Ý Nghĩa Cấu Trúc Đền Quốc Tổ Hùng

(Góp ý với quí vị muốn xây đền Hùng ở hải ngoại)


 

 Nguyễn Xuân Quang

E-Mail: nguyenxuanquang@khoahoc.net

03 tháng 04 năm 2008

Tôi đã có dịp thăm viếng nhiều ngôi đền Hùng của nhiều cộng đồng lớn người Việt Nam ở hải ngoại. Phần lớn các ngôi đền này chưa được trọn vẹn về cấu trúc cũng như về ý nghĩa. Đa số xây đền thờ Hùng Vương ngành cha Lạc Long Quân ví dụ có ngôi đền có tượng Hùng Vương tay cầm một nắm mũi tên. Hiển nhiên đây là Vua Hùng ngành An Dương Vương dựa vào chuyện chiếc nỏ thần thuộc dòng cha Lạc Long Quân. Tệ hơn nữa có nơi xây đền thờ Lạc Long Quân (!) với hình rồng mang tính chủ mà không thấy một dấu tích gì thờ phượng Hùng Vương ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ, dòng hươu. Nên nhớ chúng ta có hai ngành Hùng Vương Lửa Nước, Mẹ Cha đề huề. Nhà thờ Quốc Tổ Hùng bắt buộc phải thờ Quốc Tổ Hùng có đủ cả hai ngành. Vùng đất tổ Miền Bắc, nhất là vùng cao, vùng núi là địa bàn của Hùng Vương ngành Mẹ, Lửa (Mẹ Tổ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi) bằng chứng là người Mường cổ Việt ở trên núi thuộc dòng Mẹ Tổ Âu Cơ nên văn hóa Mường nghiêng nhiều về phía Ngu Cơ, họ có con nai sao là biểu tượng cho Ngu Cơ. Trung Nam nghiêng về dòng Cha Tổ Lạc Long Quân vì đa số tổ tiên dân Trung Nam từ vùng Cổ Loa, châu Hoan (vùng duyên hải Bắc miền Trung) của Lạc Long Quân vốn là con cháu Hùng Vương ngành Lạc Long Quân di dân vào Trung Nam (xem bài viết Hai Dòng Văn Hóa Mẹ Cha của Người Việt).

Ngoài ra có đền xây ở phía Tây hay để bàn thờ Tổ ở phía Tây, trong khi Hùng Vương là những vị Vua Hừng Rạng, Mặt Trời Mọc Hừng Rạng thì phải để ở hướng Đông, thành thử , những người chiêm bái Quốc Tổ cứ chổng mông vào mặt Tổ mà vái lậy xì xà xì xụp. Về cấu trúc các ngôi đền này chưa hoàn chỉnh theo đúng nghĩa văn hóa Việt. Xin nhắc lại ở đây, tôi đã viết nhiều lần, cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ giáo, mặt trời giáo và Việt Dịch nòng nọc còn ghi rõ trong Sử Sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong Sử Miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong Sử Đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, đã lay-out xong). Đền Hùng Vương là đền Quốc Tổ Việt bắt buộc phải mang trọn vẹn ý nghĩa cốt lõi của văn hóa Việt. Đền Hùng phải là biểu trưng của văn hóa Việt Nam.  Xin nhắc sơ qua một chút về Vũ Trụ giáo dựa trên nòng nọc âm dương. Khởi đầu từ Hư Vô (Vô Cực) rồi có âm có dương nhưng hãy còn quyện vào nhau tức Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực (đây là khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa của Tổ Hùng sinh ra từ Bọc Trứng Vũ Trụ).

 Trứng Vũ Trụ phân cực thành Lưỡng Nghi tức phân ra âm, cực âm (vũ) và dương, cực dương (trụ). Âm dương giao hòa sinh ra Tứ Tượng. Tứ Tượng âm và Tứ Tượng dương gom lại thành bát tượng ứng với Bát Quái của Dịch. Tứ Tượng âm và dương liên tác với nhau sinh ra vũ trụ, muôn loài gọi là Tam Thế, được biểu tượng bằng một cây, gọi là Cây Tam thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống.

Ta có thể kiểm chứng lại cái cốt lõi văn hóa Việt này bằng cách nghiên cứu cấu trúc của đền Quốc Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ. Đền Quốc Tổ Hùng ở tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt, tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất trong 100 ngọn núi nên còn gọi là núi Cả.                           

 

Lĩnh nghĩa là gì?

Trước hết ta thử tìm hiểu xem tại sao núi có đền Hùng lại gọi là Nghĩa Lĩnh chứ không gọi là Nghĩa Sơn? Lĩnh và Sơn khác nhau. Lĩnh là núi dương, núi nổng, núi có đỉnh nhọn mang dương tính. Cũng xin nhắc lại núi cũng có núi âm và núi dương. Ngôn ngữ Việt cũng có giống đực, giống cái theo âm dương (Tiếng Việt Huyền Diệu). Núi dương gọi là nổng ứng với Hán Việt lĩnh và núi âm gọi là non, còn từ núi chỉ chung cả nổng (núi dương) và non (núi âm). Nổng là núi dương như thấy qua từ gò nổng. Nổng biến âm với nống là cây nọc chống đỡ, nâng vật gì lên.  Ta thường nói cứ nốnglên có nghĩa là cứ tâng, cứ bốc nó lên, cứ nâng nó lên, cứ “đẩy cây” nó lên. Như thế lĩnhnổng, núi hình trụ nọc, trụ chống nhọn đỉnh, núi dương. Ta cũng thấy rõ lĩnh biến âm với lính (quân nhân), ngày xưa chỉ phái nam, mới phải đi làm nghĩa vụ quân sự, mới phải đi lính, do đó lính ruột thịt với con trai, phái nam. Lĩnh biến âm với lịnh (lệnh). Ngày xưa lịnh là một cây nọc trên có khắc mệnh lệnh. Lịnh, lệnh hàm nghĩa cây, cọc biểu tượng cho dương, nam. Lĩnh biến âm với đinh, với đình theo kiểu biến âm linh đinh, linh đình. Đinh là vật nhọn, là con trai, thanh niên như tráng đinh, lễ thành đinh (con trai có vật nhọn, có cây “đinh”!). Đình là ngôi nhà dành cho con trai (bachelors’ house), phái nam (men’s house) vì thế mà ngày xưa cấm con gái, đàn bà bước chân vào đình. Đình có nghĩa đúng với nghĩa của ngôi nhà Lang của người Mường.  Rõ hơn lĩnh biến âm với Phạn ngữ linga, bộ phận sinh dục nam. Trong Ấn giáo linga thường diễn tả bằng một hình trụ nọc mang hình ảnh dương vật cắm trên một cái đế tròn (theo duy âm) hay đế vuông (theo duy dương hay hiệp với giống đực của linga), nếu nhìn theo âm dương hôn phối thì đế tròn hay vuông đều là yoni, lỗ sinh dục nữ. Nếu nhìn theo duy dương thì nọc dương vật cắm trên đế tròn hay vuông mang hình ảnh  núi trụ, trụ chống trời biểu tượng cho Cõi Giữa Đất thế gian, trường hợp này giống  hệt hình ảnh của những miếu Thổ Thần. Ở rải rác đó đây trên các cánh đồng miền Bắc có những miếu Thổ Thần đơn giản chỉ là một cây đa (trụ) trồng trên một cái gò hình tròn hay có bệ vuông mang hình ảnh của Núi Trụ thế gian, của linga nhìn theo duy dương. Thần Shiva có biểu tượng là linga có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Giới, Thần Đất thế gian nên có biểu tượng là con bò mộng Nandi, con thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng biểu tượng cho Cõi Giữa Đất thế gian vì thế mà các đến thờ của Ấn giáo đều có hình trụ tròn đầu trông giống Linga và giống ngọn núi Trụ Kailash ở Himalaya, được cho là nơi chôn nhau cắt rốn của Thần Shiva. Ta cũng thấy lĩnh biến âm với lang (Hùng Vương) theo kiểu biến âm linh lang (như thấy rõ qua bài hát ông Linh ông Lang). Trăm Lang Hùng là những Chàng (dân gian ngày nay, một vài nơi ở miền Bắc Việt Nam khi cúng tế vẫn xưng hô Chàng và Nàng gọi các Lang và các Mẹ Nàng Mỵ Nương), là những Lang, những Vua Mặt Trời Mọc. Hùng Vương Mặt Trời Mọc hừng rạng là những vị tráng niên, những Lang, những chàng, trong khi Kì Dương Vương có một khuôn mặt ứng với Núi Kì, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế giới (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) là Vua Mặt Trời giữa trưa, chính ngọ, ở trên đỉnh Trục Thế Giới tức Zenith, là một vị đứng tuổi, đứng bóng và Lạc Long Quân là Vua Mặt Trời Lặn, hoàng hôn (lạc dương) là một vị tuổi đã xế bóng về chiều, một cụ già râu tóc bạc phơ (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Như thế ta thấy rõ núi Lĩnh có những nghĩa như sau:

