|
Trong
khuôn khổ “Dự án Điểm Trình diễn rạn san hô và thảm cỏ biển tại
Phú Quốc (Kiên Giang)” do UNEP (Chương trình Môi trường Liên
Hiệp Quốc) tài trợ, theo kết quả báo cáo của hợp phần san hô do
Viện Hải dương học Nha Trang đảm trách, cho biết:
San hô
Phú Quốc phân bố từ Bắc đến Nam đảo, với tổng diện tích là 473,9
ha, trong đó tập trung chủ yếu ở Nam Quần đảo An Thới với diện
tích 362,2 ha (chiếm 76%), lớn nhất thuộc Hòn Thơm diện tích
44ha và Hòn Vang 39ha. San hô Phú Quốc đa dạng với 260 loài (252
loài san hô cứng và 8 loài san hô mềm) thuộc 49 giống của 14 họ,
trong đó các giống chiếm ưu thế
Porites, Acropora, Montipora, Pavona, Echinopora, Diploastrea,…Độ
phủ trung bình khá cao 44,5% (Bậc 3), đặc biệt có nơi lên đến
82,5% (Hòn Bần).
Trong sinh quần san hô Phú Quốc, cá rạn san hô đóng vai trò rất
quan trọng, với 152 loài thuộc 71 giống của 31 họ, trong đó họ
cá Thia Pomacentridae: 30 loài, họ cá Bàng Chài Labridae: 21
loài, họ cá Mú Serranidae: 13 loài, họ cá Mó Scaridae: 11 loài,
họ cá Sơn Apogonidae: 9 loài, họ cá Dìa Siganidae và họ cá Đổng
Nemipteridae mỗi họ có 8 loài, họ cá Hồng Lutjanidae: 7 loài, họ
cá Miền Caesionidae: 6 loài,… Mật số trung bình 418,3
±
190,1 cá thể/100 m2. Đặc biệt nhóm cá cảnh (giá trị
kinh tế cao) hiện diện trên rạn với mật độ tương đối cao: họ cá
Thia mật độ trung bình 317,9 ± 169,9 con/100m2, trong
cá Thia đuôi dài Chromis ternatensi, Chromis sp.1 và
Chromis sp.2 chiếm ưu thế. Tiếp đến là họ cá Bàng
Chài 33,8 ± 18,2 con/100m2, họ cá Bướm 23,6 ± 8,4
con/100m2.
Đã xác
định trong vùng san hô Phú Quốc có 48 loài động vật thân mềm
(Molluscs) thuộc 3 lớp: lớp Chân bụng Gastropoda với 25 loài,
lớp Hai mảnh vỏ Bivalvia có 22 loài và lớp Song Kinh
Polyplacophora có 1 loài. Động vật Da gai bước đầu đã xác định
có 25 loài thuộc 3 lớp: lớp Hải Sâm có giá trị kinh tế cao với
18 loài, lớp Sao Biển 4 loài và lớp Cầu gai 3 loài. Về rong biển
đã xác định được 53 loài có kích thước lớn sống trong rạn san
hô, thuộc 32 Chi của 4 ngành: ngành Rong Đỏ (Rhodophyta) với 28
loài, ngành Rong Lục (Chlorophyta) với 10 loài, ngành Rong Nâu
(Phaeophyta) với 9 loài và ngành Rong Lam (Cyanophyta) với 6
loài. Với nhiều loài rong rất hiếm gặp như Symploca
hydnoides, Caulerpa racemosa, Caulerpa taxifolia, Cladophora
rugulosa, Cladophoropsis vaucheriaeformis, Struvea anastomosans,
Colpomenia variegata, Padina australis, Sargassum spp.,
Dictyota spp., Amphiroa spp. , Gelidiopsis
intricata, Gracilaria banmeiana, Halimenia maculata, Jania
ungulata, Solieria robusta, Titanophora pulchra.
Dưới
đây là một số hình ảnh về đa dạng rạn san hô của Phú Quốc (Kiên
Giang) do Viện Hải dương học cung cấp.
|
 |
 |
|
Ảnh 1: Giun
thông Noel trên rạn san hô, khu vực Hòn Móng Tay |
Ảnh 2: Cá
Bướm mõm dài Chelmon rostratus phổ biến trên các
rạn san hô khu vực Hòn Gầm Ghì |
|
 |
 |
|
Ảnh 3: Độ
phủ cao của san hô sống, khu vực Hòn Xưởng |
Ảnh 4: San
hô sừng dạng quạt, khu vực Hòn Gầm Ghì |
|
 |
 |
|
Ảnh 5: Đàn
cá Ngân Pseudocarax sp., khu vực Hòn Móng
Tay |
Ảnh 6: Hải
Quỳ và cá Khoang cổ Amphiprion perideraion, khu
vực Hòn Mây Rút Trong |
|
 |
 |
|
|
Ảnh 7: Đàn
cá Nhồng Sphyraena flavicauda trên rạn san hô,
khu vực Hòn Mây Rút Trong |
Ảnh 8: San
hô cành Acropora sp. và cá Thia, khu vực Hòn Mây
Rút Ngoài |
|
|
|
|
|
|

|
 |
|
|
Ảnh 9: Hải
Quỳ và cá Khoang cổ Amphiprion perideraion, khu
vực Hòn Xưởng |
Ảnh 10:
Cảnh quan rạn san hô, khu vực Hòn Gầm Ghì |
|
|
 |
 |
|
Ảnh 11: San
hô chết (màu trắng) do Sao biển gai ăn, khu vực Hòn Kim
Quy |
Ảnh 12: San
hô mềm, khu vực Hòn Dâm Ngoài |
Trở về Trang Chính
|