Ghi Chú::
-Dấu bằng (=) có nghĩa là
liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị,
chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví
dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r
câm)….
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành
văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên
các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng.
-Tôi
dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ
như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ
trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ .Chỉ xin
hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp
xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền
(DNA) như ruột thị, máu mủt thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự
liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp
ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.
......
*
Hai Từ Hình Bóng Của Nhau.
Trong Việt ngữ, tôi gọi hai từ là hình bóng của nhau là
hai từ đi cặp theo nhau với một từ là hình bóng của từ kia, Từ
này có nghĩa đặc thù, chuyên biệt ruột thịt với từ kia và chính
là một từ có cùng một nghĩa với từ đó thấy trong một ngôn ngữ
liên hệ với Việt ngữ. Ví dụ phất cờ với từ phất là
hình bóng của cờ. Từ phất mang tính chất đặc thù,
rất chuyên biệt của từ cờ. Vì chúng ta khi nói đến cờ
là nghĩ ngay tới phất như cờ đến tay ai thì người đó
phất (tục ngữ). Chúng ta nói phất cờ ít khi nói
vung cờ, tung cờ, vẫy cờ. Từ phất dùng chỉnh
nhất, đi với cờ khắng khít như hình với bóng vì phất là từ
hình bóng của cờ. Nhưng điểm chính yếu là từ hình bóng này
chính là một từ có nghĩa y chang trong một ngôn ngữ liên hệ với
Việt ngữ: trong trường hợp hai từ phất cờ này thì từ hình
bóng phất chính là Anh ngữ flag, cờ. Như thế trong
Việt ngữ và Anh ngữ ta có phất cờ = flag cờ = cờ cờ. Rõ
như ban ngày phất = flag = cờ là hình bóng của cờ. Chúng ta có
thể dùng từ hình bóng này để học ngoại ngữ. Trong bài Học Anh
Ngữ Bằng Việt Ngữ này, ta hãy dùng từ hình bóng để học Anh ngữ.
Một nhận xét là trong những từ hình bóng của nhau thành tố hình
bóng có thể thấy ở dưới dạng động từ như từ phất trong
phất cờ trong khi ở từ láy, từ ghép thường thành tố láy,
thành tố ghép là danh từ.
Qui luật về hai từ hình bóng của nhau trong Việt ngữ của Nguyễn
Xuân Quang:
Hai từ hình bóng của nhau là hai từ đi cặp theo nhau như hình
với bóng với một từ là hình bóng của từ kia, từ này có nghĩa đặc
thù, chuyên biệt ruột thịt với từ đó và chính là một từ có cùng
một nghĩa với từ đó thấy trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt
ngữ.
A
-ai cà?
Ta thường hỏi ai cà? ai (vậy) cà? Cà là từ
hình bóng của ai. Thật vậy, Phạn ngữ ka, who (ai)
đẻ ra cà, Pháp ngữ qui, Latin quo (Quo
Vadis), theo w = qu (Mường ngữ wach dửa = quả dứa), ta có
who = quo, qui, cà, ka.
Tóm lại cà = Phạn ngữ ka, qui, quo... có cùng nghĩa với
ai.
B
-bánh xe
Tại sao lại gọi phần vòng tròn giúp xe lăn vận chuyển được là
bánh? Con gái tôi sinh ở Mỹ, một lần hỏi tôi tại sao
wheel đâu có ăn được lại gọi là bánh? Hiển nhiên bánh
ở đây không phải là bánh ăn. Bánh xe và bánh ăn là hai từ đồng
âm dị nghĩa. Rõ ràng từ bánh đi như hình với bóng với từ xe mang
nghĩa đặc thù của xe. Nói tới phần vành tròn của xe là nghĩ ngay
tới bánh. Từ bánh là hình bóng của xe. Xe là gì? Là vật di
chuyển được nhờ bánh xe. Anh ngữ car, Pháp ngữ char,
Latin carrus, Hán Việt xa, là xe. Theo tầm
nguyên nghĩa ngữ, carrus, car, char được cho là liên hệ với gốc
Phạn ngữ kar, to roll (lăn tròn). Theo c=x, như cọm, còm
= xọm (gầy), ta có car = kar = xa, xe, theo x=ch, xếp = chef, ta
có xe, xa = Pháp ngữ char. Theo c=x, ta có
Việt ngữ xe = Pháp ngữ cercle, ruột thịt với Anh
ngữ circle, vòng tròn. Như thế xe có nghĩa là lăn, tròn
gọi theo bánh xe. Theo biến âm b=v, ta có bánh = vành
(vật tròn). Từ vành chính là Anh ngữ wheel. Wheel
có nghĩa là bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn. Theo w=v (Mường
ngữ wac = vạc, cò đêm), ta có wheel = viền,
vành (tròn) , theo w= v=b, wheel = bánh
(xe). Bánh xe = vành xe liên hệ với Phạn ngữ val+a,
bracelet (vòng đeo tay, còng), circle, circular (vòng tròn,
tròn), với vartula (tròn), có var- = val =
vành, vạnh, tròn vành vạnh. Phạn ngữ charka,
wheel, circle có char- = Pháp ngữ char = xa, xe. Theo w=qu
(Mường ngữ wach dửa = quả dứa), wheel =
quay (tròn). Mặt khác, Phạn ngữ mandala có nghĩa gốc
là vòng tròn. Theo m=b= (mồ hôi = bồ hôi), mandala có mand-
= bánh và theo m=v, có mand- = vành
(tròn).
