một bàn
Bầu Cua, có người cho rằng vì sự sùng bái Cọp nên sau này đã
không dám dùng Cọp nữa. Theo tôi, sự hiện diện của cọp, nếu
có, có thể giải thích như sau. Thứ nhất có thể trước đây ở
một vài nơi thuộc tộc Cọp hay ở vùng rừng núi nên có cọp trên
bàn Bầu Cua ở vài địa phương. Tuy nhiên cọp không phải là thần
tổ của người Việt. Hươu là vật tổ của chúng ta.
3. Vua
Tổ thế gian của chúng ta là Kì Dương Vương tức Vua Hươu Mặt
Trời. Kì là cây, cọc, Kì biến âm với kèo (cọc nhỏ), kẻ (chỗ ở,
người như Kẻ Sặt, Kẻ Trọng, Kẻ Mau). Theo k=h, kì = kèo = hèo
(roi, nọc) = hưu, hiêu, hươu. Vì vậy mà Kì Dương Vương mới có
tên mẹ đẻ là Lộc Tục tức Hươu Đục, Hươu Nọc, Hươu Cọc.
Từ
Việt có một nghĩa là Rìu (một thứ vật nhọn, cọc
nhọn). Rìu = dìu = tìu = tiều = tườu. Tiều, tườu có nghĩa là con
hươu cọc như thấy qua câu nói “nói
chuyện con tiều con vượn” (tức nói hươu nói vượn). Từ Việt
trong hai chữ Việt Nam viết với bộ tẩu (chậy). Chậy là
đặc tính của hươu như thấy qua câu Chỉ đường cho hươu nó
chậy. Việt tẩu là Việt Hươu. Vì thế Hươu là khuôn
mặt chủ yếu trên các bàn Bầu Cua của người Việt.
4. Bàn
Bầu Cua có con cọp có thể là do làm sai vì dựa theo cách đọc sai
của từ Cọc (Hươu) thành Cọp theo kiểu biến âm
chốc (đầu) = chóp (đầu).
5. Sự
biến mất của Cọp cho thấy cọp là của thiểu số, là của ngoại lai
hay vì sai lầm nên dân gian Việt Hươu đã sửa lại. Bàn Bầu
Cua có Cọp là của kẻ thù của Việt Hươu vì cọp ăn thịt hươu.
6.
Những hình tượng thú vật và quả bầu trên bàn Bầu Cua đều là
những khuôn mặt hiền hòa gần cận với người dân quê ở đồng ruộng
trong khi cọp là một loài mãnh thú hại người sống trên rừng núi.
Cọp không ăn khớp với các biểu tượng khác trên bàn Bầu Cua.
7. Việt
ngữ có từ cá cược (betting) có nghĩa là đánh cá,
đánh cược, đánh cuộc. Từ cược là biến âm
của cọc như tiền đặt cọc = tiền đặt cược.
Cọc có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Cọc, cược biến âm với
c...c vì thế để tránh thô tục nên mới nói là đánh cuộc cho thanh
nhã. Ta thấy rất rõ cá (biểu tượng cho nước thế
gian) đi đôi với cọc (là con hươu biểu tượng cho lửa
thế gian). Đánh cá cọc, cá cược là đánh “nước-lửa”, đen
đỏ, xấp ngửa, âm dương để ăn thua. Ở bàn Bầu Cua, đánh cược,
đánh cuộc là đánh con Cọc, con Hươu và đánh cá là đánh con Cá
(Chép). Người Bắc hay nói đánh cược trong khi Trung Nam hay nói
đánh cá. Người Bắc theo dòng Nọc Lửa phía con Hươu mặt trời,
Hươu Cọc Kì Dương Vương, phía mẹ Âu Cơ. Theo truyền thuyết Mường
Việt cổ mẹ Âu Cơ dòng nọc Lửa có hiểu tượng là co nai sao. Người
Bắc phần lớn theo dòng Hươu Nai, có linh thú là con Nghê, con
Li, con Kì (trong cặp kì lân). Trung Nam theo dòng Nòng Nước con
Cá Chép An Dương Vương phía cha Lạc Long Quân. Trung Nam phần
lớn theo dòng Cá Chép hóa Long, có linh thú là con Rồng Nước Lạc
Long. Điểm sau này cũng dễ hiểu, vì đa số người Trung Nam có tổ
tiên vốn là di dân từ vùng châu Hoan (châu Nước) thuộc địa bàn
Cổ Loa cũ, Thanh Nghệ Tĩnh vào Trung Nam (dòng An Dương Vương,
Lạc Long Quân). Một lần nữa ở đây qua hai từ cá cược cho
thấy ngôn ngữ Việt Nam có hai dòng: ngôn ngữ miền Bắc thuộc dòng
Nọc Lửa Hươu phía mẹ Âu Cơ và ngôn ngữ Trung nam thuộc dòng Nòng
Nước cá Chép Lạc Long Quân (Tiếng Việt Huyền Diệu). Rõ như đen
với đỏ qua trò chơi có một khuôn mặt cờ bạc đỏ đen này, ta thấy
Cá đi với Cược, Cọc (Hươu) chứ không đi với Cọp. Con Cọp không
phải là con vật chủ yếu được dùng trong trò chơi có tính cách cá
cược này. Ta cũng thấy từ cá cược có thể phát gốc từ trò chơi có
con cá chép và con hươu cọc này.
Tóm lại
ta phải nói Bầu Cua Cá Cọc mới đúng nghĩa còn nói là Bầu Cua Cá
Cọp là nói theo nghĩa một tộc Cọp rừng rú nào đó, nói theo nghĩa
cóp nhặt, cọp-pi, tam sao thất bản, nói trại đi, nói sai lệch
(xem chi tiết trong Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).
Trò
chơi này được diễn tả bằng những hình tượng quen thuộc, hiền hòa
thấy hàng ngày trong đời sống dân dã đồng quê Việt Nam là gà,
tôm, bầu, cua, cá, hươu. Bàn Bầu Cua có sáu thứ nhưng chỉ gọi
tên theo bốn thứ là Bầu Cua Cá Cọc, như thế Gà và Tôm được “tách
riêng ra” nghĩa là thuộc vào một loại, một tầng lớp khác, mang ý
nghĩa thuộc một diện khác. Bầu Cua Cá Cọc thuộc vào một diện
khác. Nói một cách khác bàn Bầu Cua chia ra làm hai nhóm: nhóm
Tôm Gà và nhóm Bầu Cua Cá Cọc.
-
Tôm Gà
Nhóm
Tôm Gà mang một biểu tượng Đại Vũ Trụ hay đội lốt Đại Vũ Trụ.
CON TÔM
Con
tôm sống dưới nước có một khuôn mặt biểu tượng cho nước cõi thế
gian nhân sinh. Tại sao gọi là con tôm? Về ngôn ngữ học, theo
biến âm t=n như túm = núm, ta có tôm = nôm, nam.