  1. Lĩnh là núi Nọc Nhọn, Núi Cọc, Núi Trụ Thế Gian (theo nghĩa Lĩnh biến âm với lịnh có nghĩa gốc là cây, nọc, cọc, với linga theo duy dương mang hình ảnh núi Trụ Thế Gian). 
  2. Lĩnh là Trục Thế Giới thông thương Tam Thế nằm trong Núi Trụ Thế Gian. Với Lĩnh biến âm với linga,  ta thấy rõ Lĩnh có một khuôn mặt là Trục Thế Giới qua truyền thuyết là Thần Shiva có một khuôn mặt là Trụ Lửa (Pillar of Fire) dài vô tận không đầu không đuôi ứng với Trục Thế Giới.

3. Núi Lĩnh là núi Lang (theo nghĩa Lĩnh biến âm với Lang), núi Trăm Lang Hùng.

  1. Lĩnh là núi Hùng có một nghĩa là đực (với nghĩa Lĩnh biến âm với đinh, đình có nghĩa là đực, nam và Lĩnh biến âm với Linga), núi Quốc Tổ Hùng Vương.
  2. Lĩnh là núi Việt (Việt có nghĩa tổng quát là vật nhọn, rìu có nghĩa gốc là vật nhọn, rìu, chàng đục biểu tượng cho dương, đực, linga), núi biểu trưng của Đại Tộc Việt.
  3. Lĩnh là núi Mặt Trời dương thái dương với nghĩa là nọc, đực, dương. Dương là đực và cũng có nghĩa là mặt trời. Lĩnh là núi biểu trưng của Đại Tộc Việt Mặt Trời thái dương. 

 

Đây là lý do núi có đền Quốc Tổ Hùng ph ải là Lĩnh tức nổng, núi dương, núi Lang, núi chàng, núi Hùng, núi Việt, núi mặt trời thái dương, núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới... chứ không gọi là sơn.

 

Nghĩa có nghĩa là gì? 

Ngày nay thường hiểu theo nghĩa là đúng, chính đáng (righteousness) như chính nghĩa (theo qui tắc từ ghép, từ đôi ta có nghĩa = chính).

 

Giải tự từ Nghĩa ta thấy có phần đầu chữ dương (đầu con dê) ở trên, ở dưới có chữ thủ (tay) và chữ qua (là thứ khí giới cán dài, một thứ rìu, một thứ việt). Như thế, theo mặt chữ, từ Nghĩa có nghĩa là “cầm rìu giết con dê” “cầm dìu chặt đầu con dê”. Chặt đầu con dê để làm gì? Dĩ nhiên là để hiến tế, giết các vật hy sinh để tế lễ, dâng hiến cúng vật cho Tạo Hóa, vũ trụ, trời đất, Thần Linh, Tổ Tiên và cả quỉ thần. Điểm này cũng thấy rõ trên giáp cốt, kim văn, cổ văn, từ Nghĩa () diễn tả bằng hình con dê núi đực, con “dương” (ram) bị giết bởi một chiếc rìu có lưỡi răng cưa để hiến tế. 

  

Ở đây ta thấy có hai điểm ăn khớp khắng khít với Quốc Tổ Hùng. Thứ nhất là chữ qua chỉ chiếc rìu qua, một thứ Việt, một thứ vật nhọn mang dương tính ăn khớp với Lang Hùng, Hùng Vương, có nghĩa là đực, là nọc, vật nhọn, là Việt, là dương, là mặt trời, qua Việt là khí biểu (ceremonial weapon) của Đại Tộc Việt, c ủa Hùng Vương Việt Mặt Trời Thái Dương và con dương (con dê) là con thú đực ăn khớp với Hùng có một nghĩa là con thú đực (thư hùng). Con dê là con thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng (hai nọc nhọn tức hai dương, thái dương) biểu tượng cho mặt trời thế gian (như thấy qua con dê là thú biểu của các vua mặt trời Ai Cập cổ ), cho Cõi Đất dương gian tương đương với con  hươu cọc, con hươu sừng,  thú biểu của Kì Dương Vương và với con bò mộng có hai sừng (con bò mộng Nandi là thú biểu của thần Shiva của Ấn giáo có một biểu tượng là linga theo nghĩa là Núi Trụ Thế Gian). Con dê với nghĩa đực, dương, mặt trời dùng làm vật hiến tế cho Hùng Vương rất chí lý. Phải dùng rìu Việt và dê, dương biểu tượng cho mặt trời trong việc hiến tế cho Tổ Hùng, Tổ Việt Mặt Trời Thái Dương mới đúng lễ nghi.

Như thế  theo nghĩa đen Nghĩa có nghĩa là giết dê để hiến tế  các Thần Tổ, Thần Linh dòng mặt trời.

 

Nghĩa Lĩnh là gì?

