Abstract
A
study was carried out at Plant Protection Section of Can Tho
University in 2007 to evaluate the capacity of collection
the food and damage of Coconut Leaf Beetles (Brontispa
longissima) on some of
commonly distributed cultivars in the Mekong Delta.
The obtained results: (1) Among the varieties of Ta Xanh,
Dau Do, Xiem Do, Xiem Xanh, Dua Eo, Tam Quan, Dua Dua, Ta
Vang, Dua Bi,... group of varieties being highly infected
with Brontispa longissima
were Xiem Do and Ta Xanh,
averagely infected variety was Dau Do and group of varieties
being lowly infected were
Dua Eo and Tam Quan. (2)
Brontispa longissima
has aptituded to collect the food
highly. When the delicious food was shortage, they can eat
the unpalatable food a little then transfering to the other
coconut farms to find the more favourite food. (3) There was
a highly positive correlation with R2
= 0.9946 between density of
Brontispa longissima and
percent of area of damaged leaves.
Trong
quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), việc sử dụng giống kháng được
xem là tiêu chí đầu tiêu. Qua
điều tra trong 2 năm 2002 và 2005 (Chi cục BVTV Kiên Giang, 2002
và 2005) và và điều tra bổ sung 13 tỉnh-thành cùng một huyện đảo
Phú Quốc từ 2005 đến 2006 (Nguyễn Xuân Niệm, 2007) nhận
thấy: trên các giống dừa khác nhau thì mức độ nhiễm Bọ cánh cứng
hại dừa (BCCHD) cũng rất khác nhau. BCCHD là côn trùng gây hại
chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ tháng 4/1999, nhưng chỉ sau 2
năm, chúng đã hiện diện khắp cả nước và gây hại rất trầm trọng
(Hình 1 và 2). Do vậy, việc tìm các biện pháp phòng trừ hay quản
lý chúng là yêu cầu được đặt ra. Vì vậy chúng tôi tiến hành thí
nghiệm “Chọn lựa thức ăn và gây hại của BCCHD (Brontispa
longissima) trên một số giống dừa phổ biến của ĐBSCL”, nhằm
tìm ra giống dừa có khả năng chống chịu cao với BCCHD, để khuyến
cáo cho nông dân áp dụng.

1. Vật liệu và phương pháp thí nghiệm
1.1. Vật liệu: Chai nhựa, vải
mùng mịn, bông gòn, giấy thấm, dao, kéo, kẹp, viết chì, viết
lông, dây thun, kính lúp các loại, cồn 96o , nước
cất,… Mẫu lá của 5 giống dừa phổ biến: Ta Xanh, Tam Quan,
Dâu Đỏ, DừaẺo, Xiêm Đỏ. Thành trùng BCCHD được bắt từ tự
nhiên mạnh khỏe và đồng đều.
2.2. Phương pháp thí nghiệm: Thu
lá non của các giống dừa trên, các lá được thu phải đồng đều về
độ già lá, kích thước lá và thời gian thu lá không lệch nhau quá
4 giờ. Thu thành trùng BCCHD sống, khoẻ mạnh, sau đó tách
chúng và cho vào hộp nhựa để quen với điều kiện mới trong 1 ngày
trước khi bố trí thí nghiệm. Thí nghiệm được bố trí trong
phòng theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 nghiệm thức là 5 hộp
với 5 đoạn lá tương ứng của 5 giống; với 5 lần lặp lại.
Bỏ vào mỗi hộp 10 thành trùng (5 cặp) BCCHD khỏe mạnh, đồng đều
về kích cỡ. Tiến hành đếm mật số BCCHD hiện diện trên
từng lá (giống) và tính phần trăm diện tích lá bị hại tại các
thời điểm 1, 3, 6, 12, 24, 36, 48 giờ sau khi bỏ vào hộp.