Nôm, nam có một nghĩa là nước (cái nơm, người Nam gọi là
cái nôm là một dụng cụ đánh cá ruột thịt với nước có gốc
nôm là nước), Thái Lan ngữ nam cũng có nghĩa là
nước như nam pla là nước cá tức nước mắm, sông
Mae Nam là sông Mẹ Nước (sông Cái). Ta cũng thấy,
theo p=b, Anh ngữ prawn (tôm lớn, tôm càng) có p(r)aw-
= baw- = bao là túi là nang là nường là nòng. Con tôm là “con nước”,
con nang, con nường, con nòng
nên Tôm biểu tượng cho Nòng, âm, thái âm, cho cực âm, dòng âm,
Khôn, nước, phái nữ, bộ phận sinh dục nữ. Do đó dân gian Việt
Nam mới ví con tôm he (tôm đỏ) với bộ phận sinh dục nữ
(he là đỏ. He biến âm với hoe là đỏ như tóc hoe,
mắt đỏ hoe, he biến âm với hè là mùa đỏ lửa). Con
Tôm trên bàn Bầu Cua thuộc dòng mặt trời thái dương. Tôm có hai
càng to mầu đỏ và quay mặt về phía tay phải, phía dương nên con
tôm càng này mang dương tính, thái dương biểu tượng cho âm thái
dương, theo ngành lửa, dương là mặt trời âm thái dương của dòng
âm, nước, có một khuôn mặt đại diện là nước dương Chấn (ứng với
Lạc Long Quân).
CON GÀ
Tổng
quát Gà có nghĩa biểu tượng trái ngược với Tôm. Gà trống tức con
qué (gà qué), con que, con cọc, con cock, con coq (Pháp
ngữ) mang dòng máu cọc, vật nhọn, dương, mặt trời thuộc ngành
Nọc. Anh ngữ cock là con gà trống và cũng chỉ cây cọc,
cái nõ của phái nam. Cock chính là Việt ngữ cọc.
Cọc biến âm với cược, c...c (Tiếng Việt Huyền Diệu). Nọc, cọc là
đực, dương. Dương cũng có một nghĩa là mặt trời. Như thế gà là
một loài chim mang dương tính biểu tượng cho Nọc (cọc, đực, mặt
trời, dương, cực dương, dòng dương, phái nam...). Con Gà là một
loài chim (Anh ngữ gọi gà là bird) biểu tượng cho cõi
trời, cõi trên, mặt trời ngành nọc nhưng sống nhiều trên mặt
đất nên là chim biểu của Cõi Trời nọc, Mặt Trời Thế Gian,
cõi nhân sinh.
Vì
mang khuôn mặt thế gian nên trên bàn Bầu Cua, con Gà được
diễn tả đứng trên mặt đất chứ không đứng trên cây, trên nóc
nhà hay đang bay. Tóm lại con Gà biểu tượng cho Nọc, cho dương,
cực dương, mặt trời ngành Nọc dương cõi thế gian.
Nói gọn
lại, con Gà là con qué, con que, con cọc, con cock, con nõ,
con Nọc và con Tôm là con nôm, con nước, con prawn , con baw-,
con bao, con bọc, con túi, con nang, con nường, con Nòng.
Tổng quát Tôm và Gà biểu tượng cho Nòng Nọc, âm dương, Lưỡng
Nghi ở cõi thế gian.
-
Bầu Cua Cá Cọc.
Như đã
thấy Bầu Cua Cá Cọc thuộc về một diện khác, một nhóm khác. Nhóm
này mang một biểu tượng Tiểu Vũ Trụ cõi Người (con người là Tiểu
Vũ Trụ). Ta thấy tổng quát Tôm Gà biểu tượng cho Nòng Nọc âm
dương, Lưỡng Nghi cõi thế gian. Nòng Tôm hôn phối với Nọc Gà
sinh ra Tứ Tượng cõi thế gian. Đây chính là Bầu Cua Cá Cọc có
một khuôn mặt ứng với Tứ Tượng cõi thế gian, nhân sinh.
Trước
hết, nhìn dưới lăng kính tạo sinh, ở cõi nhân sinh, Nòng tôm he
(nường, âm vật), Nọc gà qué (nõ, dương vật) hôn phối, giao hợp
với nhau thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Xin thưa, kết quả xẩy ra là
có BẦU (dĩ nhiên người cổ Việt không có dùng phương pháp ngừa
thai!). Nọc Gà, chim phái nam hôn phối nòng Tôm he phái nữ sinh
ra cái Bầu.
Ở Cõi
Trời, Tạo Hóa, Nòng Nọc âm dương vũ và trụ hôn phối, giao hòa
sinh ra Bầu Trời, Bầu Vũ Trụ. Do đó trên bàn Bầu Cua, Tôm Gà hôn
phối sinh ra Quả Bầu. Quả Bầu trên bàn Bầu Cua nhìn theo diện
cõi Tiểu Vũ Trụ là Bầu Trời, Bầu sinh tạo thế gian, nhìn theo
diện nhân gian là bầu thai nhân sinh và nhìn theo diện cõi tạo
hóa là Bầu Vũ Trụ, Bầu Tạo Hóa. Bầu là bầu vũ trụ, bầu trời, bầu
sinh tạo, bầu thai, bầu sinh đẻ. Bầu mang nghĩa sinh tạo thế
gian, đội lốt Tạo Hóa. Vì thế mà trong sáu hình biểu tượng trên
bàn Bầu Cua, quả bầu là một thứ thực vật duy nhất khác với năm
con vật còn lại là Tôm, Gà, Hươu, Cá và Cua. Quả Bầu là loài
thực vật trông “cọc cạch” và cách biệt, không cùng loại với các
loài động vật còn lại. Đây là một chủ ý dùng quả Bầu để
hàm ý sinh tạo, Tạo Hóa. Quả Bầu thế gian ở cõi nhân sinh biểu
tượng bầu sinh tạo của Tiểu Vũ Trụ của cõi Người. Tiểu Vũ Trụ
cõi nhân sinh gồm có Tam Thế: theo duy âm, Cõi Trời, Cõi Trên
(vòm trời, Khí Gió) được biểu tượng bằng Con Cua (đúng nghĩa là
con Còng Gió) trên bàn Bầu Cua (con cua có mai hình vòm biểu
tượng cho vòm trời, bầu trời); Cõi Nước được biểu tượng bằng Con
Cá (Chép) trên bàn Bầu Cua và Cõi Đất được biểu tượng bằng Con
Cọc (Hươu) trên bàn Bầu Cua.
Như thế
nôm na ta thấy bàn Bầu Cua diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ
Trụ thuyết, Vũ Trụ giáo.
Vũ Trụ
thuyết có kinh là Dịch dựa trên nòng nọc, âm dương. Nhìn dưới
lăng kính của Dịch lý ta thấy rất rõ Nọc hôn phối với Nòng sinh
ra Tứ Tượng. Ở cõi thế gian nhân sinh Tiểu Vũ Tru, ta có nọc
thiếu dương (OI) ứng với khuôn mặt thế gian Đất dương của Gà
hôn phối với nòng thiếu âm (IO) ứng với khuôn mặt thế gian Gió
dương (Trời) của con Tôm cho ra Tứ Tượng (ở cõi Tiểu Vụ
Trụ nên sinh tạo theo dạng tiểu là thiếu dương, thiếu âm,
với h câm thiếu = tiểu):
OI giao hòa
với IO
hay OI x IO
Sinh ra
Tứ Tượng:
II, OI, OO,
IO
II là
thái dương (nguyên thể của Lửa).
OI là
thiếu dương (nguyên thể của Đá).
OO là thái âm (nguyên thể của Nước).
IO là thiếu âm, (nguyên thể của Gió).