Vậy Nghĩa Lĩnh có những nghĩa gốc như sau:

1.      theo nghĩa Lĩnh là núi Nọc Nhọn, Núi Cọc  thì Nghĩa Lĩnh là (núi) Nọc, Cọc Hiến Tế (sacrificial post). Cọc chém trâu của các sắc tộc ở Tây Nguyên Việt Nam là một thứ cọc, nọc hiến tế, là hình ảnh nguyên sơ của Nghĩa Lĩnh.

2.      theo nghĩa Lĩnh là Trục Thế Giới nằm trong Núi Trụ Thế Gian là một con đường dùng làm phương tiện thông thương Tam Thế, thì Nghĩa Lĩnh có nghĩa là Trục Thế Giới dùng để dâng cúng vật hiến tế tới Tam Thế. Chiếc bàn thiên của dân gian Việt Nam là một hình ảnh của Trụ, Trục Thế Giới, của Nghĩa Lĩnh.

3. theo nghĩa Lĩnh là núi Lang, núi Hùng, núi Việt, núi mặt trời thái dương thì Nghĩa Lĩnh là cọc hiến tế, là Trục Thế Giới dâng cúng vật hiến tế lên Tổ Hùng và các Hùng Vương thế gian, tới Tổ Việt Mặt Trời Thái Dương.

......

Qua nghĩa này ta thấy đạo thờ cúng Tổ Tiên, ông bà, đấng sinh tạo, trời đất, vũ trụ của chúng ta là một thứ tôn giáo nằm trong Vũ Trụ giáo. 

Tiến xa hơn, ta đi tìm nghĩa rộng, nghĩa “bóng” của từ Nghĩa. Với nghĩa gốc là “tay cầm dao giết, chặt đầu con dê” dùng làm tế vật, để tạ ơn vũ trụ, trời đất, thần linh, tổ tiên cho thấy từ Nghĩa có nghĩa nghiêng nhiều về Ơn Nghĩa, ruột thịt với Ơn Nghĩa. Áp dụng qui luật từ đôi Ơn Nghĩa ta có Nghĩa = Ơn. Ơn có nghĩa là gì? Cám ơn, tạ ơn có nghĩa là cảm tạ Cõi Trên, Bề Trên (xin ơn trên phù hộ), đấng sinh tạo, Tạo Hóa, trời đất sinh tạo, tổ tiên. Việt ngữ ơn có nghĩa là một như một mình ơn, một mình ên (ên biến âm của ơn, của Hán Việt ân, của Hán ngữ phát âm theo Quan Thoại là èn). Akhadian ngữ (vùng Lưỡng Hà) On là vòng tròn. Ai Cập cổ ngữ On là mặt trời, có thành phố cổ On là thành phố Mặt Trời, chuyển qua Hy Lạp ngữ là Heliopolis. Xin nhắc lại Ai Cập cổ thuộc dòng nòng âm nên có mặt trời âm hình vòng tròn không có tia sáng giống như mặt trời âm trên lá cờ Nhật Bản con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Ơn, ân liên hệ với Phạn ngữ anda là Trứng. Trứng cũng có hình tròn O như một vài loại trứng chim (ngay cả trứng gà nhìn tổng quát cũng có hình tròn: o tròn như quả trứng gà). Như thế ta thấy Ơn viết dưới dạng chữ viết nòng nọcchữ nòng O.  Ta thấy rất rõ Ơn hiểu theo chữ viết nòng nọc O, đọc theo chữ nòng nọc, theo Dịch thì:

-theo duy dương, O là mặt trời âm đĩa tròn như vừa thấy On là mặt trời On âm của Ai Cập cổ và Ơn là số một, là Anh ngữ One (One có On, Ơn, O). Theo duy dương, số một là mặt trời như Anh ngữ solo, Pháp ngữ seul, Tây Ban Nha ngữ solamente (có nghĩa gốc là một) ruột thịt với gốc sol (mặt trời). Theo duy âm, vòng tròn là số 1 như thấy qua Anh ngữ One, trên Lạc Thư viết dưới dạng vòng tròn, qua con số 1 trên con tào cáo (dice), con bài domino. Theo âm dương hôn phối còn ở dưới dạng Nhất Thể (Unity, Oneness) số một là vũ trụ (có âm , vỏ, bao bọc và có dương trụ) như thấy qua từ Anh ngữ universe, vũ trụ (có uni- = một, -verse là quay về) là quay về Nhất Thể, tức lúc khai thiên lập địa từ giai đoạn hỗn mang (chaos) quay về Nhất Thể (Trứng Vũ Trụ, Thái Cực) tức vũ trụ.

-theo duy âm thì O là vòng tròn tức hiểu theo tổng quát là chữ nòng O mang âm tính ngược với nọc (I) như vừa thấy thì Ơn liên hệ với Akhadian ngữ On là vòng tròn. Lấy nghĩa theo duy âm ngược với nghĩa duy dương mặt trời thì Ơn có nghĩa là không gian âm.

-theo âm dương hôn phối, nhất thể thì O là trứng tròn như trứng chim có tròng trong là âm, tròng đỏ là dương như vừa thấy thì Ơn liên hệ với Phạn ngữ anda là trứng. Trứng có âm có dương mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, Nhất thể.

Như thế Ơn có nghĩa, theo duy dương là Mặt Trời đĩa tròn không gian sinh tạo, là Tạo Hóa dòng mặt trời (tức Trụ của Vũ Trụ) và theo duy âm là Hư Không, Không Gian sinh tạo là Tạo Hóa dòng Không gian (tức Vũ  của Vũ Trụ). Vậy Ơn có nghĩa chung là Vũ Trụ (có âm có dương).  Trứng Vũ Trụ có tròng đỏ là dương mặt trời sinh tạo (Trụ) và tròng trong là âm Không gian sinh tạo (Vũ). Ơn có một nghĩa là Trứng Vũ Trụ. Tóm lại Ơn có nghĩa chung là đấng Tạo Hóa sinh tạo. Cám ơn, tạ ơn là cảm tạ đấng Tạo Hóa, sinh tạo. Trứng Ơn viết theo chữ viết nòng nọc là vòng tròn có chấm   (vòng tròn là Không gian ứng với Vũ và chấm là dạng nọc dương nguyên tạo, mầm dương sinh tạo, mặt trời nguyên tạo ứng với Trụ). Chữ viết nòng nọc “vòng tròn có chấm” chính là linh tự Ai Cập cổ Ra “vòng tròn có chấm”. Ra là Thần mặt trời Tạo Hóa, Sinh Tạo (Sun as Creator) của Ai Cập cổ. Ta thấy rất rõ Thần Mặt Trời Ra “vòng tròn có chấm” này có âm (vòng tròn) và có dương (chấm nọc) qua truyền thuyết cho rằng vị thần này bán nam bán nữ, ông nhổ ra con gái và thủ dâm ra con trai. Tổ Hùng sinh ra từ bọc trứng chim nên viết theo chữ viết nòng nọc của từ trứng là vòng tròn (tròng trong) có chấm (tròng đỏ) hay cái bọc là vòng tròn còn trăm Lang đều là con trai tức đực là chấm nọc. Như thế Tổ Hùng viết theo chữ viết nòng nọc cũng là chữ  “vòng tròn có chấm”. Ta thấy rất rõ Ơn mang hình ảnh của Bọc Trứng Tổ Hùng.

