HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT VÀ NGƯỢC LẠI

 HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT QUA HAI TỪ HÌNH BÓNG CỦA NHAU


 

BS Nguyễn Xuân Quang

06 tháng 12 năm 2007

Ghi Chú::

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong  hai  gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ  phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

 -Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng  và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng.

 -Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ  như  thế  nào không nằm trong phạm vi bài  viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ .Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua  môi sinh như  tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủt thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

 ......

                                               *

 

  Hai Từ Hình Bóng Của Nhau.

 

Trong Việt ngữ, tôi gọi hai từ là hình bóng của nhau là hai từ đi cặp theo nhau với một từ là hình bóng của từ kia, Từ này có nghĩa đặc thù, chuyên biệt ruột thịt với từ kia và chính là một từ có cùng một nghĩa với từ đó thấy trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ. Ví dụ phất cờ với từ phất là hình bóng của cờ. Từ phất mang tính chất đặc thù, rất chuyên biệt của từ cờ. Vì chúng ta khi nói đến cờ là nghĩ ngay tới phất như cờ đến tay ai thì người đó phất (tục ngữ). Chúng ta nói phất cờ ít khi nói vung cờ, tung cờ, vẫy cờ. Từ phất dùng chỉnh nhất, đi với cờ khắng khít như hình với bóng vì phất là từ hình bóng của cờ. Nhưng điểm chính yếu là từ hình bóng này chính là một từ có nghĩa y chang trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ: trong trường hợp hai từ phất cờ này thì từ hình bóng phất chính là Anh ngữ flag, cờ. Như thế trong Việt ngữ và Anh ngữ ta có phất cờ = flag cờ = cờ cờ. Rõ như ban ngày phất = flag = cờ là hình bóng của cờ. Chúng ta có thể dùng từ hình bóng này để học ngoại ngữ. Trong bài Học Anh Ngữ Bằng Việt Ngữ này, ta hãy dùng từ hình bóng để học Anh ngữ.

Một nhận xét là trong những từ hình bóng của nhau thành tố hình bóng có thể thấy ở dưới dạng động từ như từ phất trong phất cờ trong khi ở từ láy, từ ghép thường thành tố láy, thành tố ghép là danh từ.

 

Qui luật về hai từ hình bóng của nhau trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Hai từ hình bóng của nhau là hai từ đi cặp theo nhau như hình với bóng với một từ là hình bóng của từ kia, từ này có nghĩa đặc thù, chuyên biệt ruột thịt với từ đó và chính là một từ có cùng một nghĩa với từ đó thấy trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ.

 

 

                                                     A

-ai cà?

 

Ta thường hỏi ai cà? ai (vậy) cà? là từ hình bóng của ai. Thật vậy, Phạn ngữ ka, who (ai) đẻ ra , Pháp ngữ qui, Latin quo (Quo Vadis), theo w = qu (Mường ngữ wach dửa = quả dứa), ta có who = quo, qui, , ka.

Tóm lại cà = Phạn ngữ ka, qui, quo... có cùng nghĩa với ai.

 

                                                           B

-bánh xe

 

Tại sao lại gọi phần vòng tròn giúp xe lăn vận chuyển được là bánh? Con gái tôi sinh ở Mỹ, một lần hỏi tôi tại sao wheel đâu có ăn được lại gọi là bánh? Hiển nhiên bánh ở đây không phải là bánh ăn. Bánh xe và bánh ăn là hai từ đồng âm dị nghĩa. Rõ ràng từ bánh đi như hình với bóng với từ xe mang nghĩa đặc thù của xe. Nói tới phần vành tròn của xe là nghĩ ngay tới bánh. Từ bánh là hình bóng của xe. Xe là gì? Là vật di chuyển được nhờ bánh xe. Anh ngữ car, Pháp ngữ char, Latin carrus, Hán Việt xa, là xe. Theo tầm nguyên nghĩa ngữ, carrus, car, char được cho là liên hệ với gốc Phạn ngữ kar, to roll (lăn tròn). Theo c=x, như cọm, còm = xọm (gầy), ta có car = kar = xa, xe, theo x=ch, xếp = chef, ta có xe, xa = Pháp ngữ char. Theo c=x, ta có Việt ngữ xe = Pháp ngữ cercle, ruột thịt với Anh ngữ circle, vòng tròn. Như thế xe có nghĩa là lăn, tròn gọi theo bánh xe. Theo biến âm b=v, ta có bánh = vành (vật tròn). Từ vành chính là Anh ngữ wheel. Wheel có nghĩa là bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn. Theo w=v (Mường ngữ wac = vạc, cò đêm), ta có wheel = viền, vành (tròn) , theo w= v=b, wheel = bánh (xe). Bánh xe = vành xe liên hệ với Phạn ngữ val+a, bracelet (vòng đeo tay, còng), circle, circular (vòng tròn, tròn), với vartula (tròn), có var- = val = vành, vạnh, tròn vành vạnh. Phạn ngữ charka, wheel, circle có char- =  Pháp ngữ char = xa, xe. Theo w=qu (Mường ngữ wach dửa = quả dứa), wheel = quay (tròn). Mặt khác, Phạn ngữ mandala có nghĩa gốc là vòng tròn. Theo m=b= (mồ hôi = bồ hôi), mandala có mand- = bánh  và theo m=v, có mand- = vành (tròn).