Thái
dương ứng với Càn (lửa trong bầu vũ trụ). Đây chính là Quả bầu
vũ trụ có mầu Lửa đỏ trên bàn Bầu Cua. Vậy Quả Bầu biểu tượng
Lửa bầu vũ trụ Càn/Khôn. Thiếu dương ứng với Li (lửa thế gian,
đất dương). Đây chính là con Hươu Cọc trên Bàn Bầu Cua. Vậy Con
Hươu Cọc biểu tượng Lửa thế gian Li. Thái âm ứng với Chấn (Nước
sinh động, biển). Đây chính là Con Cá Chép trên bàn Bầu Cua.
Thiếu âm ứng với Đoài (Khí gió sinh động, vòm, bầu trời). Đây
chính là Con Cua trên bàn Bầu Cua. Như thế Bầu Cua Cá Cọc ứng
với Tứ Tượng cõi thề gian.
Kiểm
chứng lại bằng hình ảnh qua các hình tượng trên bàn Bầu Cua ta
cũng thấy rất đúng. Con gà, Quả Bầu và Con Hươu Cọc đều là những
thứ ở trên mặt đất nằm ở hàng trên tức hàng mang dương tính (vì
phía trên gần mặt trời nên mang dương tính) thuộc nhánh Nọc
dương. Quả bầu mầu lửa đỏ mang dương tính nằm ở phía tay phải
tức phía dương như thế Quả Bầu đỏ mang khuôn mặt dương của dương
tức dương dương, hai dương tức thái dương Càn. Con Hươu Cọc có
sừng mang dương tính nằm ở phía tay trái, tức phía âm. Như thế
Hươu Cọc mang khuôn mặt âm của dương tức thiếu dương ứng với Li.
Cả ba Con Tôm, Con Cua và Con Cá đều sống dưới nước nên có âm
tính, nằm ở hàng dưới tức hàng mang âm tính (vì phía dưới gần
Cõi âm nên mang âm tính) thuộc nhánh Nòng âm. Con Cua sống được
dưới nước mang âm tính nhưng nằm ở phía tay phải tức phía dương
nên Con Cua mang khuôn mặt dương của âm tức thiếu âm Đoài. Con
Cá Chép sống dưới nước mang âm tính và nằm ở phía tay trái tức
phía âm nên con Cá Chép mang khuôn mặt âm của âm tức hai âm hay
thái âm ứng với Chấn.
Tứ
tượng cũng có hai khuôn mặt nòng nọc âm dương. Tứ Tượng dương
hôn phối, giao hòa với Tứ Tượng âm sinh ra tám tượng nòng nọc,
âm dương hay Bát Quái. Như thế hiển nhiên bàn Bầu Cua diễn tả Vũ
Trụ thuyết và Dịch lý.
Tùy
theo cách sắp đặt của Bát Quái gọi là Bát Quái đồ ta có
những loại Dịch khác nhau. Bàn Bầu Cua của dân dã Việt Nam diễn
tả Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc.
Bây giờ
ta hãy so sánh, đối chiếu truyền thuyết, huyền sử và cổ sử Việt
với trò chơi Bầu Cua Cá Cọc này.
Theo
truyền thuyết và cổ sử Việt, vị vua tổ cõi trời Đế Minh (Đế
Ánh Sáng) của chúng ta là cháu ba đời Thần Mặt
Trời Tạo Hóa Viêm Đế (như thế chúng ta thuộc dòng Mặt Trời
Rạng Ngời, Con Cháu của Mặt Trời thái dương, là Người Ánh Sáng,
Người Mặt Trời Rạng Ngời. Việt là Mặt Trời Thái Dương, Xích Quỉ
là Người Đỏ, Người Mặt Trời, Họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là
Họ Hồng, Họ Đỏ, Họ Mặt Trời thái dương) (Khai Quật Kho Tàng Cổ
Sử Hừng Việt).
Cõi
Đại Vũ Trụ: Viêm Đế-Thần Nông
-Viêm
Đế
Theo
truyền thuyết, Viêm Đế có họ Khương. Khương có nghĩa là
Sừng (vật nhọn như cọc, nọc). Ở Cõi Tạo Hóa, cõi trên, cõi vũ
trụ, Thần Mặt Trời Viêm Đế có vật biểu chính là con
chim
Sừng, con chim trên đầu có mũ sừng tức con chim Cắt
tức con Chim Rìu, Chim Việt. Mường ngữ gọi chim
cắt gọi là chim khướng. Khướng biến âm với khương (sừng).
Chim khướng là chim sừng, là chim Khương Viêm Đế. Chim khướng,
chim sừng ruột thịt với Anh ngữ hornbill (chim “mỏ sừng”,
chim cắt).
Ở Cõi
Trời Thế Gian nhân sinh, loài chim mang dòng máu chim Sừng của
Viêm Đế là con Gà trống. Gà trống tức con qué (gà qué),
con que, con cọc, con cock, con coq (Pháp ngữ) mang dòng máu
cọc, vật nhọn, dương, mặt trời. Que là vọt (roi) là vớt (dao dài) là
Việt. Gà là chim Việt ở cõi thế
gian trong khi chim cắt là Chim Rìu, Chim Việt ở Cõi Tạo
Hóa.
Tóm lại
con Gà có một khuôn mặt là Chim Việt thế gian biểu tượng cho
dương, cực dương, ngành dương cõi thế gian, nhánh Nọc, là hình
bóng của chim Việt cắt sừng Viêm Đế vũ trụ, Thần Tổ Mặt Trời của
Viêm Việt.
-Thần
Nông
Theo
truyền thuyết, Viêm Đế có hiệu là Thần Nông. Vì thế ta
phải hiểu Thần Nông là khuôn mặt Nòng, âm, là hình bóng trong
chiếc gương âm dương của Nọc Viêm Đế. Thần Nông là Thần Không
Gian đối ngược với Thần Mặt Trời Viêm Đế. Nhìn dưới dạng nhất
thể Viêm Đế-(có hiệu)-Thần Nông là Mặt Trời-Không Gian,
Vũ Trụ.
Thần
Nông của Đại Tộc Việt hoàn toàn khác biệt với Thần Nông đầu bò,
tức ông thần tổ làm ruộng của Trung Hoa
(Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Theo một truyền thuyết, có
lẽ của Đại Tộc Việt, thì Thần Nông thị là người đầu tôm.
Xin đừng lầm lẫn Thần Nông của Đại Tộc Việt có đầu tôm với
Thần Nông, ông thần nông nghiệp đầu bò của Trung Hoa. Như đã
thấy ở trên, trên bàn Bầu Cua Cá Cọc, con Tôm biểu tượng cho
ngành Nòng, Nước, âm, cực âm, ngành âm cõi thế gian, là hình
bóng của ngành người Tôm Thần Nông.
Cõi
Tiểu Vũ Trụ: Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương.
Theo
truyền thuyết và cổ sử Việt, Đế Minh là cháu ba đời của thần Mặt
Trời Viêm Đế như thế Bốn Tổ Phụ Mặt Trời của chúng ta thuộc
dòng Thần Mặt Trời-Không Gian Viêm Đế Thần Nông. Bốn tổ phụ mặt
trời thái dương ứng với Tứ Tượng dương là mặt trời thái dương
Càn Đế Minh, mặt trời thiếu dương Li Kì Dương Vương, mặt trời
thái âm Chấn Lạc Long Quân và mặt trời thiếu âm Đoài Hùng Vương
ứng với Tứ Tượng Nọc, Lửa, dương, mặt trời nọc. Bốn Tổ phụ ứng
với Tứ Tượng dương hôn phối với bốn Tổ Mẫu ứng với Tứ Tượng âm,
ta có bát quái nghĩa là Việt Dịch (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng
Việt).