II. Kết quả và thảo luận
Kết
quả điều tra 1.292 vườn dừa tại Kiên Giang trong 2 năm (2002 và
2005) cùng điều tra bổ sung (từ 2005 đến 2006) tại 13 tỉnh-thành
và huyện đảo Phú Quốc thuộc ĐBSCL cho thấy: các giống dừa được
trồng phổ biến gồm: Ta Xanh, Dâu Đỏ, Xiêm Đỏ, Xiêm Xanh, Dừa Ẻo,
Tam Quan, Dừa Dứa, Ta Vàng, Dừa Bị,... trong đó, phổ biến nhất
là giống Ta Xanh (45,80%), kế đến là Dâu Đỏ (22,77%), Xiêm Đỏ
(13,96%), Dừa Ẻo (7,51%), Tam Quan (3,71%),... (Bảng 1)
Dựa
vào kết quả điều tra trên chúng tôi chọn 5 giống phổ biết nhất
(Ta Xanh, Dâu Đỏ, Xiêm Đỏ, Dừa Ẻo và Tam Quan) để tiến hành thí
nghiệm đánh giá khả năng ăn và chọn lựa thức ăn của BCCHD trong
điều kiện phòng thí nghiệm của Bộ môn Bảo vệ thực vật, Trường
Đại học Cần Thơ.
Bảng
1. Kết quả điều tra các giống dừa phổ biến tại tỉnh Kiên Giang
trong 2 năm 2002 và 2005 và điều tra bổ sung 13 tỉnh-thành
cùng một huyện đảo Phú Quốc từ 2005 đến 2006
(Cần Thơ, 2007)
|
Tên giống |
Trung bình
của các cuộc điều tra |
|
| |
|
Số cây |
Tỷ lệ (%) |
|
|
Ta Xanh |
243,50 |
45,18 |
|
|
Dâu Đỏ |
122,75 |
22,77 |
|
|
Xiêm Đỏ |
75,25 |
13,96 |
|
|
Dừa Ẻo |
40,50 |
7,51 |
|
|
Tam Quan |
20,00 |
3,71 |
|
|
Dừa Dứa |
12,50 |
2,32 |
|
|
Xiêm Xanh |
7,75 |
1,44 |
|
|
Ta Vàng |
3,00 |
0,56 |
|
|
Dừa Bị |
2,50 |
0,46 |
|
|
Chưa rõ |
11,25 |
2,09 |
|
|
Tổng |
539 |
100 |
|
Qua thí
nghiệm nhận thấy: có sự biến động liên tục về mật số BCCHD trên
các giống dừa ở từng thời điểm khảo sát. Khi xét về mật số trung
bình của BCCHD ở tất cả các thời điểm khảo sát thì có sự khác
biệt ý nghĩa ở mức xác suất 95% (Bảng 2). Mật số BCCHD cao nhất
trên giống Xiêm Đỏ (3,51), kế đến giống Ta Xanh (2,00), giống
Dâu Đỏ, và thấp nhất là 2 giống Tam Quan (0,63) và Dừa Ẻo (0,23)
2 giống này khác biệt không ý nghĩa ở mức xác suất 95%.
Tại
thời điểm 1 giờ sau khi thả vào hộp, BCCHD tụ tập nhiều trên
giống Xiêm Đỏ (3,00) và Ta Xanh (2,40), tụ tập rất ít trên giống
Dâu Đỏ và không có cá thể nào trên giống Dừa Ẻo và Tam Quan. Tại
thời điểm này, chúng tôi nhận thấy vẫn còn khá nhiều thành trùng
BCCHD bám trên thành hộp, có thể là do các cá thể này chưa ổn
định được chỗ trú ẩn cũng như chưa tìm dược nguồn thức ăn ưa
thích cho mình.
Tại
thời điểm 3 giờ sau khi thả, BCCHD tập trung nhiều nhất trên
giống Xiêm Đỏ (5,20), kế tiếp là giống Ta Xanh (2,00), có rất ít
cá thể tụ tập trên Dâu Đỏ (0,20), không có cá thể nào trên Dừa
Ẻo và Tam Quan và vẫn còn một số cá thể tiếp tục di chuyển tìm
nơi trú ẩn khác.