Tóm lại Tổ Hùng viết theo chữ viết nòng nọc là “vòng tròn có chấm” tương ứng với Thần Mặt Trời Ra Tạo Hóa ái nam ái nữ của Ai Cập cổ (cũng nên biết thần mặt trời Ra cũng có một khuôn mặt là Thần Mặt Trời Mọc Khepri giống như Hùng Vương là Mặt Trời Mọc Hừng Rạng) nên Tổ Hùng cũng có một khuôn mặt Tạo Hóa Sinh Tạo, Nòng Nọc Âm Dương (ngành Mẹ Lửa Núi, ngành Cha Nước Biển) và nhìn theo duy dương, là Mặt Trời Tạo Hóa “Sun as Creator” giống như Thần Mặt Trời Ra. Núi Ơn (Nghĩa) là Núi Tổ Hùng, là Núi Tạ Ơn Tổ Hùng.

Ta cũng thấy rất rõ Nghĩa Lĩnh với Lĩnh như đã biết là nọc, dương (I) và Ơn là nòng O thì Nghĩa Lĩnh = Ơn Lĩnh = OI = O (.). Thật tuyệt vời, viết theo chữ viết nòng nọc Nghĩa Lĩnh, Ơn Lĩnh là “vòng tròn có chấm” ăn khớp trăm phần trăm với Tổ Hùng “vòng tròn có chấm”.  Rõ ràng núi Nghĩa Lĩnh, Ơn Lĩnh là núi Tổ Hùng như đã thấy ở trên.

Tóm lại núi Nghĩa Lĩnh có nghĩa đen là Trụ Hiến Tế, là Núi Trụ Thế Gian, trong có Trục Thế Giới dùng làm phương tiện để cúng dâng vật hiến tế lên Ba Cõi và có nghĩa rộng ra là Núi Ơn Nghĩa, núi Tạ Ơn Tạo Hóa, Vũ Trụ, Tổ Hùng. Vị nhà nho nào đặt tên ngọn núi nơi có đền Quốc Tổ Hùng là Nghĩa Lĩnh thật là uyên bác, thật là tuyệt vời.

Như thế các nhà làm văn hóa Việt Nam cần phải lưu tâm điểm này Hùng Vương có hai khuôn mặt. Một là khuôn mặt truyền thuyết là khuôn mặt Tạo Hóa, Sinh Tạo, Vũ Trụ, Không gian-mặt trời, nòng nọc, âm dương, Mặt Trời sinh tạo, Tạo Hóa. Tôi gọi là Quốc Tổ Hùng hay gọi tắt là Tổ Hùng. Khuôn mặt thứ hai là khuôn mặt thế gian hay lịch sử. Tôi gọi là Hùng Vương. Khuôn mặt thế gian, lịch sử này đội lốt hay là hiện thân hay hóa thân hay hậu thân của khuôn mặt vũ trụ Tạo Hóa, Sinh Tạo của Tổ Hùng. Khuôn mặt thế gian là khuôn mặt Đoài ao đầm tức là bọc nước ấm của Hùng Vương lịch sử đóng đô ở Việt Trì (Ao Việt).

Ta thấy rất rõ Tổ Hùng có hai khuôn mặt vũ trụ, không gian-mặt trời, có nòng âm có nọc dương mà  nòng nọc âm dương là căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ giáo, của Việt Dịch nòng nọc. Vậy thì đền Hùng bắt buộc phải mang trọn vẹn những ý nghĩa của Vũ Trụ giáo

 

Hiểu như thế rồi ta hãy quan sát đền Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ xem sao. Nhìn tổng thể ta thấy đền Tổ Hùng gồm có ba đền: Đền Thượng, Đền Trung và Đền Hạ.

Ta thấy ngay ba đền ứng với Tam Thế, nhìn dưới diện Đại Vũ Trụ (macrocosm) thì Đền Thượng ứng với Thượng Thế, Đền Trung ứng với Trung Thế và Đền Hạ ứng với Hạ Thế. Nhìn dưới diện Tiểu Vũ Trụ (microcosm) thì Đền Thượng ứng với Bầu Trời sinh tạo(Tổ Hùng), Đền Trung ứng với Cõi Đất nhân gian ứng Kì Dương Vương, Hùng Vương thế gian và Đền Hạ ứng với Cõi Nước Lạc Long Quân.  Như thế núi Nghĩa Lĩnh là Núi Trụ Tam Thế mang thêm một khuôn mặt Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống.  Ta thấy rất rõ Lĩnh với nghĩa là nọc, cọc, cây và ba ngôi đền là Tam Thế  thì núi Lĩnh có ba đền Tam thế là Lĩnh = Cây + ba đền Tam Thế  = Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống). Núi Nghĩa Lĩnh với ba ngôi đền Hùng mang hình ảnh Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Ngoài ra ta cũng thấy rất rõ ba ngôi đền trên núi mang hình ảnh chữ tam, phần núi nối ba ngôi đền là nét thẳng đứng, gộp lại ta có chữ Vương (vua). Như thế, như đã biết Lĩnh có một nghĩa là Lang, Hùng vậy thì nhìn cả ngọn núi Lang, núi Hùng với ba ngôi đền mang nghĩa Vương ta có Lang Vương, Hùng Vương. Núi Nghĩa Lĩnh với ba ngôi đền hình chữ tam mang tên Hùng Vương.

Nếu đi từ chân núi lên, ta đi qua cổng đền rồi tới:

 

Đền Hạ

Đây là Cõi Nước âm thế gian và Cõi Âm. Dưới khuôn mặt thế gian thì đây là Cõi Nước dương, vùng Nước dương, vùng sông biển của các tộc ở dưới nước, dưới thuyền như long hộ, long nhân, vạn chài [theo v=o (v là dạng dương thái dương của o) như oản (xôi) = ván (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), oang oang = vang vang,  tu oa = tù và], ta có vạn = oan, có một nghĩa là nước, chim oan ương le le là một loài chim nước; oan đọc thêm hơi vào là hoan, châu Hoan là Châu Nước dòng Lạc Long Quân (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Dưới diện Cõi Âm thì đây ứng với  thủy phủ ở vịnh Hạ Long của Lạc Long Quân. Cõi Dưới này là địa bàn chính của Mặt Trời Nước Lạc Long Quân vì vậy mà tại nơi đây cho là chỗ Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một cái bọc Trứng Chim nở ra trăm Lang. 