Tóm lại bánh xe có từ bánh là từ hình bóng của xe,
bánh = vành = mandala = wheel, ruột thịt
với Phạn ngữ chakra = car = xe = cercle = circle.
-bốc khói
Từ
bốc ruột thịt với khói. Theo biến âm b=m, bốc = móc
(sương như mưa móc, ơn mưa móc) = smoke,
khói. Ta thấy smoke = (s)mok(e) = móc.
Sương, móc ruột thịt với khói nên bốc cũng ruột thịt với khói vì
thế bốc mới đi đôi như hình với bóng cùng từ khói. Khói thường
đi đôi với sương như thấy qua từ đôi điệp nghĩa khói
sương vì khói sương trông như nhau, nhìn đều thấy mờ mịt, mù
mịt, đều trông như mist! Ta cũng thấy rõ sự liên hệ này qua
phương ngữ Huế gọi sương là cởi:
Đêm khuya cởi xuống dần dần.
(ca dao)
theo c = k = kh, cởi = khói. Rõ như hai năm là mười cởi (sương)
ruột thịt với khói.
Ở đây ta cũng có thể dùng Anh ngữ smoke, fog để
giải thích tại sao ta
thường
nói
khói
đi đôi như hình với bóng với bốc (bốc khói). Theo f=b
như fỏng = bỏng, foot = boot, ta có fog = bốc, theo m=b,
smoke, smog (smoke + fog = smog)
= bốc. Rõ ràng bốc có liên hệ nghĩa ngữ với khói sương và biến
âm với nhau nên ta thường nói bốc khói hay nói một cách
khác bốc khói là hai từ hình bóng của nhau.
Ta cũng nói bốc hơi vì hơi và khói họ hàng với nhau, còn
nói bốc lửa, bốc cháy là nói theo nghĩa lệch, gián
tiếp, ẩn dụ vì lửa và khói liên hệ với nhau, có lửa mới có khói.
Tóm lai bốc khói có từ hình bóng bốc ruột thịt với móc (sương) =
cởi = khói và ruột thịt với Anh ngữ fog, smoke, smog.
C
-cắt cụt
Cắt nguyên thủy có nghĩa chính là chặt làm cho ngắn, cho cụt bớt
đi. Cắt chỉ có thể làm cho cụt đi, chứ không thể nào làm cho
dài thêm ra được, nên cụt mang tính đặc thù của cắt. Cụt
là từ hình bóng của cắt. Cụt chính là Anh ngữ
cut là cắt.
D
-đôi đũa
Đũa là hai cây que dùng để gắp. Từ đôi đi cặp với đũa
như hình với bóng, nói tới đũa là nghĩ tới đôi:
Chồng thấp mà lấy vợ cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
(ca dao).
Đũa có nghĩa gốc là hai ruột thịt với duo, đôi,
hai, duo- = đũa,
liên hệ với Hy Lạp duò, Latin duo, Phạn ngữ dva,
Pháp ngữ deux, Tây Ban Nha dos, Nga ngữ dba
(dva-)... gốc tái tạo proto-Indo-European *dw...
Ta cũng thấy đũa đi với gắp như hình với bóng. Theo g=c
(gài = cài), gắp = cắp = cặp là đôi, hai. Cặp ruột thịt với Anh
ngữ couple, cặp, đôi. Rõ như ban ngày đũa có nghĩa là
hai, cặp, đôi.