Trong
thời điểm từ 6 giờ đến 12 giờ sau khi thả, BCCHD bắt đầu ổn định
và gây hại mạnh. Trong thời điểm này, BCCHD thay đổi vị trí liên
tục nhưng vẫn tập trung nhiều nhất trên giống dừa Xiêm Đỏ
(4,40-5,00), kế đến là giống Ta xanh (1,80-2,40) và giống Dâu đỏ
(1,20–1,40) tập trung với mật số rất thấp trên giống Dừa Ẻo
(0,00-0,20) và giống Tam Quan (0,20). Điều này biểu hiện khá rõ
nét khả năng chọn lựa thức ăn của BCCHD, chúng thường tập trung
với số lượng lớn trên những loại thức ăn mà chúng ưa thích. Đây
là lý do để lý giải được phần nào hiện tượng nhiễm không đồng bộ
giữa các cây dừa trên cùng một khu vườn.
Trong
thời gian từ 24 giờ đến 36 giờ sau khi thả, có sự di chuyển của
một số cá thể BCCHD từ các lá nhiễm nặng của giống Xiêm Đỏ sang
các giống khác nên mật số giữa các giống không có sự khác biệt
lớn. Tuy nhiên, trong thời gian này, thành trùng BCCHD di chuyển
mạnh trở lại và có nhiều cá thể bám trên thành hộp, điều này cho
thấy, khi nguồn thức ăn ưa thích bị hạn hẹp, BCCHD có thể chuyển
qua ăn các thức ăn ít thích hợp hơn hay di chuyển để tìm nguồn
thức ăn mới.
Tại
thời điểm 48 giờ sau khi thả, chúng tôi nhận thấy mật số BCCHD
hiện diện trên hầu hết các giống đều giảm. Tuy nhiên không phải
tất cả các BCCHD trên các giống ưa thích (Xiêm Đỏ, Ta xanh, Dâu
Đỏ) đã ăn gần hết đều di chuyển sang các giống ít ưa thích khác
(Tam Quan, Dừa Ẻo), mà một số BCCHD di chuyển nơi khác để tìm
thức ăn ưa thích, ở đây biểu hiện là bám trên thành hộp. Như
vậy, chúng vẫn giữ được khả năng chọn lựa thức ăn cao.
Bảng 2.
Mật số trung bình BCCHD hiện diện và phần trăm diện tích lá bị
BCCHD gây hại trên từng giống dừa qua từng thời điểm khảo sát
(Cần Thơ, 2007).
|
Giống dừa |
Mật số trung
bình BCCHD hiện diện |
Trung bình %
diện tích lá bị BCCHD gây hại |
|
Dâu Đỏ |
1,13 |
c |
21,74 |
c |
|
Dừa Ẻo |
0,23 |
d |
4,57 |
d |
|
Tam Quan |
0,47 |
d |
5,14 |
d |
|
Ta Xanh |
2,00 |
b |
46,00 |
b |
|
Xiêm Đỏ |
3,51 |
a |
58,69 |
a |
|
CV (%) |
32,72 |
|
29,68 |
|
|
LSD (0,05) |
0,63 |
|
10,66 |
|
Ghi chú: trong cùng 1 cột, những
số có cùng chữ số a, b, c ... thì khác nhau không có ý nghĩa ở
mức xác suất 95%.
Qua
Bảng 2 cho thấy: trung bình % diện tích lá bị hại do BCCHD ở tất
cả các thời điểm khảo sát thì có sự khác biệt ý nghĩa ở mức xác
suất 95%. Ăn phá mạnh nhất trên giống Xiêm Đỏ là 58,69%, kế đến
là giống Ta Xanh (46,00%), giống Dâu Đỏ (21,74%), và thấp nhất
là 2 giống Tam Quan (5,14%) và Dừa Ẻo (4,57%) khác biệt không ý
nghĩa ở mức xác suất 95% (Hình 3).

Qua
các thời điểm khảo sát về % diện tích lá bị hại, trên các giống
là thức ăn ưa thích (Xiêm Đỏ và Ta Xanh), sức ăn phá của BCCHD
là rất lớn 72-75% chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn 36-48
giờ. Còn đối với các giống là thức ăn không thích hợp (Tam Quan
và Dừa Ẻo), khả năng ăn phá của BCCHD không cao, chỉ 12-13%
(Hình 4).