Phía dưới ở cách xa Đền Hạ, nằm ngoài các cổng, có Hồ Thiên Nga. Đền Hạ là Cõi Dưới, Cõi Nước, Cõi Âm  của khuôn mặt dương Lạc Long Quân vì thế dưới cõi âm này là vùng âm của âm tức thái âm, nữ.  Loài ngỗng, uyên ương, thiên nga là những loài chim nước biểu tượng cho phái nữ (chim Tinh Vệ Oan Ương là chim biểu của Nữ Oa, Vịt trời Le Le Vụ là chim biểu của Vụ Tiên, Thiên Nga là chim biểu của nữ thần Venus, người Tây phương gọi ngỗng là Mẹ Ngỗng “Mother Goose”) nên Hồ Thiên Nga biểu tượng cho âm, các Tổ Mẫu (như các Mỵ Nương, vợ của Hùng Vương...).

Nhìn theo diện âm dương tổng quát thì núi Nghĩa Lĩnh là Nọc Hiến Tế có biểu tượng Nọc, dương và Hồ Thiên Nga dưới chân núi là Nòng, âm. Như thế Đền Quốc tổ dựa trên nguyên lý âm dương, lưỡng hợp.

 

Đền Trung

Đền Trung là Cõi Giữa thế gian Li, Lửa đất thế gian. Vì vậy mà theo một tài liệu cho biết tại Đền Trung này có thờ Lửa. Đây là lửa thế gian, lửa từ núi lửa ứng với Li Cõi Giữa Đất Thế Gian Kì Dương Vương. Vì thế ở đây khuôn mặt Kì Dương Vương mang tính trội. Đền Trung Cõi Giữa thế gian nên là chỗ thờ phượng các vị Hùng Vương Cõi Giữa thế gian hay họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống.

Bên phải (của người đứng nhìn vào bàn thờ Tổ) tức phía dương (giống như khi mở bất cứ một quyển sách nào ra đọc, trang bên phải bao giờ cũng có số lẻ, tức số dương) thờ ngành dương, Lửa tức 50 Lang theo Mẹ Tổ Âu Cơ lên núi hay Hùng Kì. Vì thế mà bên phải, ở khoảng giữa Đền Trung và Đền Hạ, có Đền Giếng.  Giếng thường có hình trụ tròn mang dương tính và có nước mang âm tính tức âm của dương hay thiếu dương, Li, Đất thế gian. Theo duy âm, giếng cũng mang hình ảnh của một thứ ao đầm tức Đoài thế gian, khuôn mặt thế gian của Hùng Vương lịch sử.

 

Đền Thượng

Ứng với Thượng Thế, Cõi Trên. Đền Thượng dĩ nhiên thờ Tổ Hùng với khuôn mặt là Đấng Tạo Hóa, Mặt Trời Tạo Hóa, Sinh Tạo, Mặt Trời Vũ Trụ.

Đền Thượng có bốn nếp nhà: Nhà Trống Chuông, nhà Đại Bái, nhà Tiền Tế và Cung Thờ. Nhà chính là Cung Thờ với Cung có nghĩa là vòm mang hình ảnh của vòm Hư Không (Vô Cực), vòm không gian, vòm trời ứng với khuôn mặt vũ trụ của Tổ Hùng. Nhà Chuông Trống là nhà âm dương. Chuông có hình âm đạo, dạ con, vòm vũ trụ, vòm trời biểu tượng cho nòng, âm, nữ. Hình vòm chuông khắc trên đá của thổ dân Úc có nghĩa là đàn bà. Chiếc chuông cầu nguyện của Phật giáo Tây Tạng mà Đức Dalai Lama hay rung trong khi hành lễ có cán là hình dóng sấm thường gọi là búa thiên lôi (thunderbolt) có một khuôn mặt biểu tượng cho dương trong khi phần chuông  biểu tượng cho âm và cho trí tuệ âm, nữ (female wisdom). Trống có một nghĩa là đực, dương (gà trống) dĩ nhiên biểu tượng cho nọc, dương, nam. Nhà Chuông Trống mang biểu tượng âm dương, Lưỡng Nghi.

Trước đây ở Đền Tổ Hùng có để một trống đồng thờ, nay để tại Viện Bảo Tàng ở đây. Trống đồng này rất đặc biệt, không thấy nói tới ở những nơi khác ngoài Việt Nam. Trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh có nói tới loại trống này. Đây là loại trống đồng giống "các loại trống da" như trống Cảnh Thịnh (Tây Sơn) (trống mang ký hiệu D.6214-22), trống để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện tỉnh Nam Hà, trống đời Nguyễn trưng bày tại viện bảo tàng đền Hùng tỉnh Vĩnh Phú “về mặt hình dạng được mô phỏng theo loại trống gỗ bịt da, nhưng vẫn giữ được truyền thống của trống đồng là chúng chỉ có một mặt” (tr.14). 

Ta thấy trống đồng ở Đền Tổ Hùng “về mặt hình dạng được mô phỏng theo loại trống gỗ bịt da” tức là loại trống cái hình thùng (barrel) đựng rượu nho có hình trứng và “vẫn giữ được truyền thống của trống đồng là chúng chỉ có một mặt” tức trống để hở đáy. Mặt trống đặc biểu tượng cho dương, đặc là đực (tre đặc là tre đực) và có hình mặt trời hiển nhiên biểu tượng cho dương. Phần đáy để hổng biểu tượng cho âm (ta có từ đi đôi với nhau hổng lỗ tức hổng = lỗ, dĩ nhiên lỗ biểu tượng cho âm!). Trống đồng để hở đáylà trống đồng âm dương (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế trống đồng để ở Bảo Tàng Viện Đền Hùng là trống Trứng Âm Dương, Trống Trứng Vũ Trụ, Trống Vũ Trụ, chính là trống biểu của Tổ Hùng. Tôi gọi loại trống này là Trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang loại I (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Bốn nếp nhà này cũng có thể coi như là ứng với Tứ Tượng. Như thế có đủ trọn vẹn cả nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh.

Bên trái phía âm là Cột Đá Thề của An Dương Vương. Nên nhớ, An Dương Vương thuộc dòng Nước Cha Lạc Long Quân nên hòn đá này ở bên trái âm cùng phía Hồ Lạc Long Quân.   

Ở phía bên phải là lăng Hùng Vương thứ 6. Theo truyền thuyết thì Hùng Vương thứ 6 đánh đuổi được giặc Ân với sự trợ giúp của Phù Đổng thiên vương, về sau truyền lại ngôi cho thái tử thứ 18 là Lang Liêu, người làm ra bánh chưng bánh dầy.

Tại sao có 18 đời vua Hùng mà ở đền Quốc Tổ Hùng chỉ có lăng của Hùng Vương thứ 6 mà thôi? Tại sao các vua Hùng khác không thờ?

Dịch có 64 quẻ, tám quẻ đầu hay tầng thứ nhất trong 8 tầng (mỗi tầng có 8 quẻ) từ 0-7 ứng với vũ trụ, số 6 là số chẵn, số âm cao nhất, già nhất trong 8 quẻ đầu (0, 2, 4, 6), nên gọi là số lão âm, số thành ứng với giai đoạn hoàn thành của Vũ Trụ Tạo Sinh tức tạo ra Tam Thế.  Số 6 mang một khuôn mặt hoàn thành của Vũ Trụ Tạo Sinh sinh ra Tam Thế tức ruột thịt với Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời. Đây là lý do tôi gọi trống đồng có hình Cây Nấm Vũ Trụ (Heger I) là Trống Nguyễn Xuân Quang VI. Cũng vì số 6 ruột thịt với Cây Tam Thế nên lăng Hùng Vương thứ 6 có hình Cây Tam Thế ((xem dưới).