Còn từ đôi (hai) ruột thịt với double, Tây Ban Nha
ngữ doble, với Việt ngữ phiên âm đúp. Theo t=d,
w=u, two = duo, đôi. Đại Hàn ngữ tuir,
tuur, hai, cũng liên hệ ở đây.
Hiển nhiên đôi là từ hình bóng của đũa.
G
-gài cúc
(áo).
Theo g=c như gái = cái, ta có gài = cài. Nói tới cúc áo là ta
nghĩ ngay tới gài, cài. Cúc là vật để gài để cài. Gài biến âm
với gai. Nguyên thủy con người dùng gai nhọn để cài áo,
để móc, để cột hai mép lá, vỏ cây, hai mép áo, vải lại với nhau.
Ta cũng thấy cài biến âm với cầy, cây.
Nguyên thủy cầy là khúc cây nhọn để xới đất. Khúc cây cũng dùng
làm then cài cửa. Như thế cài và gài trong trường hợp này
giúp ta tìm ra được nguồn gốc nghĩa ngữ của cúc. Cúc phải có
nghĩa là gài, cài, móc vào. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc.
Theo c=h, như cấm = hàm (răng), ta có cúc = Anh ngữ hook
(/húc/), móc. Cúc là vật để móc hai mép áo vào nhau, để gài, cài
áo. Ngày nay ta còn thấy có những loại cúc áo kiểu cổ làm bằng
que hay khúc cây nhỏ.
Ở đây ta thấy rõ như hai năm là mười là từ hình bóng giúp ta
truy tìm ra được tầm nguyên nghĩa ngữ của Việt ngữ và tìm ra
được sự liên hệ giữa Việt ngữ và ngôn ngữ liên hệ.
-gan bàn tay
Từ gan đi với bàn tay (đôi khi với bàn chân) như hình với
bóng.
Dĩ nhiên gan đây không phải là lá gan (liver)
giống như bánh xe không phải là bánh ăn. Vì là từ hình bóng của
bàn tay, bàn chân nên gan phải có nghĩa là bàn (tay,
chân). Bàn ruột thịt với bằng như chiếc bàn
làm bằng một tấm ván bằng, Hán Việt thạch bàn là phiến đá
bằng, ông Bàn Cổ có Bàn là mặt đế bằng như bàn thạch và
cổ là cột trụ (cổ là phần cột trụ cắm đầu vào thân
người). Ông Bàn Cổ là ông cột trụ có đế bằng rất vững chãi, ông
Trụ Chống Trời, người ông cứ cao mãi lên để chống trời, tách
trời ra khỏi đất khi trời đất còn dính với nhau. Từ bàn
chính là Anh ngữ palm, gan bàn tay chỉ phần
bằng của bàn tay. Các tác giả Tây phương giải thích palm
là bàn tay vì bàn tay giống lá cây palm (cọ, kè). Giải
thích này, theo tôi, là một giải thích muộn vì các từ chỉ thân
thể là những từ căn bản cân bằng bền (stable basic words) rất cổ
trong khi từ cây palm có rất muộn so với bàn tay. Có thể từ palm
gọi theo hình ảnh bàn tay chứ không phải là bàn tay gọi theo lá
cây palm. Hơn nữa palm ruột thịt với Phạn ngữ pâni = bàn
tay. Theo p=b, pal- = pân- = bằng = bàn (tay, chân). Điểm
vững chắc nhất cho thấy palm nghiêng về nghĩa bằng
là ta cũng nói gan bàn chân mà bàn chân hiển nhiên không
thể giống lá palm được. Anh ngữ plantar là gan bàn
chân. Bàn chân là phần bằng của chân, plantar ruột thịt với
plan, plane, bằng, mặt bằng (xem chữ này), có pan- =
bàn (chân).
Từ gan (bàn tay) có gốc từ Phạn ngữ gal-, hand,
bàn tay. Theo g=h (gồi = hồi), ta có gan = gal =
hand. Một điều lý thú là gan (bàn tay) không dính dáng
gì với gan (liver) nhưng vì gan (liver) đi đôi với lòng thành
một từ ghép gan lòng giống như Hán Việt can trường
(gan lòng) nên gan bàn tay còn gọi là lòng bàn tay.
Từ lòng ở đây không có nghĩa là lòng ruột nhưng hiểu theo nghĩa
là phần giữa, phần hổng, phần lõm của bàn tay cũng tạm chấp nhận
được.