Tóm lại bánh xe có từ bánh là từ hình bóng của xe, bánh = vành = mandala = wheel, ruột thịt với  Phạn ngữ chakra = car = xe = cercle = circle.     

 

 -bốc khói

 

Tbốc ruột thịt với khói. Theo biến âm b=m, bốc = móc (sương như mưa móc, ơn mưa móc) = smoke, khói. Ta thấy smoke = (s)mok(e) = móc. Sương, móc ruột thịt với khói nên bốc cũng ruột thịt với khói vì thế bốc mới đi đôi như hình với bóng cùng từ khói. Khói thường đi đôi với sương như thấy qua từ  đôi điệp nghĩa khói sương vì khói sương trông như nhau, nhìn đều thấy mờ mịt, mù mịt, đều trông như mist! Ta cũng thấy rõ sự liên hệ này qua phương ngữ  Huế gọi sương là cởi:

 

                        Đêm khuya cởi xuống dần dần.

(ca dao)

 

theo c = k = kh, cởi = khói. Rõ như hai năm là mười cởi (sương) ruột thịt với khói.

Ở đây ta cũng có thể dùng Anh ngữ smoke, fog để giải thích tại sao ta thường nói khói đi đôi như hình với bóng với  bốc (bốc khói). Theo f=b như fỏng = bỏng, foot = boot, ta có fog = bốc, theo m=b, smoke, smog (smoke + fog = smog) = bốc. Rõ ràng bốc có liên hệ nghĩa ngữ với khói sương và biến âm với nhau nên ta thường nói bốc khói hay nói một cách khác bốc khói là hai từ hình bóng của nhau.

Ta cũng nói bốc hơi vì hơi và khói họ hàng với nhau, còn nói bốc lửa, bốc cháy là nói theo nghĩa lệch, gián tiếp, ẩn dụ vì lửa và khói liên hệ với nhau, có lửa mới có khói.

 

Tóm lai bốc khói có từ hình bóng bốc ruột thịt với móc (sương) = cởi = khói và ruột thịt với Anh ngữ fog, smoke, smog.

 

C

-cắt cụt

 

Cắt nguyên thủy có nghĩa chính là chặt làm cho ngắn, cho cụt bớt đi. Cắt chỉ có thể làm cho cụt đi, chứ  không thể nào làm cho dài thêm ra  được, nên cụt mang tính đặc thù của cắt. Cụt là từ hình bóng của cắt. Cụt chính là Anh ngữ cut là cắt.

 

                                                           D

-đôi đũa

 

Đũa là hai cây que dùng để gắp. Từ đôi đi cặp với đũa như hình với bóng, nói tới đũa là nghĩ tới đôi:

 

            Chồng thấp mà lấy vợ cao,

            Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.

                                               (ca dao).

 

Đũa có nghĩa gốc là hai ruột thịt với duo, đôi, hai, duo- = đũa,

liên hệ với Hy Lạp duò, Latin duo, Phạn ngữ dva, Pháp ngữ deux, Tây Ban Nha dos, Nga ngữ dba (dva-)... gốc tái tạo proto-Indo-European *dw... Ta cũng thấy đũa đi với gắp như hình với bóng. Theo g=c (gài = cài), gắp = cắp = cặp là đôi, hai. Cặp ruột thịt với Anh ngữ couple, cặp, đôi. Rõ như ban ngày đũa có nghĩa là hai, cặp, đôi.