Như thế lăng Hùng Vương thứ 6 có một khuôn mặt biểu tượng cho Tam Thế hiển nhiên đây là một lý do vua Hùng Vương thứ 6 được chọn làm đại diện cho cả hai khuôn mặt vũ trụ Thượng Thế của Tổ Hùng vũ trụ và thế gian Trung Thế của Hùng Vương thế gian, đại diện cho tất cả 18 đời Hùng Vương.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy 6 = 2 (Lưỡng Nghi, âm dương) + 4 (Tứ Tượng). Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng rồi Tứ Tượng âm và dương liên tác sinh ra Tam Thế, được biểu tượng bằng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ.

Ngoài ra số 6 là số Tốn, gió âm, một khuôn mặt chim của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra bọc trứng O. Bọc O ở vũ trụ là bọc khí gió Đoài vũ trụ, khuôn mặt Tổ Hùng vũ trụ và bọc O ở cõi thế gian là bọc nước ấm Đoài ao đầm thế gian, khuôn mặt của Hùng Vương lịch sử. Đây cũng là một lý do vua Hùng Vương thứ 6 được chọn làm đại diện cho cả hai khuôn mặt vũ trụ và thế gian của Tổ Hùng vũ trụ và Hùng Vương thế gian.

Về ngành dương số 6, Tốn, khuôn mặt sinh tạo của Mẹ Tổ Âu Cơ nằm giữa số 5 là số Li là Lửa Đất thế gian và số 7 là Lửa vũ trụ Càn.  Mẹ Tổ Âu Cơ là con gái của Li Kì Dương Vương và là cháu nội của Càn Đế Minh. Về ngành âm, Mẹ Tổ Âu Cơ Tốn 6 hôn phối với Chấn Lạc Long Quân (số 1) sinh tạo (khuôn mặt vũ trụ) diễn tả bằng quả Bầu Nước mầu vàng trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc do tôi thiết kế và đẻ ra Đoài Hùng Vương. Như thế số 6, Tốn (Mẹ Tổ Âu Cơ) ruột thịt với tất cả Tứ Tượng Càn Li, Chấn, Đoài, liên hệ với hai cõi vũ trụ (ông nội Đế Minh, chồng Lạc Long Quân sinh tạo) và cõi thế gian (cha Kì Dương Vương, con Hùng Vương). Đây là một lý do nữa, vua Hùng Vương thứ 6 được chọn làm đại diện cho cả hai khuôn mặt vũ trụ và thế gian của Tổ Hùng vũ trụ và Hùng Vương thế gian.

 Số 6 cũng là số trục của ma phương 6/18 nằm ở ô giữa hình vuông và tổng cộng các con số đọc theo các chiều lại bằng 18.

                                              

Như thế Hùng Vương thứ 6 theo dòng máu Tốn của  Bọc Trứng Mẹ Tổ Âu Cơ là vị vua cột trụ, vị vua trục của 18 đời vua Hùng vì thế Hùng Vương thứ 6 được chọn làm đại diện cho tất cả vua Hùng.

Thái tử thứ 18 Lang Liêu làm ra bánh chưng bánh dầy để tạ ơn Tổ Hùng, tạ ơn vũ trụ, Tạo Hóa. Bánh chưng, bánh dầy biểu tượng cho âm dương, đất trời, vũ trụ, Tam Thế. Nếu để bánh chưng vuông lên trên bánh dầy tròn ta có một mandala Vũ Trụ Hôn Phối, giao hòa (mandala of Cosmic Union). Mandala này thấy nhiều trong Phật giáo Mật Tông Tây Tạng và Nepal. Như thế ta thấy Lang Liêu mang khuôn mặt của một vị vua Hùng thế gian nối dõi vua Hùng thứ 6 hay có thể coi như là vị hóa thân, hiện thân, hậu thân của Tổ Hùng vũ trụ (vì thế mới biết làm ra bánh chưng bánh dầy biểu tượng vũ trụ, trời đất, thờ Tổ Hùng vũ trụ). Hùng Vương vũ trụ thứ 6 cùng với khuôn mặt thế gian của hậu thân mình là Lang Liêu làm đại diện cho tất cả Tổ Hùng vũ trụ và Hùng Vương thế gian.

 

Lăng Hùng Vương thứ 6

 

Đó là những lý do tại sao chỉ có lăng Hùng Vương thứ VI ở đền Quốc Tổ Hùng.

Trên nóc lăng có quả Bầu biểu tượng bầu hư không, bầu tạo hóa, bầu vũ trụ, bầu trời, bầu sinh tạo, tạo hóa, Trứng Vũ Trụ. Bầu âm dương là vật biểu của Tổ Hùng. Ở Đại Vũ Trụ, Bầu là bọc khí gió vũ trụ dương là Đoài vũ trụ vì thế mà các vua Hùng mang dòng máu Gió này đóng đô  ở Châu Phong (châu Gió) và ở Tiểu Vũ Trụ cõi thế gian là bọc nước dương, nước ấm là ao đầm (pond, swamp) vì thế  mà các vua Hùng thế gian mang dòng ao đầm này mới đóng đô ở Việt Trì (Ao Việt) và có địa danh Hạc Trì (Ao Cò) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Bầu âm dương sinh ra Tứ Tượng. Lăng hình trụ vuông mang nghĩa Tứ Tượng. Tứ Tượng dương và âm tức tám tượng ứng với bát quái ăn khớp với 8 mái nhỏ của lăng. Tứ Tượng âm dương liên tác sinh ra Tam Thế biểu tượng bằng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống vì thế lăng có tầng nhỏ trên cùng ứng với Thượng Thế, phần thân lăng hình trụ vuông biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, Cõi Giữa Trung Thế, bên trong có Trục Thế Giới và nền lăng có rào vuông biểu tượng cho Hạ Thế. Lăng Hùng Vương thứ 6 mang hình ảnh Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. Cây này là biểu trưng cho Tổ Hùng và các vị Hùng Vương thế gian là những hóa thân, hiện thân của Tổ Hùng.

Nhìn cả phía bên phải dương thuộc ngành dương, Lửa, ta thấy lăng hình trụ vuông là nọc dương Lửa vũ trụ Càn thái dương và Đền Giếng là nọc, thiếu dương, Li, lửa thế gian, Đất dương thế gian. Điều này cũng đã thấy rõ ở trên là số 6 nằm giữa số 5,  số Li, lửa thế gian, Đất dương thế gian và số 7, số Càn Lửa vũ trụ. Cũng vì vậy mà lăng Hùng Vương thứ 6 để ở phía tay phải ngành dương mặc dù số 6 là số chẵn số âm. Vì trên nóc có quả bầu và vì số 6 nằm trong 8 quẻ đầu thuộc tầng vũ trụ trong 64 quẻ Dịch nên khuôn mặt Lửa vũ trụ Càn của Hùng Vương thứ 6 mang tính trội. Trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc do tôi thiết kế, khuôn mặt này ứng với quả Bầu Lửa vũ trụ mầu đỏ Đế Minh.