Việt ngữ cũng có từ gang tay (chiều dài bàn tay) như
dưa gang,
liên hệ với gan (bàn tay) có cùng gốc Phạn ngữ gal-,
theo g=h, gang = hand.
Tóm lại gan là từ hình bóng của bàn (tay).
H
-hoi sữa
Từ hoi đi kèm với từ sữa như hình với bóng như
hoi sữa, miệng còn hoi sữa, nói tới hoi
là nghĩa tới sữa. Như thế hoi ruột thịt với sữa, bơ sữa.
Hoi với h câm là oi, ta cũng nói oi sữa. Sữa có
bơ, mỡ để lâu bị oxýt hóa trở thành hoi, oi. Miệng trẻ em bú
sữa, không rửa sạch có mùi hoi, oi sữa là vậy. Hoi chính
là Pháp ngữ huile, dầu mỡ và oi chính là Anh ngữ
oil, dầu mỡ.
Lợn, heo có nhiều mỡ là loài cung cấp mỡ nên tên của nó liên hệ
với mập, mỡ.
Con heo, con hợi là con huile, con hoi,
con oi, con oil. Con lợn là con lờn,
con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Nhờn biến âm với nhầy, nhớt (dầu
nhớt, rau đay có nhiều nhớt). Con boar (heo rừng đực, heo
đực chưa thiến) liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu,
bơ, bồ là dạng cổ của mồ như bồ hôi = mồ hôi và của mỡ), liên hệ
với beurre (Pháp ngữ). Con heo kêu oint oint là
kêu oil oil, theo tiếng Việt là kêu “oi oi”. Ointment
là thuốc mỡ có oint-, mỡ dầu.
Tóm lại hoi, oi là từ hình bóng của sữa.
K
-khét tiếng
Ta có từ khét là một từ đặc thù đi với từ tiếng
như hình với bóng. Thật vậy, ta cũng nói vang tiếng với
vang liên hệ với âm, tiếng như âm vang, ầm vang, vang
vọng. Như thế khét phải có nghĩa liên hệ với tiếng
và là một từ có trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ. Với h
câm ta có khét = két. Con chim biết nói tiếng
người gọi là con két, có nơi gọi là con vẹt, nói như
két, nói như vẹt. Loài chim két, vẹt này được gọi tên
vì biết nói tiếng người giống như con yểng, một loài thuộc họ
chim sáo cũng nói được tiếng người. Mường ngữ iểng là nghe, liên
hệ với tiếng. Theo k= v như kênh = vênh, ta có két = vẹt.
Vẹt chính là Anh ngữ verb, (tiền tố hay gốc từ) như
verbal, thuộc về verb, verbalism, phát biểu bằng lời
nói, lời nói, câu văn, từ ngữ, -verbalist, nhà phê bình,
chỉ trích chuyên về lời nói,
verbalization, verbalize,
nói dài dòng văn tự, nói nhiều lời.
Verb có nghĩa là lời nói, tiếng, tiếng nói, từ, chữ, động từ...
.verb = vẹt, con vẹt là con nói, loài chim nói được tiếng
người. Con vẹt = con két = con verb.
.verb- = vách, vanh vách (nói vanh vách), vạch như
vạch ra hàm nghĩa nói ra liên hệ với Phạn ngữ vach, to
speak, vâch, speaking (xem chữ này). Theo v=m, vách =
mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo). Theo v=b, verb,
vẹt, vách, Phạn ngữ vach = bạch như biện bạch, bạch
thầy. Theo v=b, vac-, var- = bạch. Anh ngữ parrot, két,
vẹt có par- = Phạn ngữ var(t), varh,
bark, nói liên hệ với ban như bảo ban, ban phán.
Theo p=b=v, par(rot) = var(t) = ban, bạch, vách, verb, vẹt.
.theo v=b=ph, verb = phét, phét lác (nói láo).
.theo v= c=k=kh, verb = khoét, láo khoét.
Rõ ràng khét là từ hình bóng của tiếng.
L
-lửa cháy
Nói tới lửa là ta nghĩ tới cháy. Cháy có chá- ruột
thịt với Anh ngữ char, cháy, đốt, cháy thành than, thiêu
rụi, với charcoal, charbon (Pháp ngữ), than. Ta thấy char = chả
là thức ăn nướng than như char-broiled hamburger. Chả là thịt
nướng than như bún chả Hà Nội, chả quế. Người Huế có món tôm
nhuyễn nướng than gọi là chạo cũng có cùng gốc char, chả.