Nhánh Nọc Mặt Trời Viêm Đế Lửa-Đất dương: Đế Minh, Kì Dương
Vương.
Nọc Gà
Qué thế gian đội lốt chim Cắt Viêm Đế nên cò mang dòng
máu Viêm Đế ở cõi thế gian. Viêm Đế tách hai ra thành Viêm
và Đế: Viêm là Lửa cõi trời (Càn hay Kiền) diễn tả bằng
quả Bầu mầu đỏ (Viêm là nóng, sưng; Viêm biến âm với Diêm là
que quẹt lửa) ứng với Càn Đế Minh và Đế-Lửa thế gian (Li) diễn
tả bằng con Hươu (Đế có một nghĩa là vật, cọc chống đỡ, là đá
chống trời, trụ đá chống trời, Núi Trụ chống trời, Núi Lửa thế
gian biểu tượng Cõi Thế Gian) ứng với Li Kì Dương Vương.
-Đế
Minh.
Như đã
nói Đế Minh là cháu ba đời Thần Mặt Trời Tạo Hóa Viêm Đế. Đế
Minh là Đế Sáng, là Mặt Trời thái dương Buổi Sáng đội lốt
Thần Mặt Trời Nguyên Khởi (Primeval Sun), Tạo Hóa Viêm Đế nên có
một khuôn mặt là Mặt Trời ở cõi trời trong thái dương hệ của Cõi
Trời Thế Gian.
-Vụ Tiên
Vụ Tiên
là vợ Đế Minh. Vụ Tiên có nghĩa là Con Vịt Trời Le Le. Vịt trời
là loài chim biểu tượng cho cõi trời, cõi hư không và Le Le là
Nước (Tiếng Việt Huyền Diệu) ứng với Nước hư không, vũ trụ, là
âm thái âm Khôn nước. Vịt trời Le Le Vụ Tiên biểu tượng cho Nước
âm vòm trời.
Trên
bàn Bầu Cua, khuôn mặt của Đế Minh và Vụ Tiên là quả Bầu mầu đỏ
nước-lửa vòm trời, vũ trụ. Như đã
thấy ở trên, trong sáu hình biểu tượng trên bàn Bầu Cua, quả bầu
là một thứ thực vật duy nhất khác với năm con vật còn lại là
Tôm, Gà, Hươu, Cá và Cua. Quả Bầu là loài thực vật trông “cọc
cạch” và cách biệt, không cùng loại với các loài động vật còn
lại. Như thế trong thái dương hệ, Đế Minh khác biệt với Cua,
Cá, Cọc. Tại sao lại có sự khác biệt này? Đế Minh và Vụ Tiên
mang khuôn mặt bầu sinh tạo, nang, trứng Tạo Hóa, bầu trời ở
cõi thế gian đội lốt Viêm Đế- Thần Nông bầu vũ trụ ở cõi Tạo Hóa
vũ trụ. Đây là lý do tại sao lại chọn quả bầu làm biểu tượng cho
Đế Minh Vụ Tiên. Bầu là bầu vũ trụ, bầu trời, bầu sinh tạo, bầu
thai, bầu sinh đẻ. Bầu mang nghĩa sinh tạo, Tạo Hóa. Qua hình
ảnh biểu tượng bằng quả bầu cách biệt này ta cũng thấy rất rõ Đế
Minh thuộc cõi trời vì thế mà họ Hồng Bàng thế gian không kể Đế
Minh chỉ tính từ Kì Dương Vương trở xuống. Ba vị vua của họ
Hồng Bàng thế gian được biểu tượng bằng ba loài động vật sống ở
cõi thế gian là Hươu Cọc Kì Dương Vương, Cá Lạc Long Quân và
Cua Hùng Vương (xem dưới).
-Kinh
Dương Vương hay Kì Dương Vương.
Đế Minh
và Vụ Tiên sinh ra vị vua thế gian đầu tiên là Kì Dương Vương.
Kì biến âm với ki (cây), kẻ (que), kèo (cọc nhỏ) nên có những
nghĩa là cọc, nọc, Núi Kì, Núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Gian
biểu tượng cho cõi đất thế gian. Kì Dương Vương có dòng máu Lửa
vòm trời, vũ trụ của cha trộn với dòng máu Nước vòm trời, vũ trụ
của mẹ nên có cốt là Lửa có nước, có âm tính ở cõi thế gian,
tức âm của dương, tức thiếu dương, tức Li. Một khối Lửa sinh ra
từ Lửa vũ trụ Càn bay trong bầu vũ trụ Khôn nước nguội dần đi
thành quả đất Li. Vì thế Kì Dương Vương là thiếu dương Lửa, Li
(để dễ nhớ xin lưu ý Li biến âm với Kì qua từ đôi li kì:
Kì Dương Vương có mạng Li, quả thật là li kì!).
Như đã nói, Kì Dương Vương là vị vua tổ thế gian của người Việt,
lập ra nước Việt đầu tiên là Xích Quỉ. Xích Quỉ là biến âm của
Xích Kì, Xích Kẻ. Kẻ có một nghĩa là Người. Xích Quỉ, Xích Kẻ có
nghĩa là Người Đỏ, Người Mặt Trời. Việt là vọt (roi), là
vớt (dao dài) là vác (mác) nghĩa là vật nhọn, là
rìu búa ứng với cọc, nọc, sừng, Kì, Kẻ có một nghĩa biểu tượng
cho đực, dương, Mặt Trời. Người Việt là Người Mặt Trời Hừng
Rạng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Việt có một nghĩa
là Rìu, Dìu (vật nhọn, búa). Như đã biết ở trên Việt là Rìu,
dìu, tìu , tiều, tườu là hươu. Việt Tiều, Việt Tườu, Việt
Hươu. Từ Việt trong hai chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu có
nghĩa là chậy. Chậy là một nét đặc thù của con hươu như thấy qua
câu ví “CHỈ ĐƯỜNG CHO HƯƠU CHẬY”. Việt viết với bộ tẩu,
Việt Chậy là Việt Hươu là Việt Kì Dương Vương là Việt Xích Quỉ,
Việt Mặt Trời Thái Dương Hừng Rạng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử
Hừng Việt).
Như
trên đã thấy Kì là cọc là con hươu sừng, hươu đực Kì Dương. Kì
Dương Vương có khuôn mặt là Núi Kì, Núi Cọc, Núi Trụ Chống
Trời, Núi Trụ Thế Gian, bên trong có Trục Thế Giới thông thương
Ba Cõi vì thế truyền thuyết mới chép rằng "Kinh Dương Vương
có nhiều phép lạ có thể đi lại trên trời và dưới nước được”.
Cũng vì "có tài đi dưới thủy phủ" nên Kinh Dương Vương
xuống cõi nước lấy Thần Long (Lĩnh Nam chích quái, tr. 21).