Về phía tay trái tức phía âm của ngành âm nước Lạc Long Quân, phía trên cao ngang với Đền Thượng là Hồ Lạc Long Quân. Tại sao Hồ Lạc Long Quân lại để trên cao ngang hàng với Đền Thượng mà không để ở Cõi Dưới, Cõi Nước ở dưới? Đây là khuôn mặt Tạo Hóa Sinh Tạo của Lạc Long Quân. Hồ ở Thượng Thế là bọc nước, bầu nước sinh tạo. Nên nhớ Lạc Long Quân cũng có một khuôn mặt vũ trụ là Thần Sấm sinh tạo, Tạo Hóa dòng nòng Nước tương đương với Đế Minh và đội lốt Thần Nông đối ứng với Viêm Đế dòng nọc Lửa. Ở cõi Tạo Hóa, sấm là tiếng nổ “big bang” thuở mới khai thiên lập địa. Trên bàn Bầu Cua Cá Cọc do tôi thiết kế  khuôn mặt sinh tạo Tạo Hóa của Lạc Long Quân được diễn tả bằng quả Bầu Nước mầu vàng đối ứng với Đế Minh được diễn tả bằng quả Bầu Lửa mầu đỏ (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Ở đây rõ ràng hồ nước Lạc Long Quân mang hình ảnh Bầu Nước sinh tạo của Lạc Long Quân ở Thượng Thế. Nhìn đối chiếu hai bên, lăng Hùng Vương thứ 6 có khuôn mặt Càn Lửa vũ trụ (Bầu Lửa mầu đỏ) ở bên phải phía dương hôn phối Hồ Lạc Long Quân (Bầu Nước mầu vàng) Chấn vũ trụ tức có sự hôn phối thái dương với thái âm ở cõi Đại Vũ Trụ vì thế mà cả hai cùng ở trên Thượng Thế (theo qui luật Grimn, d=th, đại = thái).

Nhìn riêng phía ngành Nước của Lạc Long Quân bên trái ta thấy rất rõ là Hồ Lạc Long Quân là nòng, âm, thái âm và Cột  Đá Thề An Dương Vương là nọc dòng âm, tức dương của âm hay thiếu âm.

Nhìn đối chiếu hai bên ta cũng thấy Đền Giếng thiếu dương hôn phối với Cột Đá Thờ An Dương Vương thiếu âm. Đây là hôn phối theo dạng thiếu ở cõi Tiểu Vũ Trụ (với h câm, thiếu = tiểu).

 

Ngoài ra ở đây cũng có một cây thông già 700 tuổi. Có thể đây chỉ là một cây trồng để lấy bóng mát hay làm cảnh. Tuy nhiên, ở bất cứ một nơi thờ phượng thiêng liêng nào cũng thường trồng một cây cổ thụ mang biểu tượng Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời. Ở các chùa, đình, đền, miếu thường trồng Cây Đa, Cây Đề, Cây Si. Đây là những cây mang âm tính vì có tàn lá hình vòm biểu tượng cho vòm vũ trụ. Cây mang âm tính vì có  “lá đa”. Cây Si sinh ra Mẹ Tổ Mường Việt là Dạ Dần. Cây đa trồng ở chùa vì Phật giáo là một tôn giáo tĩnh mang âm tính, Nòng, Khôn, Không Gian, Vũ Trụ âm (mọi chuyển vận trong Phật giáo đều đi theo chiều âm, cùng chiều với kim đồng hồ). Đây là lý do không trồng cây đa mang âm tính ở đền Quốc Tổ Hùng Việt Mặt Trời Thái Dương, thay vào đó trồng một cây mang dương tính biểu tượng cho ngành dương, mặt trời. Cây thông thuộc họ nhà cây dương mang dương tính vì cây có tàn hình nọc nhọn mũi mác, mũi lao, hình tam giác (trong họ này cũng có cây phi lao trông giống cây lao, một thứ khí giới) thích hợp với Tổ Hùng Mặt Trời Thái Dương mang dương tính. Trường hợp này giống như cây thông mang dương tính dùng làm cây giáng sinh cho chúa Trời (Thiên Chúa giáo là một tôn giáo duy dương) tương tự như Cây Si sinh ra Dạ Dần, Mẹ Tổ của Mường Việt và nhân loại. Cây thông giáng sinh nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo mang hình ảnh Cây Vũ Trụ sinh ra vị Chúa Tể Loài Người là Chúa Christ (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Ở đây cây thông này lại được trồng ở Thượng Thế gần với bốn ngôi nhà thờ biểu tượng cho Tứ Tượng. Như thế nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo và ở ngôi Đền Quốc Tổ Cây Tam Thế  ở đây, cây thông cổ thụ này có thể mang biểu tượng của Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế.

 

Tóm lược

Nhìn toàn diện thì:

.Núi Nghĩa Lĩnh là Nọc, Cọc Hiến Tế, Núi Tạ Ơn các Lang, các vua Hùng, Vua Việt Mặt Trời Thái Dương.

.Núi Nghĩa Lĩng là núi Hùng Vương.

.Đền có núi Lĩnh có biểu tượng là Nọc, dương và Hồ Thiên Nga dưới chân núi là Nòng, âm. Như thế Đền Quốc Tổ Hùng dựa trên nền móng nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp.

.Âm dương hôn phối sinh ra Tứ Tượng: phía phải ngành dương có lăng Hùng Vương thứ 6 hình trụ vuông mái nhọn có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc dương ngành dương là Thái dương, Càn và Đền Giếng: giếng hình trụ tròn có nước là âm của dương là Thiếu dương, Li. Phía trái ngành âm có Hồ Lạc Long Quân biểu tượng cho Thái âm, Chấn và Cột Đá Thề An Dương Vương là dương của âm tức Thiếu âm, Đoài. Như thế có đủ Tứ Tượng.

.Tứ Tượng dương và âm liên tác sinh ra vũ trụ, muôn loài, Tam thế. Đây chính là ba ngôi đền Thượng, Trung và Hạ biểu tượng cho Tam Thế.

.Tam thế được biểu tượng bằng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời. Đây chính là hình ảnh Cây (Núi Nghĩa) Lĩnh với ba ngôi đền Tam Thế. Lĩnh Tam Thế = Cây Tam Thế.

 

 Và ta cũng đã thấy các chi tiết khác của đền Quốc Tổ Hùng cũng đều chiếu theo âm dương, lưỡng hợp, theo Dịch Nòng Nọc.

