do, Xiem Do, Xiem Xanh, Dua Eo, Tam Quan, Dua Dua, Ta Vang, Dua Bi,... group of varieties being highly infected with Brontispa longissima were Xiem Do and Ta Xanh, averagely infected variety was Dau Do and group of varieties being lowly infected were Dua Eo and Tam Quan. (2) Brontispa longissima has aptituded to collect the food highly. When the delicious food was shortage, they can eat the unpalatable food a little then transfering to the other coconut farms to find the more favourite food. (3) There was a highly positive correlation with R2 = 0.9946 between density of Brontispa longissima and percent of area of damaged leaves.

 

Trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), việc sử dụng giống kháng được xem là tiêu chí đầu tiêu. Qua điều tra trong 2 năm 2002 và 2005 (Chi cục BVTV Kiên Giang, 2002 và 2005) và và điều tra bổ sung 13 tỉnh-thành cùng một huyện đảo Phú Quốc từ 2005 đến 2006 (Nguyễn Xuân Niệm, 2007) nhận thấy: trên các giống dừa khác nhau thì mức độ nhiễm Bọ cánh cứng hại dừa (BCCHD) cũng rất khác nhau. BCCHD là côn trùng gây hại chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ tháng 4/1999, nhưng chỉ sau 2 năm, chúng đã hiện diện khắp cả nước và gây hại rất trầm trọng (Hình 1 và 2). Do vậy, việc tìm các biện pháp phòng trừ hay quản lý chúng là yêu cầu được đặt ra. Vì vậy chúng tôi tiến hành thí nghiệm “Chọn lựa thức ăn và gây hại của BCCHD (Brontispa longissima) trên một số giống dừa phổ biến của ĐBSCL”, nhằm tìm ra giống dừa có khả năng chống chịu cao với BCCHD, để khuyến cáo cho nông dân áp dụng.

 

1. Vật liệu và phương pháp thí nghiệm

1.1. Vật liệu: Chai nhựa, vải mùng mịn, bông gòn, giấy thấm, dao, kéo, kẹp, viết chì, viết lông, dây thun, kính lúp các loại, cồn 96o , nước cất,… Mẫu lá của 5 giống dừa phổ biến: Ta Xanh, Tam Quan, Dâu Đỏ, DừaẺo, Xiêm Đỏ. Thành trùng BCCHD được bắt từ tự nhiên mạnh khỏe và đồng đều.

2.2. Phương pháp thí nghiệm: Thu lá non của các giống dừa trên, các lá được thu phải đồng đều về độ già lá, kích thước lá và thời gian thu lá không lệch nhau quá 4 giờ. Thu thành trùng BCCHD sống, khoẻ mạnh, sau đó tách chúng và cho vào hộp nhựa để quen với điều kiện mới trong 1 ngày trước khi bố trí thí nghiệm. Thí nghiệm được bố trí trong phòng theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 nghiệm thức là 5 hộp với 5 đoạn lá tương ứng của 5 giống; với 5 lần lặp lại. Bỏ vào mỗi hộp 10 thành trùng (5 cặp) BCCHD khỏe mạnh, đồng đều về kích cỡ. Tiến hành đếm mật số BCCHD hiện diện trên từng lá (giống) và tính phần trăm diện tích lá bị hại tại các thời điểm 1, 3, 6, 12, 24, 36, 48 giờ sau khi bỏ vào hộp.

 

II. Kết quả và thảo luận

Kết quả điều tra 1.292 vườn dừa tại Kiên Giang trong 2 năm (2002 và 2005) cùng điều tra bổ sung (từ 2005 đến 2006) tại 13 tỉnh-thành và huyện đảo Phú Quốc thuộc ĐBSCL cho thấy: các giống dừa được trồng phổ biến gồm: Ta Xanh, Dâu Đỏ, Xiêm Đỏ, Xiêm Xanh, Dừa Ẻo, Tam Quan, Dừa Dứa, Ta Vàng, Dừa Bị,... trong đó, phổ biến nhất là giống Ta Xanh (45,80%), kế đến là Dâu Đỏ (22,77%), Xiêm Đỏ (13,96%), Dừa Ẻo (7,51%), Tam Quan (3,71%),... (Bảng 1)

Dựa vào kết quả điều tra trên chúng tôi chọn 5 giống phổ biết nhất (Ta Xanh, Dâu Đỏ, Xiêm Đỏ, Dừa Ẻo và Tam Quan) để tiến hành thí nghiệm đánh giá khả năng ăn và chọn lựa thức ăn của BCCHD trong điều kiện phòng thí nghiệm của Bộ môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ.