Cái chảo dùng rán thức ăn cũng có gốc chả, char, cháy.
Nên nhớ đúng nghĩa ra từ chả chỉ áp dụng cho thức ăn
nướng than, lửa mà thôi. Sau này dùng rộng ra, chả cũng chỉ
thức ăn rán, chiên như chả giò, chả ram, chả trứng (loại rán,
chiên) cũng tạm chấp nhận được. Tuy nhiên, giò lụa là món luộc,
mọc trứng là món hấp nếu nói là “chả” lụa, “chả” trứng, chả đùm
là sai ngữ pháp. Vào tiệm ăn gọi một đĩa cơm tấm bì chả trứng,
nhà hàng nào cũng đem ra mọc trứng hấp thịt chứ không phải là
trứng nướng than hay chiên. Trứng hấp thịt miến, mộc nhĩ phải
nói là mọc trứng như người Bắc mới đúng ngữ pháp. Quảng Đông ngữ
chá xíu, xá xíu là thịt nướng cũng liên hệ với
chả, char, cháy. Chá xíu có chá cùng một gốc với cháy.
Chá xíu biến âm với cháy thiêu.
M
-mặt trăng, mặt trời.
Ta có từ mặt đi cặp với trăng, trời (mặt
trăng, mặt trời) như hình với bóng. Trăng, trời là những vật
sáng. Theo biến âm tr=s như trả = sả (chim bói cá), ta có trăng
= sáng. Trăng biến âm với trắng, trong, trong trắng. Trong đi
đôi với sáng như trong sáng. Cổ ngữ Việt blăng,
trăng ruột thịt với Pháp ngữ blanc, trắng, Anh ngữ
blank, để trắng, trống. Pháp ngữ lune, Tây Ban Nha, Ý
ngữ luna, Latin lunes, trăng… liên hệ với light,
lumière, luz, ánh sáng. Từ trời, chời biến
âm với chói hàm nghĩa sáng như thấy qua từ đôi chói
sáng. Theo ch =s (chữa = sửa), chời = soi, soi sáng.
Theo c=s như coi = soi (xem), ta có cời = soi (sáng). Như thế
mặt phải có nghĩa là sáng: mặt sáng như gương tầu. Việt
ngữ mặt biến âm với mắt, có một nghĩa là sáng như
sáng mắt ra, người có mắt là người sáng, là người nhìn
thấy sự vật, người không có mắt, không sáng là người tối, người
mù. Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision,
nhìn, thấy. Theo m=b, mặt = bật (làm cho sáng) như
bật đèn, bật lửa, bật quẹt, bật sáng lên = Phạn Ngữ bhà-,
làm cho sáng lên.
Việt ngữ mặt liên hệ với Anh ngữ mask, mặt nạ, Phạn ngữ
mâsa, mặt có mâs- = mặt = mask.
N
-nấm mồ
Từ nấm đi cặp với mồ như hình với bóng. Mồ, mả là
mô đất có hình vòm dùng dể chôn, người chết. Theo Vũ Trụ giáo,
mồ mả đắp hình vòm, các nóc nhà mồ cũng có mái hình vòm biểu
tượng cho vòm hư không, vòm vũ trụ, vòm trời. Cây nấm có chỏm
hình vòm là biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời
Sống. Người Thái ở Nghệ An có cây nấm là Cây Vũ Trụ, Cây Tam
Thế, Cây Đời Sống (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).
Trống đồng âm dương Nguyễn Xuân Quang VI tức Heger I có hình cây
nấm (bằng đầu vì vòm nấm đập dẹp xuống làm
mặt trống) mang hình ảnh Cây Nấm Vũ Trụ (Giải Đọc Trống Đồng Âm
Dương Đông Nam Á). Người chết được chôn trong mồ mái vòm với ý
nghĩa là trở về với vòm vũ trụ, với hư không, với Cây Đời Sống
để được tái sinh hay về miền vĩnh cửu. Tương tự người chết (hay
một phần thân thể người chết như đầu hay tro than) được chôn
trong trống đồng âm dương, trong chum vò cũng
có cùng một quan điểm như vậy.