 

Không còn gì để nói nữa, cấu trúc của đền Quốc Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, Phú Thọ mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch Nòng Nọc dựa trên nòng nọc âm dương, trong đó có Đạo Thờ Cúng Vũ Trụ, Trời Đất, Tạo Hóa, Tổ Hùng, Tổ Tiên. Thờ cúng Tổ Hùng, Đấng Sinh Tạo, Tạo Hóa, Tổ Tiên, Ông Bà là một thứ đạo gốc của chúng ta. Bất cứ đạo giáo nào khác tới Việt Nam cũng đều phải chấp nhận đạo gốc thờ cúng này và phải lồng nó vào tôn giáo đó.

 

Vậy muốn xây một ngôi đền Quốc Tổ ở hải ngoại, cần phải dựa theo âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc. Lý tưởng nhất là ta phải chọn một vùng đồi núi ở phía Đông mặt trời mọc để có thể xây được ba ngôi đền theo Tam Thế. Trong trường hợp không tìm được đất núi, xây đền trên đất bằng thì bên trong đền phải xây theo kiến trúc Tam Thế gồm có ba bàn thờ cao thấp theo Tam Thế ở phía đông. Trên nóc có hình quả bầu âm dương biểu tượng cho Bọc Trứng Vũ Trụ Tổ Hùng. Bàn thờ cao nhất ứng với Thượng Thế để hình tượng Tổ Hùng mang hình ảnh Đấng Tạo Hóa, Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian. Phía sau tượng có hình Trứng Vũ Trụ hay mặt trời Tạo Hóa diễn tả bằng chữ viết nòng nọc “vòng tròn có chấm” hay mặt trời âm dương có hai loại tia sáng: tia sáng âm hình sóng lửa và tia sáng dương hình nọc lửa mũi mác. Phía trước để quả bầu âm dương sinh tạo, trống đồng Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang loại I, trống biểu của Tổ Hùng...

Bên phải (của người nhìn vào bàn thờ) là phía dương, ngành Lửa (ứng với phía có Lăng Hùng Vương thứ 6 và Đền Giếng) để những vật thờ của ngành dương như lọng dẹp hình đĩa mặt trời, cờ đuôi nheo (hình răng cưa, răng sói, hình tam giác) tức cờ nọc mũi mác của ngành dương, trống thờ...

Bên trái (của người nhìn vào bàn thờ) là phía âm, ngành Nước (ứng với phía có Hồ Lạc Long Quân, Cột Đá Thờ An Dương Vương) để những vật thờ của ngành âm như tàn hình ống có tua gió  không gian, cờ vuông (hình vuông là dạng thái dương của vòng tròn âm như ta thấy linga của Ấn giáo có hai loại, một loại có đế yoni hình tròn như thấy ở Viện Cổ Chàm ở Đà Nẵng và loại có đế yoni hình vuông như thấy ở Mỹ Sơn gần Hội An, yoni vuông là dạng thái dương của yoni tròn. Tương tự bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho Mẹ Tổ Âu Cơ, U Lửa, O Lửa thái dương, Thái Dương Thần Nữ của chúng ta), cờ vuông là cờ âm thái dương của ngành âm thái dương, chuông hay cồng thờ...

Ở đây Thượng Thế có thể để những hình tượng chim biểu như chim Việt (cắt) ở bên phải, chim Nông Việt (bổ nông) ở bên trái và Cò Lang Việt ở giữa...

 

Bàn thờ ở giữa ứng với Trung Thế thờ các vua Hùng Vương thế gian gồm cả hai ngành: ngành Hùng Kì (Kì Dương Vương) ở bên phải và ngành Hùng An (An Dương Vương) ở phía bên trái. Ở đây Trung Thế, các thú biểu phải là thú Việt bốn chân. Ở phía bên phải, phía dương, Lửa có thể có hình tượng thú biểu là con Cọc (Việt) tức hươu sừng, linh thú hóa thành con nghê, con Kì (lân). Ở bên trái với thú biểu là con Cá Sấu Việt (loài cá sấu gạc có mõm dao gharial. Sấu gharial con đực có cục sừng thịt ở mũi gọi là ghar. Ghar chính là Việt ngữ gạc, có nghĩa là sừng, là vật nhọn như gạc hươu biểu tượng cho nọc, dương, Việt. Pháp ngữ garçon là con trai có gar- = gạc (garçon có gạc, có vật nhọn!). Sấu gạc là sấu Việt, một biểu tượng của dòng sống ven bờ nước của Lạc Long Quân, gạc biến âm với lạc như bắn gạc = bắn lạc. Sấu gharial là sấu gạc, sấu Lạc (Long Quân). Sấu Lạc, sấu Việt linh thú hóa thành rồng Lạc, Dao Long (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

 

Bàn thờ dưới thấp nhất ứng với Hạ Thế, Cõi Nước, Cõi Âm của Lạc Long Quân. Khuôn mặt Cõi Nước dương là Biển và với khuôn mặt Cõi Âm là thủy phủ ở Vịnh Hạ Long của Lạc Long Quân. Ở đây theo như ở đền Quốc Tổ Hùng ở Vĩnh Phú là nơi Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra bọc trứng cũng nên dành một chỗ thờ Mẹ Tổ Âu Cơ ở đây.

Nơi đây có thể để hình thuồng luồng có cốt là Rắn Nước hay hình rồng-rắn, rồng-nước, linh thú của Lạc Long Quân.

Dưới cùng là bàn thờ các Tổ Mẫu như các Mẹ Nàng, Mỵ Nương, vợ các Hùng Vương, các đấng anh thư, nữ lưu Việt di duệ của Hùng Vương ứng với khuôn mặt của Hồ Thiên Nga ở đền Quốc Tổ ở Vĩnh Phú.

Phía ngoài đền nên có một cái ao hay hồ nước tròn ứng với Hồ Thiên Nga biểu tượng cho nòng âm và nên trồng một cây mang biểu tượng cho nọc dương và cũng là biểu tượng cho Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống.

Trên đây mới chỉ là những điểm căn bản mà thôi.

 

Tổng quát đền Quốc Tổ Hùng về cấu trúc và trang trí phải mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo và Việt Dịch Nòng Nọc, cốt lõi của văn hóa Việt.  

 

Một lần nữa, ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt hừng rạng, qua cấu trúc của Đền Quốc Tổ Hùng ở Vĩnh Phú, một biểu trưng của văn hóa Việt Nam, cái cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Việt Dịch Nòng Nọc.

 

 

Tài Liệu Tham Khảo

.Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh, Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện ơœ Việt Nam, Viện Baœo Tàng Lịch Sưœ Việt Nam xuất baœn 1975.

.Phạm Trần Anh, Giỗ Tổ Hùng Vương, khoahoc.net, 19-4-07.

.Nguyễn Xuân Quang:

-Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Hc Thường Thc, 1999).

-Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).

-Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).

-The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (khoahoc.net 18 tháng 11 năm 2007).

-Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Y Học Thường Thức, 2006).

 -Gii Đọc Trng Đồng Âm Dương Đông Nam Á (đã lay-out xong).

.Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004.

 

  Trở về Trang Chính