Ở trên
ta thấy Kì Dương Vương có khuôn mặt Tạo Hóa đội lốt Viêm Đế và
một khuôn mặt cõi trời đội lốt Đế Minh. Thật vậy, Viêm Đế họ
Khương (Sừng) có chắt đích tôn ở cõi thế gian mang dòng máu,
mang di thể (gene) Sừng, có thú biểu bốn chân có
Sừng tức con hươu sừng, chính là Kì Dương Vương.
Rõ như ban ngày, ở cõi thế gian, Kì Dương Vương đội lốt Viêm Đế
ở Đại Vũ Trụ và Đế Minh ở Tiểu Vũ Trụ.
Tóm lại
Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời Thiên Đỉnh, Giữa
Trưa (chính ngọ) Đất Thế Gian, cõi Người. Vì có mạng là Núi
Trụ Thế Gian trong có Trục Thế Giới nên là Mặt Trời ở trên đỉnh
Trục Thế Giới tức Mặt Trời Thiên Đỉnh (zenith). Kì Dương Vương
là Vua Mặt Trời Chói Chang Rạng Ngời của người Việt Mặt Trời
hừng rạng, biểu tượng Lửa Thế Gian, núi lửa, núi Kì, núi Trụ
Chống Trời, núi Trụ Thế Gian, có thú biểu là con hươu sừng, Hươu
Cọc, Hươu Kì có lông mầu vàng sắc lửa, có đốm mặt trời mầu đỏ
cam. Mã Lai ngữ có từ kijang dùng để gọi một loài hươu. Kijang
chính là Việt ngữ kì dương, tên của vua tổ Kì Dương (Vương) của
chúng ta. Vì thế mà Kì Dương Vương mới có tên mẹ đẻ là Lộc Tục,
có nghĩa là con Hươu Đực, Hươu Nọc, Hươu Sừng. Ta cũng thấy rất
rõ di thể (gene) sừng này ở cõi thế gian, trên mặt đất của Kì
Dương Vương truyền từ họ Khương (sừng) của Thần Mặt Trời Viêm
Đế xuống. Hươu Kì này là con thú chủ (host) của linh thú kì
(lân) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Con kì (lân) Hán
Việt còn gọi là con li như thấy trong tứ linh: long, li, qui,
phượng. Như thế, ta thấy rất rõ li = kì và vua tổ Kì Dương
Vương của chúng ta có mạng Li và có thú biểu là con mang gạc kì
mang, kijang, có linh thú là con nghê, con li, con kì (lân)
(Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
Trên
bàn Bầu Cua Cá Cọc, khuôn mặt của Kì Dương Vương là con Kì, con
Cây, con Cọc, con Hươu Cọc.
-Thần
Long
Vợ Kì
Dương Vương là Thần Long có nghĩa là con Rồng-nước Khảm, là nước
âm thế gian, nước rơi từ trời, nước mưa vì mang dòng máu nước vũ
trụ Khôn của mẹ Vụ Tiên. Rồng Nước Thần Long có di thể, có dòng
máu Long nên sinh ra LạcoNormal" style="text-align:justify">
Nhánh Nòng, Nước-Gió: Lạc Long Quân, Hùng Vương.
-Lạc
Long Quân.
Lạc
Long Quân là con Kì Dương Vương và Thần Long nên có hai dòng máu
Lạc và Long. Dòng máu Lạc từ cha là Lạc Dương, Mặt
Trời Lặn, là Nác, là Nước, là Mặt Trời Nước, là Ruộng Lạc, đất
có nước (do di thể đất dương Núi Lửa Li của cha Kì Dương Vương
pha trộn với di thể Khảm nước của mẹ Thần Long truyền xuống).
Dòng máu Rồng Long của mẹ Thần Long truyền xuống do đó mới có
tên là Long nhưng cộng với di thể lửa Li của cha nữa nên là con
rồng Nước-Lửa, Nước Dương ứng với Chấn. Lạc Long Quân là Vua
Mặt Trời Nước mang nhiều âm tính, là Mặt Trời Lặn, Lạc
Dương vì thế mới gọi là Quân (Lord) chứ không gọi là Vương
(King). Quân có một nghĩa là mầu mồng quân, mầu huân, mầu tím
đen, mầu chiều tím. Lạc Long Quân là vua Mặt Trời Tím, Lạc
Dương, Mặt Trời Hoàng Hôn, Mặt Trời Lặn, Mặt Trời Đêm.
Lạc
Long Quân có khuôn mặt nước lửa, nước dương, nước chuyển động,
có một khuôn mặt là nước Biển vì thế mới là Thần Biển, có biểu
tượng là con Rùa Vàng Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ
Loa và mới có truyền thuyết Lạc Long Quân dẫn năm mươi con xuống
biển.
Cha là
Núi Kì, núi lửa, núi dương, núi Mặt Trời Thiên Đỉnh nên Lạc Long
Quân cũng có một dòng máu núi nhưng là núi nước, núi âm tức non
và là Non Mặt Trời Lặn, Non phía Tây, Non Đoài. Dòng máu non mặt
trời lặn này mang tính liệt so với dòng máu biển vì thế mới dẫn
con xuống biển. Chúng ta có núi Sơn Tây, Núi Thầy (với h câm,
Thầy = Tầy = Tây) là Non mặt trời lặn dòng Lạc Long Quân. Các
tộc gốc ở vùng Sơn Tây, Người Tây Thục, Tầy, Tây Việt thuộc dòng
Lạc Long Quân. Từ Thầy U là tiếng xưng hô của tộc Lạc
Long Quân Âu Cơ, Âu Lạc... Chính vì dòng máu núi non này từ cha
truyền xuống nên Lạc Long Quân mới có tên mẹ đẻ là Sùng Lãm, có
nghĩa là Cao Đẹp. Cái gì cao và đẹp? Hiển nhiên là non cao và
đẹp vì có nhiều cây xanh tươi tốt nhờ có nước, là non cao lúc
Mặt Trời hoàng hôn (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
Lạc
Long Quân có hai khuôn mặt. Một là khuôn mặt cõi trời, Tạo Hóa
là Lạc nước-lửa cõi trời có một khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa đội
lốt Thần Nông, ngang hàng với Đế Minh. Với khuôn mặt sinh tạo
Tạo Hóa này Lạc Long Quân ứng với khuôn mặt bầu nước của trái
Bầu Nước trên bàn Bầu Cua. Khuôn mặt thứ hai ở cõi đất thế gian
ứng với khuôn mặt Cá Chép trên bàn Bầu Cua. Theo truyền
thuyết Mường, Lạc Long Quân có một khuôn mặt là con Cá Chép.
-Âu Cơ
Lạc
Long Quân lấy cháu là Âu Cơ thuộc ngành Nọc, Lửa (Viêm Đế-Đế
Minh-Kì Dương Vương). Chồng Lạc Long Quân dòng Nòng, Nước Thần
Nông hôn phối vợ Âu Cơ dòng Nọc, Lửa Viêm Đế. Vì vậy mà Âu Cơ có
dòng máu Lửa thế gian của Kì Dương Vương (Kì Dương Vương có một
khuôn mặt là núi Kì, núi lửa, núi dương) nên Âu Cơ có một khuôn
mặt núi âm tức Non (Cấn). Vì vậy mà bà dẫn năm mươi con lên non,
lên núi về quê nội dòng Lửa.