Từ mồ ruột thịt với Anh ngữ mound, đống, gò, mô
đất, đồi núi nhỏ, mu lồn, liên hệ với mount, đồi núi,
lũy thành, bàn đạp để leo lên ngựa, phần nhô cao quanh khung
ảnh, với mountain, núi, đống to, đống lớn liên hệ với
Latin mont-, mons, đồi. Mồ, mô liên hệ với gốc tái
tạo Tiền cổ Ấn Âu ngữ (PIE) *mel-/*mol-, đồi, núi.
Gò đống là một hình thức nguyên sơ của tháp (kim tự tháp),
giống như mồ, kim tự tháp là nơi chôn cất các người lãnh đạo,
vua chúa. Chúng ta có các gò đống như gò Đống Đa, gò Đống Lã, gò
Đống Anh... Thổ dân Mỹ châu có tộc chuyên đắp gò đống được gọi
là Mound-Builders. Các gò đống này cũng như kim tự tháp được coi
là đường lên trời, Trục Thế Giới và cũng là mồ chôn của những
người quyền thế để họ có thể về với vũ trụ. Hiển nhiên ta thấy
mồ mang hình bóng của Nấm Vũ Trụ, Nấm Tam Thế, Nấm Cây Đời vì
thế mà Việt ngữ mới có từ nấm mồ. Hiện nay ở Việt Nam,
các mồ mả xây theo kiểu nhà lầu, cung điện như ở Huế có “phố
ma”, các loại này không có nóc hình vòm, theo đúng nghĩa của mồ,
thì không thể gọi là mồ nữa mà chỉ là chỗ ma ở mà thôi. Người
chết chôn trong các phố ma này không thể trở về với vòm hư vô,
vũ trụ mà chỉ lẩn quất ở cõi thế gian phàm tục này. Ở Hoa Kỳ, mồ
mả chôn bằng mặt đất, hồn người chết cũng chỉ luẩn quẩn ở Cõi
Bằng thế gian ta bà này. Mồ mả hiện nay về ý nghĩa biểu tượng
không bằng cái nấm đất, cái mả thằng ăn mày ngày trước.
O
-ơn trên
Chúng ta nói ơn trên, không hề nói ơn dưới như thế từ
trên cho biết nguồn gốc ngữ của từ ơn và hai từ là
hình bóng của nhau. Trên liên hệ với trời. Theo th=tr như tháng
= trăng, ta có Việt ngữ trên = Mường ngữ then
(trên, Mường Then là Mường Trên) = Hán Việt thiên. Rõ
ràng trên ruột thịt với trời, chời. Ta cũng thấy với h câm, chời
= cời = côi (phương ngữ Huế) có nghĩa là trên, liên hệ
với trời. Như thế ơn phải có nghĩa là trời. Thật vậy tạ ơn
là tạ trời, cám ơn là cảm tạ trời.
Ơn chính là Anh ngữ on, trên. Ta có on = ơn
(ân). Ơn là trời. Ai Cập có thành phố Mặt Trời On sau này
chuyển qua Hy Lạp ngữ là Heliopolis. Akhadian ngữ (Lường Hà)
on là vòng tròn (vòng tròn biểu tượng hư không, mặt trời);
Sơ Đăng on, Mạ unh, Xì Tiêng onh là lửa
liên hệ với trời, mặt trời. On liên hệ với ên
(một như một mình ên), với one, một có một nghĩa
là trời, trời là số một (xem one).
Như thế rõ ràng ta có ơn = trên = then = thiên =
trời = Anh ngữ on, trên.
P, Ph
-phí tổn
Phí là tiền phải trả cho một dịch vụ nào
đó như lệ phí, học phí, y phí. Phí chính là Anh ngữ
fee.
Tổn là biến âm của tốn như tốn
tiền, tốn kém, tốn phí (tốn phí giống như tổn
phí hay phí tổn). Tốn, tổn chính là Anh ngữ
toll, lệ lệ phí đường xá, “tiền mãi lộ”, điện thoại, toll
free là không tốn (tiền), miễn phí. Rõ ràng phí tổn là hai
từ hình bóng của nhau.
Q
-quạt mát
Quạt và mát đi với nhau như hình với bóng. Bà Hồ Xuân Hương
trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có câu:
Mát
mặt anh hùng khi tắt gió.
Theo qu=v như quấn = vấn, ta có quạt = Phạn Ngữ vát,
to fan (quạt). Quạt liên hệ với gió thấy rõ qua sự liên
hệ giữa Phạn ngữ vát, to fan và Phạn ngữ vâta,
gió. Thep v=m, ta có vát, vâta = mát. Việt
ngữ mát liên hệ với Anh ngữ fresh, mát, tươi như fresh
air, không khí tươi mát. Theo m=b=f, ta có mát = fresh.