 

Bảng 1. Kết quả điều tra các giống dừa phổ biến tại tỉnh Kiên Giang trong 2 năm 2002   và 2005 và điều tra bổ sung 13 tỉnh-thành cùng một huyện đảo Phú Quốc từ 2005 đến 2006 (Cần Thơ, 2007)

 

Tên giống

Trung bình của các cuộc điều tra

 
 

Số cây

Tỷ lệ (%)

 

Ta Xanh

243,50

45,18

 

Dâu Đỏ

122,75

22,77

 

Xiêm Đỏ

75,25

13,96

 

Dừa Ẻo

40,50

7,51

 

Tam Quan

20,00

3,71

 

Dừa Dứa

12,50

2,32

 

Xiêm Xanh

7,75

1,44

 

Ta Vàng

3,00

0,56

 

Dừa Bị

2,50

0,46

 

Chưa rõ

11,25

2,09

 

Tổng

539

100

 

 

Qua thí nghiệm nhận thấy: có sự biến động liên tục về mật số BCCHD trên các giống dừa ở từng thời điểm khảo sát. Khi xét về mật số trung bình của BCCHD ở tất cả các thời điểm khảo sát thì có sự khác biệt ý nghĩa ở mức xác suất 95% (Bảng 2). Mật số BCCHD cao nhất trên giống Xiêm Đỏ (3,51), kế đến giống Ta Xanh (2,00), giống Dâu Đỏ, và thấp nhất là 2 giống Tam Quan (0,63) và Dừa Ẻo (0,23) 2 giống này khác biệt không ý nghĩa ở mức xác suất 95%.

Tại thời điểm 1 giờ sau khi thả vào hộp, BCCHD tụ tập nhiều trên giống Xiêm Đỏ (3,00) và Ta Xanh (2,40), tụ tập rất ít trên giống Dâu Đỏ và không có cá thể nào trên giống Dừa Ẻo và Tam Quan. Tại thời điểm này, chúng tôi nhận thấy vẫn còn khá nhiều thành trùng BCCHD bám trên thành hộp, có thể là do các cá thể này chưa ổn định được chỗ trú ẩn cũng như chưa tìm dược nguồn thức ăn ưa thích cho mình.

Tại thời điểm 3 giờ sau khi thả, BCCHD tập trung nhiều nhất trên giống Xiêm Đỏ (5,20), kế tiếp là giống Ta Xanh (2,00), có rất ít cá thể tụ tập trên Dâu Đỏ (0,20), không có cá thể nào trên Dừa Ẻo và Tam Quan và vẫn còn một số cá thể tiếp tục di chuyển tìm nơi trú ẩn khác.

Trong thời điểm từ 6 giờ đến 12 giờ sau khi thả, BCCHD bắt đầu ổn định và gây hại mạnh. Trong thời điểm này, BCCHD thay đổi vị trí liên tục nhưng vẫn tập trung nhiều nhất trên giống dừa Xiêm Đỏ (4,40-5,00), kế đến là giống Ta xanh (1,80-2,40) và giống Dâu đỏ (1,20–1,40) tập trung với mật số rất thấp trên giống Dừa Ẻo (0,00-0,20) và giống Tam Quan (0,20). Điều này biểu hiện khá rõ nét khả năng chọn lựa thức ăn của BCCHD, chúng thường tập trung với số lượng lớn trên những loại thức ăn mà chúng ưa thích. Đây là lý do để lý giải được phần nào hiện tượng nhiễm không đồng bộ giữa các cây dừa trên cùng một khu vườn.

Trong thời gian từ 24 giờ đến 36 giờ sau khi thả, có sự di chuyển của một số cá thể BCCHD từ các lá nhiễm nặng của giống Xiêm Đỏ sang các giống khác nên mật số giữa các giống không có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên, trong thời gian này, thành trùng BCCHD di chuyển mạnh trở lại và có nhiều cá thể bám trên thành hộp, điều này cho thấy, khi nguồn thức ăn ưa thích bị hạn hẹp, BCCHD có thể chuyển qua ăn các thức ăn ít thích hợp hơn hay di chuyển để tìm nguồn thức ăn mới.

Tại thời điểm 48 giờ sau khi thả, chúng tôi nhận thấy mật số BCCHD hiện diện trên hầu hết các giống đều giảm. Tuy nhiên không phải tất cả các BCCHD trên các giống ưa thích (Xiêm Đỏ, Ta xanh, Dâu Đỏ) đã ăn gần hết đều di chuyển sang các giống ít ưa thích khác (Tam Quan, Dừa Ẻo), mà một số BCCHD di chuyển nơi khác để tìm thức ăn ưa thích, ở đây biểu hiện là bám trên thành hộp. Như vậy, chúng vẫn giữ được khả năng chọn lựa thức ăn cao.

Bảng 2. Mật số trung bình BCCHD hiện diện và phần trăm diện tích lá bị BCCHD gây hại trên từng giống dừa qua từng thời điểm khảo sát (Cần Thơ, 2007).

 

Giống dừa

Mật số trung bình BCCHD hiện diện

Trung bình % diện tích lá bị BCCHD gây hại

Dâu Đỏ

1,13

c

21,74

c

Dừa Ẻo

0,23

d

4,57

d

Tam Quan

0,47

d

5,14

d

Ta Xanh

2,00

b

46,00

b

Xiêm Đỏ

3,51

a

58,69

a

CV (%)

32,72

 

29,68

 

LSD (0,05)

0,63

 

10,66

 

Ghi chú: trong cùng 1 cột, những số có cùng chữ số a, b, c ... thì khác nhau không có ý nghĩa ở mức xác suất 95%.