Còn từ đôi (hai) ruột thịt với double, Tây Ban Nha ngữ doble, với Việt ngữ phiên âm đúp. Theo t=d, w=u, two = duo, đôi. Đại Hàn ngữ tuir, tuur, hai, cũng liên hệ ở đây.

Hiển nhiên đôi là từ hình bóng của đũa.

 

             

                                                           G

-gài cúc (áo).

 

Theo g=c như gái = cái, ta có gài = cài. Nói tới cúc áo là ta nghĩ ngay tới gài, cài. Cúc là vật để gài để cài. Gài biến âm với gai. Nguyên thủy con người dùng gai nhọn để cài áo, để móc, để cột hai mép lá, vỏ cây, hai mép áo, vải lại với nhau. Ta cũng thấy cài biến âm với cầy, cây. Nguyên thủy cầy là khúc cây nhọn để xới đất. Khúc cây cũng dùng làm then cài cửa. Như thế cài và gài trong trường hợp này giúp ta tìm ra được nguồn gốc nghĩa ngữ của cúc. Cúc phải có nghĩa là gài, cài, móc vào. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Theo c=h, như cấm = hàm (răng), ta có cúc = Anh ngữ hook (/húc/), móc. Cúc là vật để móc hai mép áo vào nhau, để gài, cài áo. Ngày nay ta còn thấy có những loại cúc áo kiểu cổ làm bằng que hay khúc cây nhỏ.

Ở đây ta thấy rõ như hai năm là mười là từ hình bóng giúp ta truy tìm ra được tầm nguyên nghĩa ngữ của Việt ngữ và tìm ra được sự liên hệ giữa Việt ngữ và ngôn ngữ liên hệ.

 

-gan bàn tay

 

Từ gan đi với bàn tay (đôi khi với bàn chân) như hình với bóng.

Dĩ nhiên gan đây không phải là lá gan (liver) giống như bánh xe không phải là bánh ăn. Vì là từ hình bóng của bàn tay, bàn chân nên gan phải có nghĩa là bàn (tay, chân). Bàn ruột thịt với bằng như chiếc bàn làm bằng một tấm ván bằng, Hán Việt thạch bàn là phiến đá bằng, ông Bàn Cổ có Bàn là mặt đế bằng như bàn thạch và cổ là cột trụ (cổ là phần cột trụ cắm đầu vào thân người). Ông Bàn Cổ là ông cột trụ có đế bằng rất vững chãi, ông Trụ Chống Trời, người ông cứ cao mãi lên để chống trời, tách trời ra khỏi đất khi trời đất còn dính với nhau. Từ bàn chính là Anh ngữ palm, gan bàn tay chỉ phần bằng của bàn tay. Các tác giả Tây phương giải thích palm là bàn tay vì bàn tay giống lá cây palm (cọ, kè). Giải thích này, theo tôi, là một giải thích muộn vì các từ chỉ thân thể là những từ căn bản cân bằng bền (stable basic words) rất cổ trong khi từ cây palm có rất muộn so với bàn tay. Có thể từ palm gọi theo hình ảnh bàn tay chứ không phải là bàn tay gọi theo lá cây palm. Hơn nữa palm ruột thịt với Phạn ngữ pâni = bàn tay. Theo p=b, pal- = pân- = bằng = bàn (tay, chân). Điểm vững chắc nhất cho thấy palm nghiêng về nghĩa bằng là ta cũng nói gan bàn chân mà bàn chân hiển nhiên không thể giống lá palm được. Anh ngữ plantar là gan bàn chân. Bàn chân là phần bằng của chân, plantar ruột thịt với plan, plane, bằng, mặt bằng (xem chữ này), có pan- = bàn (chân).

Từ gan (bàn tay) có gốc từ Phạn ngữ gal-, hand, bàn tay. Theo g=h (gồi = hồi), ta có gan = gal = hand. Một điều lý thú là gan (bàn tay)  không dính dáng gì với gan (liver) nhưng vì gan (liver) đi đôi với lòng thành một từ ghép gan lòng giống như Hán Việt can trường (gan lòng) nên gan bàn tay còn gọi là lòng bàn tay. Từ lòng ở đây không có nghĩa là lòng ruột nhưng hiểu theo nghĩa là phần giữa, phần hổng, phần lõm của bàn tay cũng tạm chấp nhận được.