Hiển nhiên mát là hình bóng của quạt. Như đã biết ta có từ ghép
quạt phành phạch, phần phật. Theo ph = f= b=v,
phành = fan, quạt = Mường ngữ phán (phướn),
một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma = Anh ngữ
banner (phướn, phán). Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ
phán, banner ruột thịt với quạt fan, liên hệ
với gió. Thành tố láy phạch như quạt phạch phạch cả đêm
(xin đừng hiểu theo kiểu quạt Hồ Xuân Hương!) = Anh ngữ flag
(cờ). Tương tự phần phật có phần = fan và phật
= flag cũng liên hệ với gió (Học Anh Ngữ Qua Từ Ghép).
Tóm lại quạt, cờ là hình bóng của gió, của mát.
R
-rặng núi
rặng đi với núi như hình với bóng. Rặng chính là Anh ngữ
range, rặng (núi).
S
-sao sáng
Sáng
đi kèm với sao như hình với bóng như ta có bài đồng dao
một ông sao sáng hai ông sáng sao. Mường Việt cổ
gọi sao là sáng như nàng sáng, ông sáng.
-Sáng ruột thịt với Anh ngữ shine, sáng.
.shine = /sai/ = sao là sáng, (xem dưới) liên hệ với Phạn Ngữ
chand, to shine, theo ch=s, chand = sáng.
Ta cũng thấy chand = chăng, trăng (moon) có
nghĩa là sáng. Vì có nghĩa là sáng nên đi đôi với mặt (có
nghĩa là sáng) như mặt trăng (xem trên), Phạn Ngữ ghan,
to shine, theo g=s, ghan = sán (lạn), sáng lạng,
sáng láng. Xin lưu tâm, vì liên hệ với hai gốc Phạn khác nhau
nên ta có hai từ sán (lạn) và sáng (lạng). Cả hai
đều đúng cả. Phạn Ngữ kanch, to shine, có kanc- =
sáng (k=s). Kanc- cho ra candle, nến (xem từ này).
.theo s=c, /shai/ = chói (chang, sáng) = chời (mặt sáng).
-Sao chính là Anh ngữ star, Trung cổ Anh ngữ sterre,
Latin sidus, sao, Phạn ngữ tárá, sao. Tất cả có
nghĩa gốc nghĩa là sự tỏa ra của ánh sáng.
.có s(t)ar, sid- = sáng, sao. Sao biến âm với sủa có
nghĩa là sáng thấy qua từ láy sáng sủa. Mã Lai ngữ
suar là lửa hiệu, đuốc, đèn dùng làm hiệu sáng. Sao liên hệ
với cổ ngữ Nhật asa, sáng, asu là sáng mai (sáng
sớm). Cũng nên nhắc lại là Nam Dương ngữ aso là con chó
rất gần cận với Nhật ngữ asa, asu này. Con chó là
con sáng giống hệt như con sói, con lang. Con sói là con
chói, con lang là con láng, con lạng,
con sáng, Latin lupus (sói) là con lux,
luz, ánh sáng. Trăm Lang Hùng Vương có Lang có một
nghĩa là Sáng (Ánh Sáng, Mặt Trời Mọc rạng sáng) có con
thú biểu bốn chân là con Lang vì thế Hùng Vương thứ nhất có hiệu
là Lân Lang (Lang Sáng) và dân gian Việt Nam múa thiên cẩu
vào các dịp lễ lạc. Các Lang Hùng Vương phải hiểu là các Quang
Lang (Lang Sáng, Ánh Sáng) còn hiểu là Quan Lang với quan là
mandarin, một chức tước của Trung Hoa là sai (Khai Quật Kho
Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
.star có -tar = tá là lửa, là sáng như ông
Táo là thần bếp lửa, Mường Việt tá, đá là con cháu dòng
mặt trời, lửa như Tá Cần, Tá Cài, Ba Tư Tar,
thần lửa, Ai Cập Ptath, Thần Mặt Trời, Nga ngữ csar,
hoàng đế (một thứ con trời). Cụm từ tá hỏa tam tinh
cho thấy rõ tá đi đôi với hỏa và liên hệ với
tinh (sao). -Tar liên hệ với tỏa (sáng),
tia (sáng). Phạn Ngữ tàrá, sao và stri =
sid- = sáng.