Về phía
ngoại, Âu Cơ có dòng máu Nước vũ trụ Khôn của Vụ Tiên (Lạc Long
Quân có một khuôn mặt sinh tạo, vòm trời, vũ trụ, Tạo Hóa tương
đương với Đế Minh nên Âu-Cơ cũng có khuôn mặt sinh tạo, vòm
trời, vũ tru, Tạo Hóa tương đương với Vụ Tiên. Âu-Cơ ở cõi Tiểu
Vòm Trời, Vũ Trụ đội lốt Vụ Tiên ở cõi Đại Vũ Trụ). Nước ở dòng
Lửa, nước gặp lửa bốc thành hơi, khí, gió nên Âu Cơ có dòng máu
gió âm Tốn (OII) hay lửa (II) của (O), nòng, âm. Cũng vì mang
dòng máu gió âm Tốn này mà bà đẻ ra một cái bọc. Tốn là gió âm
có biểu tượng là cái bao, cái bọc, cái túi (ông thần gió thường
khoác cái túi gió trên vai). Di thể bọc gió này truyền từ dòng
máu bầu của bầu Khôn nước cõi trời Vụ Tiên. Âu-Cơ là bầu gió
Tốn thế gian đội lốt bầu nước Khôn Vụ Tiên cõi vòm trời, vũ trụ,
tạo hóa. Có nhiều truyền thuyết diễn nghĩa cái bọc, cái bầu này.
Có truyền thuyết cho là bà đẻ ra “bọc trứng chim” và có
truyền thuyết cho là “bọc trứng ném ra ngoài đồng”. Thật
ra cái bọc này phải hiểu theo nghĩa tổng quát là bọc trứng, bầu
trứng, bọc con thế gian mang hình ảnh của bọc, bao, bầu tạo
hóa, vũ trụ, càn khôn, của bọc Trứng Vũ Trụ. Theo dòng máu gió
âm Tốn thì cái bọc này có thể là bọc trứng chim. Có người dựa
theo tên Âu cho bà là chim hải Âu, một loài chim biển ăn khớp
với chồng có một khuôn mặt biển. Điều này đúng với các tộc sống
dưới nước, trên thuyền vùng biển tức thuộc về một chi của tộc
Giao Việt. Còn những tộc sống trên đất âm, ao đầm, ruộng nước
thì Âu Cơ phải mang một khuôn mặt của con cò gió cái. Âu Cơ là U
Cò. Hình ảnh “cái cò” này thấy rõ qua câu ca dao:
Cái cò lặn lội bờ ao,
Phất phơ hai dải yếm đào gió bay.
(ca
dao).
Con cò
cái có hai dải yếm đào gió bay là con cò gió âm
Tốn. Vợ là con cò Gió âm yếm hồng, yếm đào còn chồng là cò Nước
dương, Cò Nác, cò Lạc đẻ ra con Hùng Lang có một khuôn mặt là Cò
Lang, Cò Trắng, Bạch Hạc (xem dưới).
Nhìn
tổng thể, Âu-Cơ thuộc dòng Nọc, Lửa Viêm Đế-Đế Minh-Li Kì Dương
Vương có một khuôn mặt Tốn OII. Phân tích Tốn OII ra, ta có O là
o (mụ, mệ, cô; mụ có một nghĩa là mẹ như Thiên Mụ = Mẹ Trời) và
II là Lửa (hai nọc dùi vào nhau làm ra lửa). Tốn OII có một
khuôn mặt là O Lửa, Mẹ Lửa, U Lửa hay Thái Dương Thần Nữ. Âu Cơ,
U Cơ có một khuôn mặt là Thái Dương Thần Nữ tương đương với Thái
Dương Thần Nữ Amaterasu của Nhật. Âu Cơ là Mặt Trời đĩa tròn âm
Rạng Đông, rạng ngày, mới ló rạng ở chân trời lúc tinh mơ (mặt
trời đĩa tròn âm không có tia sáng) đẻ ra các vua Hùng Mặt Trời
Mọc Hừng Rạng có nọc tia sáng rạng ngời (Khai Quật Kho Tàng Cổ
Sử Hừng Việt).
-Tổ
Hùng Vương.
Tổ Hùng
Vương chỉ chung Trăm Lang nở ra từ bọc con của Âu-Cơ. Các Lang
Hùng sinh ra từ Nang, Trứng (nang có một nghĩa là bọc, là
trứng), Trứng Vũ Trụ. Như vậy hiển nhiên Tổ Hùng Vương cũng có
một khuôn mặt vũ trụ, cõi trời là bầu, nang. Truyền thuyết nói
rằng “cái bọc nở ra một trăm người con trai” (mà không
nhắc tới con gái). Vậy nang trứng này là cái bọc mang dương
tính đúng với nghĩa của cụm từ đẻ bọc điều (các Lang
Hùng đẻ “bọc điều”). Nang dương, bọc điều diễn tả vũ trụ bầu
trời dương tức Khôn dương, tức khí gió dương tức là Đoài vũ trụ,
cõi trời. Như thế Tổ Hùng Vương có một khuôn mặt là Tổ Mặt
Trời Trứng Vũ Trụ tức Tổ Mặt Trời Tạo Hóa, Sinh Tạo, Càn Khôn,
Âm Dương, Mặt Trời-Không Gian (Sun as Creator) tương đương với
thần Mặt Trời Ra của Ai Cập cổ.
Ta cũng
thấy các Tổ Hùng Đoài vũ trụ là các vua Mặt Trời Tạo Hóa, Sinh
Tạo, Mặt Trời Bầu Trời, Vũ Trụ ở cõi nhân gian, đội lốt thần mặt
trời Đế Minh, xa hơn nữa là đội lốt Viêm Đế. Hùng vương với
khuôn mặt Tạo Hóa là cháu chắt cuối vòng sinh tạo lại trở thành
ông Tổ Mặt Trời Viêm Đế, đầu vòng sinh tạo. Hùng Vương thế gian
là con Lạc Long Quân lại mang khuôn mặt Tổ Hùng Vương Tạo Hóa
sinh ra cha Lạc Long Quân thế gian. Điểm này đã ghi lại rõ ràng
trong sử miệng ca dao tục ngữ qua câu:
Sinh con rồi mới sinh cha,
Sinh cháu giữ nhà, rồi mới sinh ông.
Con
Hùng Vương lại sinh ra cha Lạc Long Quân. Cháu Hùng Vương lại
sinh ra ông Kì Dương Vương, cụ Đế Minh hay chút chít, chụt chịt
Hùng Vương lại sinh ra ông Tổ Mặt Trời Viêm Đế. Ta cũng thấy rất
rõ Hùng Vương con của Mặt Trời Lặn Lạc Long Quân là Mặt Trời
Mọc Hừng Rạng (vì thế tôi gọi Hùng Việt là Hừng Việt và đặt
tên một tác phẩm là Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Trong
vòng sinh tạo, Mặt Trời Mọc Hừng Rạng Hùng Vương (là chắt của
Đế Minh) lại sinh ra Cụ Mặt Trời Buổi Sáng Đế Minh, sinh ra ông
mặt trời Giữa Trưa Kì Dương Vương và sinh ra cha Mặt Trời Lặn
Lạc Long Quân.
Trên
bàn Bầu Cua Cá Cọc, khuôn mặt của Tổ Hùng Vương là con Cua.