Việt ngữ cũng có từ gang tay (chiều dài bàn tay) như dưa gang,

 liên hệ với gan (bàn tay) có cùng gốc Phạn ngữ gal-, theo  g=h, gang = hand.

Tóm lại gan là từ hình bóng của bàn (tay).

 

                                                           H

-hoi sữa

 

Từ hoi đi kèm với từ sữa như hình với bóng như hoi sữa, miệng còn hoi sữa, nói tới hoi là nghĩa tới sữa. Như thế hoi ruột thịt với sữa, bơ sữa. Hoi với h câm là oi, ta cũng nói oi sữa. Sữa có bơ, mỡ để lâu bị oxýt hóa trở thành hoi, oi. Miệng trẻ em bú sữa, không rửa sạch có mùi hoi, oi sữa là vậy. Hoi chính là Pháp ngữ huile, dầu mỡ và oi chính là Anh ngữ oil, dầu mỡ. 

Lợn, heo có nhiều mỡ là loài cung cấp mỡ nên tên của nó liên hệ với mập, mỡ. Con heo, con hợi là con huile, con hoi, con oi, con oil. Con lợn là con lờn, con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Nhờn biến âm với nhầy, nhớt (dầu nhớt, rau đay có nhiều nhớt). Con boar (heo rừng đực, heo đực chưa thiến) liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu, bơ, bồ là dạng cổ của mồ như bồ hôi = mồ hôi và của mỡ), liên hệ với beurre (Pháp ngữ). Con heo kêu oint oint là kêu oil oil, theo tiếng Việt là kêu “oi oi”. Ointment là thuốc mỡ có oint-, mỡ dầu.

Tóm lại hoi, oi là từ hình bóng của sữa.

 

                                                           K

-khét tiếng

 

Ta có từ khét là một từ đặc thù đi với từ tiếng như hình với bóng. Thật vậy, ta cũng nói vang tiếng với vang liên hệ với âm, tiếng như âm vang, ầm vang, vang vọng. Như thế khét phải có nghĩa liên hệ với tiếng và là một từ có trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ. Với h câm ta có khét = két. Con chim biết nói tiếng người gọi là con két, có nơi gọi là con vẹt, nói như két, nói như vẹt. Loài chim két, vẹt này được gọi tên vì biết nói tiếng người giống như con yểng, một loài thuộc họ chim sáo cũng nói được tiếng người. Mường ngữ iểng là nghe, liên hệ với tiếng. Theo k= v như kênh = vênh, ta có két = vẹt.

Vẹt chính là Anh ngữ verb, (tiền tố hay gốc từ) như verbal, thuộc về verb, verbalism, phát biểu bằng lời nói, lời nói, câu văn, từ ngữ, -verbalist, nhà phê bình, chỉ trích chuyên về lời nói, 

verbalization, verbalize, nói dài dòng văn tự, nói nhiều lời.

Verb có nghĩa là lời nói, tiếng, tiếng nói, từ, chữ, động từ...

.verb = vẹt, con vẹt là con nói, loài chim nói được tiếng người.  Con vẹt = con két = con verb.  

.verb- = vách, vanh vách (nói vanh vách), vạch như vạch ra hàm nghĩa nói ra liên hệ với Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking (xem chữ này). Theo v=m, vách = mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo).  Theo v=b, verb, vẹt, vách, Phạn ngữ vach = bạch như biện bạch, bạch thầy.  Theo v=b, vac-, var- = bạch. Anh ngữ parrot, két, vẹt có par- = Phạn ngữ var(t), varh, bark, nói  liên hệ với  ban như bảo ban, ban phán. Theo p=b=v, par(rot) = var(t) = ban, bạch, vách, verb, vẹt.  

.theo v=b=ph, verb = phét, phét lác (nói láo).

.theo v= c=k=kh, verb = khoét, láo khoét.

 Rõ ràng khét là từ hình bóng của tiếng.