Qua Bảng 2 cho thấy: trung bình % diện tích lá bị hại do BCCHD ở tất cả các thời điểm khảo sát thì có sự khác biệt ý nghĩa ở mức xác suất 95%. Ăn phá mạnh nhất trên giống Xiêm Đỏ là 58,69%, kế đến là giống Ta Xanh (46,00%), giống Dâu Đỏ (21,74%), và thấp nhất là 2 giống Tam Quan (5,14%) và Dừa Ẻo (4,57%) khác biệt không ý nghĩa ở mức xác suất 95% (Hình 3).

 

 

Qua các thời điểm khảo sát về % diện tích lá bị hại, trên các giống là thức ăn ưa thích (Xiêm Đỏ và Ta Xanh), sức ăn phá của BCCHD là rất lớn 72-75% chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn 36-48 giờ. Còn đối với các giống là thức ăn không thích hợp (Tam Quan và Dừa Ẻo), khả năng ăn phá của BCCHD không cao, chỉ 12-13% (Hình 4).

 

Khi xét tương quan giữa mật số BCCHD đeo trên lá với % diện tích lá bị hại qua các thời điểm quan sát, ta có hệ số tương quan R2 = 0,9946, tương quan thuận rất chặt. Điều đó nói lên rằng: mật số BCCHD đeo trên giống càng nhiều thì % diện tích lá bị hại càng cao (Hình 5).

 

III. Kết luận và đề nghị

3.1. Kết luận

Trong số các giống dừa được trồng phổ biến như Ta Xanh, Dâu Đỏ, Xiêm Đỏ, Dừa Ẻo, Tam Quan, Dừa Dứa, Xiêm Xanh, Ta Vàng, Dừa Bị,... nhóm giống có nguy cơ nhiễm BCCHD cao bao gồm Xiêm Đỏ và Ta Xanh, nhiễm trung bình có Dâu Đỏ và ít nhiễm bao gồm Dừa Ẻo và Tam Quan.

BCCHD có khả năng chọn lựa thức ăn cao. Khi nguồn thức ăn ưa thích bị cạn kiệt, chúng có thể ăn dặm trên cả các giống không ưa thích và sau đó di chuyển để tìm nguồn thức ăn mới phù hợp hơn.

Có tương quan thuận rất chặt với hệ số R2 = 0,9946 giữa mật số BCCHD và % diện tích lá bị hại. 

3.2. Đề nghị

Trong công tác giống, nếu trồng mới thì nên chọn 2 giống ít bị nhiễm BCCHD là Tam Quan và Dừa Ẻo, nếu trong vườn dừa cũ thì nên tuyển chặt dần các giống dừa khác bị nhiễm nặng và chỉ nên để dành 2 giống nói trên trong vườn.

Nếu trong vườn bị BCCHD gây hại nặng mà các yếu tố sinh học không kiểm soát được, thì nên chọn các cây dừa có giống Xiêm Đỏ, Ta Xanh phun xịt trước bằng 1 trong các gốc thuốc trừ sâu sau: Diazinon, Carbosulfan, Pyrethroid, Cartap, Fipronil, Etofenprox,… nồng độ chỉ cần 1/2 khuyến cáo cho các đối tượng sâu hại thường xuyên khác (Nguyễn Xuân Niệm, Trần Văn Cầu và Đặng Tiến Dũng, 2008. Đang in).

Tiếp tục tuyển chọn, lai tạo hoặc nhập giống dừa ít bị BCCHD tấn công, có năng suất cao và chất lượng tốt nhằm từng bước thay thế các giống dừa bị nhiễm nặng giúp nâng cao hiệu quả cho ngành trồng dừa.

Chúng tôi xin kính trọng cám ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Cúc (ĐHCT) đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong công trình nghiên cứu này.

 

Nguyễn Xuân Niệm(1), Trần Văn Cầu(2) và Nguyễn Trọng Nhâm(2)

(1) TT. KH&CN Kiên Giang; (2) ĐH Cần Thơ

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Chi cục BVTV Kiên Giang, 2002. Báo cáo kết quả điều tra và thí nghiệm: Nghiên cứu BCCHD (Brontispa spp.) và các biện pháp phòng trừ tại Kiên Giang. (Nguyễn Xuân Niệm tổng hợp báo cáo).

Chi cục BVTV Kiên Giang, 2005. Báo cáo kết quả điều tra và thí nghiệm: Nuôi, nhân và đánh giá hiệu quả Ong ký sinh Asecodes hispinarum nhập nội trên BCCHD tại Kiên Giang. (Nguyễn Xuân Niệm phối hợp thực hiện).

Nguyễn Xuân Niệm, 2007. Báo cáo kết quả điều tra BCCHD bổ sung tại 13 tỉnh-thành ĐBSCL và huyện đảo Phú Quốc từ 2005- 2006 (Báo cáo nội bộ).

Nguyễn Xuân Niệm, Trần Văn Cầu và Đặng Tiến Dũng, 2008. Bước đầu nghiên cứu Quản lý dịch hại tổng hợp Bọ cánh cứng (Brontispa longissima) ở ĐBSCL (Đang in).

 

Trở về Trang Chính