Tại sao lại là con cua? Con cua tương đương với con rùa hộp, rùa
ba ba, rùa qui (qui có một nghĩa là tròn, vòng tròn) vì con cua
cũng có mai hình vòm tròn tương đương với mai tròn của rùa hộp.
Mai biểu tượng cho vòm trời, vòm vũ trụ, bầu trời, bầu vũ trụ,
bọc khí gió vì thế con cua, con rùa hộp biểu tượng cho không
gian, vũ trụ, vòm vũ trụ, vòm trời, khí gió dương, thái dương
tức Đoài vũ trụ. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tôi
đã chứng minh Hùng Vương có mạng gió dương Đoài tương đương với
Phục Hy (Phục Hy có đuôi rắn thuộc ngành nòng âm, là đàn ông nên
là dương của âm tức thiếu âm, nguyên thể của gió, Đoài bầu vũ
trụ, cõi trời. Phục Hy có biệt hiệu là Thanh Tinh Sao Xanh và
Rồng xanh tức Gió dương Đoài). Về phương diện ngôn ngữ học, Mã
Lai ngữ kura hay cuora là con rùa chính là từ cua
trong Việt ngữ. Ta cũng gọi con rùa nước ngọt tức con ba
ba là con cua đinh. Như thế con rùa và con cua qua hai
ngôn liên hệ mật thiết với nhau là Việt ngữ và Mã Lai ngữ tương
đương với nhau. Rõ như con cua tám cẳng hai càng, một mai hai
mắt rõ ràng con cua là cua Đoài Hùng Vương tương đương
với rùa Đoài Phục Hy.
Con dân
Đoài Hùng Vương thế gian sống ở vùng đất thấp ao đầm, ruộng nước
(Đoài thế gian có một nghĩa là ao đầm) nên đã chọn con cua quen
thuộc thay cho con rùa ba ba, rùa qui. Con cua còn hình dung,
gợi hình cho Dịch trọn vẹn hơn con rùa. Ngoài cái mai vòm tròn
tương đương với mai rùa biểu tượng cho hư vô, Vô Cực, vũ trụ,
con cua còn có hai càng ứng với Âm Dương, Lưỡng Nghi và bốn
cẳng bên phải biểu tượng cho Tứ Tượng dương và bốn cẳng bên trái
biểu tượng cho Tứ Tượng âm và như thế tám cẳng ứng với Bát Quái.
Con Cua diễn tả Dịch trọn vẹn, hoàn hảo hơn rùa. Vì vậy mà trên
bàn Bầu Cua Cá Cọc mới dùng con Cua để biểu tượng cho Hùng Vương
có dòng máu Đoài vũ trụ và dòng máu Đoài thế gian ao đầm.
Vì có
mạng khí gió Đoài, nên Hùng Vương dòng gió mới đóng đô ở Phong
châu tức châu Gió và có chim biểu là con Cò Gió, Cò Lang tức Cò
Trắng (Lang có một nghĩa là trắng như chứng bị lang da, da hóa
trắng, chứng vitiligo) có Cha là Cò Nước, Cò Lạc và mẹ là U Cò,
Cò Gió “phất phơ hai dải yếm đào gió bay”. Cũng vì vậy nên mới
có địa danh Bạch Hạc (Cò Trắng) bên bờ sông Thao (Lô), kinh đô
cũ Phong châu của nước Văn Lang:
Hùng Vương đô ở Phong châu,
Ấy nơi Bạch
Hạc, hợp dòng Thao Giang.
Đặt tên là
nước Văn Lang.
Chia mười
lăm bộ, bản chương cũng liền...
(Lê Ngô
Các, Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca).
Khí Gió
dương là Đoài vũ trụ, cõi trời. Khuôn mặt gió dông Đoài vũ trụ
này đi với truyền thuyết Phù Đổng thiên vương. Đây là vị thần
hay vị anh hùng văn hóa có cốt là sấm dông tố, có mạng Đoài vũ
trụ ruột thịt với Hùng Vương cũng có mạng Đoài, vì vậy ông Dóng
mới giúp vua Hùng thứ sáu đánh đuổi giặc Ân là vậy (Ca Dao Tục
Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).
Xin
lưu tâm là:
-trò
chơi này thường gọi theo chiều Nòng, Nước, âm tức cùng chiều
quay của kim đồng hồ là Bầu Cua Cá Cọc chứ không gọi theo chiều
dương Bầu Cọc Cá Cua cho thấy gọi như thế là nghiêng về dòng
Nòng, Nước Chấn Lạc Long Quân An Dương Vương.
-trò
chơi này chỉ gọi theo bốn tên Bầu Cua Cá Cọc (không có Tôm Gà)
ứng với Tiểu Vũ Trụ, Cõi Người, cõi nhân sinh, ứng với truyền
thuyết Việt từ Đế Minh trở xuống và các hình tượng đều là những
thứ thân quen hiền hòa thấy trong đời sống hàng ngày của người
dân dã Việt Nam nên bàn Bầu Cua có chủ đích diễn tả một thứ Dịch
dân gian của Đại Tộc Việt
Tóm lại
Bàn
Bầu Cua Cá Cọc diễn tả một thứ Dịch ứng với truyền thuyết và cổ
sử Việt.
Tôi
gọi là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc.
Bàn
Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của Nguyễn Xuân Quang.
Ta thấy
hiện nay mỗi bàn Bầu Cua chỉ diễn tả được một phần của một loại
Dịch không trọn vẹn, chỉ đúng một phần vì người chế tạo không
biết đây là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc. Tôi xin sáng tác ra một
bàn Bầu Cua có những chi tiết diễn dịch theo truyền thuyết và
cổ sử Việt hầu giúp cho việc học và dậy văn hóa Việt Nam bằng
Bầu Cua Cá Cọc cho dễ hiểu, dễ nhớ và đầy hào hứng, giải trí
(xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc với những hình minh họa của họa sĩ
Khánh Trường).
Tóm
lược lại bàn Bầu Cua Cá Cọc là một thứ Việt Dịch Bầu Cua Cá
Cọc hay Việt Dịch Con Cua Hùng Vương.
Dịch
Bầu Cua Cá Cọc là Việt Dịch?
Như
trên đã biết tùy theo cách sắp đặt của bát quái gọi là bát quái
đồ ta có những loại Dịch khác nhau. Việt Dịch phải có các quẻ
trên bát quái đồ sắp xếp riêng theo văn hóa, truyền thuyết Việt.
Như thế câu hỏi được đặt ra là bàn Bầu Cua Cá Cọc của dân dã
Việt Nam có thật sự diễn tả Việt Dịch hay không? Hay là ta lấy
của Trung Hoa như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn trong một băng nhạc
của trung tâm Thúy Nga có nêu ra là có một vị cho là trò chơi
này của Trung Hoa hay Trung Hoa cũng có trò chơi này. Vì Bầu Cua
Cá Cọc diễn tả Dịch lý nên người Trung Hoa, Tây Tạng, Ấn Độ, Ai
Cập, Maya, vân vân, có Dịch hay có quan niệm Lưỡng Thể (nguyên
lý căn bản của Dịch) thì họ cũng có thể có một thứ trò chơi cùng
một nguyên lý nòng nọc hay là một dạng biến thể của Bầu Cua Cá
Cọc của dân gian Việt Nam. Ví dụ người Trung Hoa có thể có một
trò chơi cùng loại “Bầu Cua” nhưng có thể có con chim phượng
thay cho Gà, Cọp thay cho Hươu, Rồng thay cho cá Chép, Rùa qui
thay cho Cua... Chắc chắn bàn “Bầu Cua” của Trung Hoa, nếu có,
có những hình biểu tượng khác với các hình tượng trên bàn Bầu
Cua Cá Cọc của chúng ta vì Việt Dịch và Dịch Trung Hoa có những
điểm khác nhau. Sau đây là vài điểm mấu chốt đặc thù cho thấy
Bầu Cua Cá Cọc là Việt Dịch của dân gian Việt Nam.