           

L

-lửa cháy

 

Nói tới lửa là ta nghĩ tới cháy. Cháy có chá- ruột thịt với Anh ngữ char, cháy, đốt, cháy thành than, thiêu rụi, với charcoal, charbon (Pháp ngữ), than. Ta thấy char = chả là thức ăn nướng than như char-broiled hamburger. Chả là thịt nướng than như bún chả Hà Nội, chả quế. Người Huế có món tôm nhuyễn nướng than gọi là chạo cũng có cùng gốc char, chả. Cái chảo dùng rán thức ăn cũng có gốc chả, char, cháy. Nên nhớ đúng nghĩa ra từ chả chỉ áp dụng cho thức ăn nướng than, lửa mà thôi. Sau này dùng rộng ra, chả cũng chỉ thức ăn rán, chiên như chả giò, chả ram, chả trứng (loại rán, chiên) cũng tạm chấp nhận được. Tuy nhiên, giò lụa là món luộc, mọc trứng là món hấp nếu nói là “chả” lụa, “chả” trứng, chả đùm là sai ngữ pháp. Vào tiệm ăn gọi một đĩa cơm tấm bì chả trứng, nhà hàng nào cũng đem ra mọc trứng hấp thịt chứ không phải là trứng nướng than hay chiên. Trứng hấp thịt miến, mộc nhĩ phải nói là mọc trứng như người Bắc mới đúng ngữ pháp. Quảng Đông ngữ chá xíu, xá xíu là thịt nướng cũng liên hệ với chả, char, cháy. Chá xíu có chá cùng một gốc với cháy. Chá xíu biến âm với cháy thiêu.

 

M

-mặt trăng, mặt trời. 

Ta có từ mặt đi cặp với trăng, trời (mặt trăng, mặt trời) như hình với bóng. Trăng, trời là những vật sáng. Theo biến âm tr=s như trả = sả (chim bói cá), ta có trăng = sáng. Trăng biến âm với trắng, trong, trong trắng. Trong đi đôi với sáng như trong sáng. Cổ ngữ Việt blăng, trăng ruột thịt với Pháp ngữ blanc, trắng, Anh ngữ blank, để trắng, trống. Pháp ngữ lune, Tây Ban Nha, Ý ngữ luna, Latin lunes, trăng… liên hệ với light, lumière, luz, ánh sáng. Từ trời, chời biến âm với chói hàm nghĩa sáng như thấy qua từ đôi chói sáng. Theo  ch =s (chữa = sửa), chời = soi, soi sáng. Theo c=s như coi = soi (xem), ta có cời = soi (sáng). Như thế mặt phải có nghĩa là sáng: mặt sáng như gương tầu. Việt ngữ mặt biến âm với mắt, có một nghĩa là sáng như sáng mắt ra, người có mắt là người sáng, là người nhìn thấy sự vật, người không có mắt, không sáng là người tối, người mù. Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision, nhìn, thấy. Theo m=b, mặt = bật (làm cho sáng) như bật đèn, bật lửa, bật quẹt, bật sáng lên = Phạn Ngữ  bhà-, làm cho sáng lên.

Việt ngữ mặt liên hệ với Anh ngữ mask, mặt nạ, Phạn ngữ mâsa, mặt có mâs- = mặt = mask.

                                              

                                                           N

-nấm mồ

Từ nấm đi cặp với mồ như hình với bóng. Mồ, mả là mô đất có hình vòm dùng dể chôn, người chết. Theo Vũ Trụ giáo, mồ mả đắp hình vòm, các nóc nhà mồ cũng có mái hình vòm biểu tượng cho vòm hư không, vòm vũ trụ, vòm trời. Cây nấm có chỏm hình vòm là biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống. Người Thái ở Nghệ An có cây nấm là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Trống đồng âm dương Nguyễn Xuân Quang VI tức Heger I có hình cây nấm (bằng đầu vì vòm nấm đập dẹp xuống làm

mặt trống) mang hình ảnh Cây Nấm Vũ Trụ (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Người chết được chôn trong mồ mái vòm với ý nghĩa là trở về với vòm vũ trụ, với hư không, với Cây Đời Sống để được tái sinh hay về miền vĩnh cửu. Tương tự người chết (hay một phần thân thể người chết như đầu hay tro than) được chôn trong trống đồng âm dương, trong chum vò cũng

có cùng một quan điểm như vậy.

Từ mồ ruột thịt với Anh ngữ mound, đống, gò, mô đất, đồi núi nhỏ, mu lồn, liên hệ với  mount, đồi núi, lũy thành, bàn đạp để leo lên ngựa, phần nhô cao quanh khung ảnh, với mountain, núi, đống to, đống lớn liên hệ với Latin mont-, mons, đồi. Mồ, mô liên hệ với gốc tái tạo Tiền cổ Ấn Âu ngữ (PIE) *mel-/*mol-, đồi, núi.