Khi
xét tương quan giữa mật số BCCHD đeo trên lá với % diện tích lá
bị hại qua các thời điểm quan sát, ta có hệ số tương quan
R2 =
0,9946, tương quan thuận rất chặt. Điều đó nói lên rằng: mật số
BCCHD đeo trên giống càng nhiều thì % diện tích lá bị hại càng
cao (Hình 5).
III. Kết luận và đề nghị
3.1. Kết luận
Trong
số các giống dừa được trồng phổ biến như Ta Xanh, Dâu Đỏ, Xiêm
Đỏ, Dừa Ẻo, Tam Quan, Dừa Dứa, Xiêm Xanh, Ta Vàng, Dừa Bị,...
nhóm giống có nguy cơ nhiễm BCCHD cao bao gồm Xiêm Đỏ và Ta
Xanh, nhiễm trung bình có Dâu Đỏ và ít nhiễm bao gồm Dừa Ẻo và
Tam Quan.
BCCHD
có khả năng chọn lựa thức ăn cao. Khi nguồn thức ăn ưa thích bị
cạn kiệt, chúng có thể ăn dặm trên cả các giống không ưa thích
và sau đó di chuyển để tìm nguồn thức ăn mới phù hợp hơn.
Có
tương quan thuận rất chặt với hệ số R2
= 0,9946 giữa mật số BCCHD và % diện tích lá bị hại.
3.2.
Đề nghị
Trong
công tác giống, nếu trồng mới thì nên chọn 2 giống ít bị nhiễm
BCCHD là Tam Quan và Dừa Ẻo, nếu trong vườn dừa cũ thì nên tuyển
chặt dần các giống dừa khác bị nhiễm nặng và chỉ nên để dành 2
giống nói trên trong vườn.
Nếu
trong vườn bị BCCHD gây hại nặng mà các yếu tố sinh học không
kiểm soát được, thì nên chọn các cây dừa có giống Xiêm Đỏ, Ta
Xanh phun xịt trước bằng 1 trong các gốc thuốc trừ sâu sau:
Diazinon, Carbosulfan, Pyrethroid, Cartap, Fipronil,
Etofenprox,… nồng độ chỉ cần 1/2 khuyến cáo cho các đối tượng
sâu hại thường xuyên khác (Nguyễn Xuân Niệm, Trần Văn Cầu và
Đặng Tiến Dũng, 2008. Đang in).
Tiếp
tục tuyển chọn, lai tạo hoặc nhập giống dừa ít bị BCCHD tấn
công, có năng suất cao và chất lượng tốt nhằm từng bước thay thế
các giống dừa bị nhiễm nặng giúp nâng cao hiệu quả cho ngành
trồng dừa.
|
Chúng tôi xin kính
trọng cám ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Cúc (ĐHCT) đã giúp
đỡ chúng tôi rất nhiều trong công trình nghiên cứu này.
|
Nguyễn Xuân Niệm(1), Trần Văn Cầu(2)
và Nguyễn Trọng Nhâm(2)
(1) TT. KH&CN Kiên Giang; (2) ĐH Cần Thơ
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Chi cục
BVTV Kiên Giang, 2002. Báo cáo kết quả điều tra và thí nghiệm:
Nghiên cứu BCCHD (Brontispa spp.) và các biện pháp
phòng trừ tại Kiên Giang. (Nguyễn Xuân Niệm tổng hợp báo
cáo).
Chi cục
BVTV Kiên Giang, 2005. Báo cáo kết quả điều tra và thí nghiệm:
Nuôi, nhân và đánh giá hiệu quả Ong ký sinh Asecodes
hispinarum nhập nội trên BCCHD tại Kiên Giang. (Nguyễn
Xuân Niệm phối hợp thực hiện).
Nguyễn
Xuân Niệm, 2007. Báo cáo kết quả điều
tra BCCHD bổ sung tại 13 tỉnh-thành
ĐBSCL và huyện đảo Phú Quốc từ 2005- 2006 (Báo cáo nội bộ).
Nguyễn
Xuân Niệm, Trần Văn Cầu và Đặng Tiến Dũng, 2008. Bước đầu nghiên
cứu Quản lý dịch hại tổng hợp Bọ cánh cứng (Brontispa
longissima) ở ĐBSCL (Đang in).
Trở về Trang Chính
|