.-tar, tá- = tua. Việt ngữ tua là sao nhữ
tua rua (Tiểu Hùng Tinh) = sao tua, sao rua. Theo
biến âm kiểu te tua, ta có tua = te = gốc tái tạo Ấn Âu
ngữ (IE) * ster-, sao. Ta thấy rõ tua, tua rua
liên hệ với Phạn ngữ tàrá sao.
Hiển nhiên sáng và sao là hai từ
hình bóng của nhau. Sáng là từ cổ của sao.
T
-theo
đuôi
theo đuôi
là
hai
từ
hình bóng của nhau. Nói tới đuôi là ta nghĩ ngay tới theo
nên theo
cũng hàm nghĩa đuôi hay liên hệ với
đuôi. Ta thấy theo chính là Anh ngữ tail, đuôi.
Tail = /teo/ = Việt ngữ theo. Theo đuôi đẻ ra từ đôi theo
đuổi, đeo đuổi.
Ta có tail =
/teo/ = đeo (đ=t) và đuổi là biến âm của đuôi
giống nghĩa với
Anh ngữ tailgate. Việt ngữ đèo có nghĩa là mang
phía sau lưng, sau đuôi (như xe đạp đèo người ỡ phía
sau) là biến âm của tail. Việt ngữ đèo
bòng có đèo là mang phía sau lưng, sau đuôi và
bòng là bồng là bế. Một ông đèo bồng là cõng một bà ở phía
sau đuôi và bồng một bà ở phía trước. Ta cũng có từ nói leo
có nghĩa là nói theo, nói theo đuôi. Theo l=th như lủng = thủng,
ta có leo = theo.
-tiếng nói
Tiếng
là từ hình bóng của nói. Nói là phát ra tiếng, nói chính là
tiếng. Tiếng liên hệ với Pháp ngữ ton, Anh ngữ tune.
Ta thấy nói chính là Anh ngữ noise, tiếng, tiếng động.
Noise có noi- = nói. Hai từ là hình bóng với nhau,
tiếng nói có tiếng = nói = noise.
V
-vã mồ hôi
Mồ hôi hay bồ hôi có mồ biến âm của mỡ và bồ
là biến âm của mồ nên cũng có nghĩa là mỡ dầu như bồ
hòn là trái tròn có dầu mỡ dùng giặt quần áo như soap, savon
(xà phòng), bồ kết là trái có chất dầu dùng gội đầu.
Bồ ruột thịt với bơ, beurre. Mồ hôi là chất
nước có dầu mỡ bị vi trùng oxýt hóa thành hôi vì thế mới nói là
mồ hôi dầu (xem từ sweat).
Vã đi với mồ hôi như hình với
bóng. Ta cũng nói vã nước lên mặt. Vã ruột thịt
với gốc va là nước ví dụ và [cỏ và là cỏ
mọc bên bờ nước, vại, vật đựng nước, vắt (vặn nước
ra), vàm, vùng thấp sũng nước liên hệ với swamp,
đầm, (có -wam- = vàm]. Vã ruột thịt với Anh ngữ vat
(thùng lớn); (Đức ngữ vatten nước, Nga ngữ vodka, rượu,
Phạn Ngữ vaçâ, bò sữa (sữa là thứ nước con người uống đầu
tiên)…
X
-xe lăn
(bánh).
Từ lăn chỉ tính đặc thù của xe vì ta biết từ xe gọi tên theo
bánh xe tròn. Xe, xa, car có cùng gốc Phạn ngữ kar, to
roll, lăn tròn (xem trên). Tròn đi với lăn như hình với bóng như
thấy qua từ đôi lăn tròn. Lăn liên hệ với Anh ngữ roll.
Theo r=l (róc mía = lóc mía), ta có roll = lăn, xe
lăn bánh hàm nghĩa là xe chạy. Ta cũng thấy rất rõ
roll ruột thịt với rota, bánh xe (Rotary Club, Phù
Luân Hội). Roll = lăn có nghĩa là lăn bánh tức xe
chạy.
Tóm lại ta có lăn là hình bóng của bánh xe =
roll là hình bóng của rota, bánh xe.
Kết luận
Những từ hình bóng của nhau cũng như từ láy, từ ghép giúp ta
truy tìm gốc từ, nguồn gốc nghĩa ngữ và mối liên hệ giữa Việt
ngữ và ngôn ngữ loài người nhất là những ngôn ngữ liên hệ mật
thiết với Việt ngữ.
Trở về Trang Chính