Gò đống là một hình thức nguyên sơ của tháp (kim tự tháp),

 giống như mồ, kim tự tháp là nơi chôn cất các người lãnh đạo, vua chúa. Chúng ta có các gò đống như gò Đống Đa, gò Đống Lã, gò Đống Anh... Thổ dân Mỹ châu có tộc chuyên đắp gò đống được gọi là Mound-Builders. Các gò đống này cũng như kim tự tháp được coi là đường lên trời, Trục Thế Giới và cũng là mồ chôn của những người quyền thế để họ có thể về với vũ trụ. Hiển nhiên ta thấy mồ mang hình bóng của Nấm Vũ Trụ, Nấm Tam Thế, Nấm Cây Đời vì thế mà Việt ngữ mới có từ nấm mồ. Hiện nay ở Việt Nam, các mồ mả xây theo kiểu nhà lầu, cung điện như ở Huế có “phố ma”, các loại này không có nóc hình vòm, theo đúng nghĩa của mồ, thì không thể gọi là mồ nữa mà chỉ là chỗ ma ở mà thôi. Người chết chôn trong các phố ma này không thể trở về với vòm hư vô, vũ trụ mà chỉ lẩn quất ở cõi thế gian phàm tục này. Ở Hoa Kỳ, mồ mả chôn bằng mặt đất, hồn người chết cũng chỉ luẩn quẩn ở Cõi Bằng thế gian ta bà này. Mồ mả hiện nay về ý nghĩa biểu tượng không bằng cái nấm đất, cái mả thằng ăn mày ngày trước.

 

                                                           O

 -ơn trên

Chúng ta nói ơn trên, không hề nói ơn dưới như thế từ trên cho biết nguồn gốc ngữ của từ ơn và hai từ là hình bóng của nhau. Trên liên hệ với trời. Theo th=tr như tháng = trăng, ta có Việt ngữ trên = Mường ngữ then (trên, Mường Then là Mường Trên) = Hán Việt thiên.  Rõ ràng trên ruột thịt với trời, chời. Ta cũng thấy với h câm, chời = cời = côi (phương ngữ Huế) có nghĩa là trên, liên hệ với trời. Như thế ơn phải có nghĩa là trời. Thật vậy tạ ơn là tạ trời, cám ơn là cảm tạ trời. Ơn chính là Anh ngữ on, trên.  Ta có on = ơn (ân). Ơn là trời. Ai Cập có thành phố Mặt Trời On sau này chuyển qua Hy Lạp ngữ là Heliopolis. Akhadian ngữ (Lường Hà) on là vòng tròn (vòng tròn biểu tượng hư không, mặt trời); Sơ Đăng on, Mạ unh, Xì Tiêng onhlửa liên hệ với  trời, mặt trời. On liên hệ với ên (một như một mình ên), với one, một có một nghĩa là trời, trời là số một (xem one).

Như thế rõ ràng ta có ơn = trên = then = thiên = trời = Anh   ngữ on, trên.

 

                                                           P, Ph

-phí tổn

Phí là tiền phải trả cho một dịch vụ nào đó như lệ phí, học phí, y phí. Phí chính là Anh ngữ fee.

Tổn là biến âm của tốn như tốn tiền, tốn kém, tốn phí (tốn phí giống như tổn phí hay phí tổn). Tốn, tổn chính là Anh ngữ toll, lệ lệ phí đường xá, “tiền mãi lộ”, điện thoại, toll free là không tốn (tiền), miễn phí. Rõ ràng phí tổn là hai từ hình bóng của nhau.

 

                                                           Q

-quạt mát

 Quạt và mát đi với nhau như hình với bóng. Bà Hồ Xuân Hương trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có câu:

                       

Mát mặt anh hùng khi tắt gió.

 

Theo qu=v như quấn = vấn, ta có quạt = Phạn Ngữ vát, to fan (quạt). Quạt liên hệ với gió thấy rõ qua sự liên hệ giữa Phạn ngữ vát, to fan và Phạn ngữ vâta, gió. Thep v=m, ta có vát, vâta = mát. Việt ngữ mát liên hệ với Anh ngữ fresh, mát, tươi như fresh air, không khí tươi mát. Theo m=b=f, ta có mát = fresh.

Hiển nhiên mát là hình bóng của quạt. Như đã biết ta có từ ghép quạt phành phạch, phần phật. Theo ph = f= b=v, phành = fan, quạt = Mường ngữ phán (phướn), một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma = Anh ngữ banner (phướn, phán). Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ phán, banner ruột thịt với quạt fan, liên hệ với gió. Thành tố láy phạch như quạt phạch phạch cả đêm (xin đừng hiểu theo kiểu quạt Hồ Xuân Hương!) = Anh ngữ flag (cờ). Tương tự phần phậtphần = fan và phật = flag cũng liên hệ với gió (Học Anh Ngữ Qua Từ Ghép).

Tóm lại quạt, cờ là hình bóng của gió, của mát.  

  

                                                           R

-rặng núi

rặng đi với núi như hình với bóng. Rặng chính là Anh ngữ range, rặng (núi).

 

S

-sao sáng

Sáng đi kèm với sao như hình với bóng như ta có bài đồng dao một ông sao sáng hai ông sáng sao. Mường Việt cổ gọi sao là sáng như nàng sáng, ông sáng.

-Sáng ruột thịt với Anh ngữ shine, sáng.

.shine = /sai/ = sao là sáng, (xem dưới) liên hệ với Phạn Ngữ  chand, to shine, theo ch=s, chand = sáng. Ta cũng thấy chand = chăng, trăng (moon) có nghĩa là sáng. Vì có nghĩa là sáng nên đi đôi với mặt (có nghĩa là sáng) như mặt trăng (xem trên), Phạn Ngữ ghan, to shine, theo g=s, ghan = sán (lạn), sáng lạng, sáng láng. Xin lưu tâm, vì liên hệ với hai gốc Phạn khác nhau nên ta có hai từ sán (lạn) và sáng (lạng). Cả hai đều đúng cả. Phạn Ngữ kanch, to shine, có kanc- = sáng (k=s). Kanc- cho ra candle, nến (xem từ này).

.theo  s=c, /shai/ = chói (chang, sáng) = chời (mặt sáng).

-Sao chính là Anh ngữ star, Trung cổ Anh ngữ sterre, Latin sidus, sao, Phạn ngữ tárá, sao. Tất cả có nghĩa gốc nghĩa là sự tỏa ra của ánh sáng.

.có s(t)ar, sid- = sáng, sao.  Sao biến âm với sủa có nghĩa là sáng thấy qua từ láy sáng sủa. Mã Lai ngữ suar là lửa hiệu, đuốc, đèn dùng làm hiệu sáng. Sao liên hệ với cổ ngữ Nhật asa, sáng, asu là sáng mai (sáng sớm). Cũng nên nhắc lại là Nam Dương ngữ aso là con chó rất gần cận với Nhật ngữ asa, asu này. Con chó là con sáng giống hệt như con sói, con lang. Con sói là con chói, con lang là con láng, con lạng, con sáng, Latin lupus (sói) là con  lux, luz,  ánh sáng.  Trăm Lang Hùng Vương có Lang có một nghĩa là Sáng (Ánh Sáng, Mặt Trời Mọc rạng sáng) có con thú biểu bốn chân là con Lang vì thế Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang (Lang Sáng) và dân gian Việt Nam múa thiên cẩu vào các dịp lễ lạc. Các Lang Hùng Vương phải hiểu là các Quang Lang (Lang Sáng, Ánh Sáng) còn hiểu là Quan Lang với quan là mandarin, một chức tước của Trung Hoa là sai  (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). 

.star có -tar = là lửa, là sáng như ông Táo là thần bếp lửa, Mường Việt tá, đá là con cháu dòng mặt trời, lửa như Tá Cần, Tá Cài, Ba Tư Tar, thần lửa, Ai Cập Ptath, Thần Mặt Trời, Nga ngữ  csar, hoàng đế (một thứ con trời). Cụm từ tá hỏa tam tinh cho thấy rõ đi đôi với hỏa và liên hệ với tinh (sao). -Tar liên hệ với tỏa (sáng), tia (sáng). Phạn Ngữ tàrá, sao và stri = sid- = sáng.

.-tar, - = tua. Việt ngữ tua là sao nhữ tua rua (Tiểu Hùng Tinh) = sao tua, sao rua. Theo biến âm kiểu te tua, ta có tua = te = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ (IE) * ster-, sao. Ta thấy rõ tua, tua rua liên hệ với Phạn ngữ tàrá sao.

 Hiển nhiên sáng và sao là hai từ hình bóng của nhau. Sáng là từ cổ của sao.

           

                                                           T

 -theo đuôi

theo đuôi hai từ hình bóng của nhau. Nói tới đuôi là ta nghĩ ngay tới theo nên theo cũng hàm nghĩa đuôi hay liên hệ với đuôi. Ta thấy theo chính là Anh ngữ tail, đuôi. Tail = /teo/ = Việt ngữ theo. Theo đuôi đẻ ra từ đôi theo đuổi, đeo đuổi. Ta có tail =

/teo/ = đeo  (đ=t) và đuổi là biến âm của đuôi giống nghĩa với

 Anh ngữ tailgate. Việt ngữ đèo có nghĩa là mang phía sau lưng, sau đuôi (như xe đạp đèo người ỡ phía sau) biến âm của tail. Việt ngữ đèo bòngđèo là mang phía sau lưng, sau đuôi và bòng là bồng là bế. Một ông đèo bồng là cõng một bà ở phía sau đuôi và bồng một bà ở phía trước. Ta cũng có từ nói leo có nghĩa là nói theo, nói theo đuôi. Theo l=th như lủng = thủng, ta có leo = theo.  

 

-tiếng nói

 

 Tiếng là từ hình bóng của nói. Nói là phát ra tiếng, nói chính là tiếng. Tiếng liên hệ với Pháp ngữ ton, Anh ngữ tune. Ta thấy nói chính là Anh ngữ noise, tiếng, tiếng động. Noise có noi- = nói. Hai từ là hình bóng với nhau, tiếng nóitiếng = nói = noise.

 

                                                           V

-vã mồ hôi

Mồ hôi hay bồ hôi có mồ biến âm của mỡbồ là biến âm của mồ nên cũng có nghĩa là mỡ dầu như bồ hòn là trái tròn có dầu mỡ dùng giặt quần áo như soap, savon (xà phòng), bồ kết là trái có chất dầu dùng gội đầu. Bồ ruột thịt với , beurre. Mồ hôi là chất nước có dầu mỡ bị vi trùng oxýt hóa thành hôi vì thế mới nói là mồ hôi dầu (xem từ sweat). 

Vã đi với mồ hôi như hình với bóng. Ta cũng nói vã nước lên mặt. Vã ruột thịt với gốc va là nước ví dụ [cỏ và là cỏ mọc bên bờ nước, vại, vật đựng nước, vắt (vặn nước ra), vàm, vùng thấp sũng  nước liên hệ với swamp, đầm, (có -wam- = vàm]. Vã ruột thịt với Anh ngữ vat (thùng lớn); (Đức ngữ vatten nước, Nga ngữ vodka, rượu, Phạn Ngữ vaçâ, bò sữa (sữa là thứ nước con người uống đầu tiên)… 

 

 

                                                                 X

-xe lăn (bánh).

Từ lăn chỉ tính đặc thù của xe vì ta biết từ xe gọi tên theo bánh xe tròn. Xe, xa, car có cùng gốc Phạn ngữ kar, to roll, lăn tròn (xem trên). Tròn đi với lăn như hình với bóng như thấy qua từ đôi lăn tròn. Lăn liên hệ với Anh ngữ roll.

Theo r=l (róc mía = lóc mía), ta có roll = lăn, xe lăn bánh hàm nghĩa là xe chạy. Ta cũng thấy rất rõ roll ruột thịt với rota, bánh xe (Rotary Club, Phù Luân Hội). Roll = lăn có nghĩa là lăn bánh tức xe chạy.  

Tóm lại ta có lăn là hình bóng của bánh xe = roll là hình bóng của rota, bánh xe.

 

Kết luận

Những từ hình bóng của nhau cũng như từ láy, từ ghép giúp ta truy tìm gốc từ, nguồn gốc nghĩa ngữ và mối liên hệ giữa Việt ngữ và ngôn ngữ loài người nhất là những ngôn ngữ liên hệ mật thiết với Việt ngữ.

                            

  Trở về Trang Chính