1. Con
Tôm là vật biểu của Thần Nông có đầu tôm của Đại Tộc Việt. Thần
Nông đầu tôm của Đại Tộc Việt mang hình ảnh con Tôm He biểu
tượng ngành Nòng (có một khuôn mặt là Nước-Gió) hoàn toàn khác
biệt với ông thần nông nghiệp, làm ruộng Thần Nông đầu bò của
Trung Hoa.
2. Con
Gà là chim Việt thế gian mang dòng máu chim Việt tạo hóa là chim
Rìu, chim Cắt. Gà cùng họ hàng với chim trĩ. Chim trĩ thần thoại
hóa thành chim phượng của Trung Hoa. Điểm này cho thấy văn hóa
Trung Hoa là một nền văn hóa mang tính trìu tượng, thần thoại
hóa nên phát triển muộn hơn văn hóa Man Di Việt cổ.
3. Quả
Bầu: theo truyền thuyết Mường Việt, con Người (Tiểu Vũ Trụ) sinh
ra từ quả bầu (Đại Vũ Trụ). Người Kinh (Việt) từ quả Bầu chui ra
trước nên có da trắng và người Mường và các sắc dân vùng cao
chui ra sau nên có da đen hơn. Tổ Hùng Vương sinh ra tứ một bọc
trứng, một Bầu trứng mang hình bóng Bầu sinh tạo, Bầu Tạo Hóa.
Hùng Vương có hai khuôn mặt: khuôn mặt truyền thuyết
là Tạo Hóa và khuôn mặt nhân gian có thể là lịch sử. Mẹ Tổ
Âu Cơ đẻ ra một bọc, một Bầu Trứng.
4. Con
Hươu là thú biểu của vua thế gian đầu tiên của người Việt là Kì
Dương Vương, Vua Hươu Mặt Trời, có tên mẹ đẻ là Hươu Nọc Lộc
Tục. Vua Kì Mặt Trời có thú biểu là con Kì, con Kèo (Cọc nhỏ),
con Hèo (k=c=h), con Hiêu, con Hưu, con Hươu Mặt Trời, có linh
thú là con Kì (trong cặp Kì lân).
Việt là
Rìu là Dìu, là Tìu, là Tiều, là Tườu, là Hươu.
5. Con
Cá chép hóa long là thú biểu của Vua Rồng Nước Lạc Long Quân.
6. Con
Cua (Còng Gió) là thú biểu thế gian đồng ruộng của Hùng Vương.
7. Điểm
mấu chốt quan trọng nhất là Dịch Bầu Cua Cá Cọc có bốn quái
dương ứng với Tứ Tượng dương là Càn, Li, Chấn, Đoài, theo duy
dương (đọc theo chiều ngược chiều kim đồng hồ là Bầu Cọc Cá Cua)
xếp đúng theo cây phả hệ của các tổ phụ của chúng ta, rập đúng
theo truyền thuyết, huyền sử Việt là Càn Bầu Đế Minh sinh ra
con Li Hươu Cọc Kì Dương Vương, có cháu Chấn Cá Chép Lạc Long
Quân và chắt Đoài Cua Hùng Vương. Trong khi đó các quái này ở
Dịch Trung Hoa xếp theo thứ tự khác, nghĩa là Dịch Trung Hoa là
một loại Dịch khác với Dịch Dịch Bầu Cua Cá Cọc. Ví dụ ở Tiên
Thiên bát quái (Dịch Phục Hy) bốn quái dương ứng với Tứ Tượng
dương xếp theo Càn, Đoài, Li, Chấn (so sánh với truyền thuyết và
cổ sử Việt, ta thấy ứng với Đế Minh, Hùng Vương, Kì Dương
Vương, Lạc Long Quân, rõ ràng thứ tự lung tung không ăn khớp với
truyền thuyết và huyền sử Việt) và ở Hậu thiên bát quái các
quái dương và âm xếp xen lẫn với nhau không phân chia ra hai
phía dương và âm riêng biệt. Điểm này phản bác lại những người
mang đầu óc nô lệ bị đô hộ bởi người Tầu hay những người Việt
gốc Hoa cho rằng Bầu Cua Cá Cọc là trò chơi của người Trung Hoa.
Chắc chắn bàn “Bầu Cua” của Trung Hoa, nếu có, có những hình
biểu tượng khác với các hình tượng trên bàn Bầu Cua Cá Cọc của
chúng ta vì Việt Dịch, văn hóa Việt và Dịch Trung Hoa, văn hóa
Trung Hoa có những điểm khác nhau. Nếu là của Trung Hoa thì tại
sao lại xắp xếp các quái rập theo truyền thuyết, huyền sử và cổ
sử Việt?
8.
Nhìn theo diện dòng mặt trời Viêm Đế ta thấy bàn Bầu Cua diễn tả
những mặt trời của các Tổ Mặt Trời của chúng ta đúng theo chu kỳ
ngày đêm: đó là Mặt Trời Buổi Sáng Bầu Đế Minh (có vợ Vụ Tiên
là Mặt Trời đĩa tròn Buổi Tối) rồi đến Mặt Trời Giữa Trưa Hươu
Cọc Kì Dương Vương (có vợ Thần Long là Mặt Trời đĩa tròn Nửa
Đêm), kế tiếp là Mặt Trời Lặn Cá Chép Lạc Long Quân (có vợ Âu-Cơ
là Mặt Trời Mọc đĩa tròn rạng ngày hay Thái Dương Thần Nữ) và
tiếp theo là mặt Trời Mọc Hừng Rạng Hùng Vương (có vợ là mặt
trời lặn đĩa tròn chạng vạng). Trên bàn Bầu Cua những Tổ Phụ
được diễn tả bằng các mặt trời có nọc tia sáng rạng ngời, có số
nọc tia sáng và mầu sắc khác nhau và các Tổ Mẫu được diễn tả
bằng các mặt trời đĩa tròn có vòng tròn đầy mỏng và mầu sắc khác
nhau (xem minh họa của họa sĩ Khánh Trường trên bàn Việt Dịch
Bầu Cua Cá Cọc do tác giả vẽ kiểu).
Vân
vân...
Cách
Chơi
1. Cách
Chơi Thông Thường
Ai
cũng biết cách chơi thông thường này ra sao rồi, tôi không cần
nhắc lại.
2. Cách
Chơi Theo Truyền Thuyết Cổ Sử Việt.
Nhà con
có thể chọn cách chơi dựa vào truyền thuyết, huyền sử và cổ sử
Việt, nghĩa là có thể chọn:
-Hai
cửa ứng với hai vị Thần Tổ tối cao, tối thượng Viêm Đế Thần Nông
tức hai cửa Gà và Tôm. Nếu hai thứ này hiện ra cùng một lúc ở
mặt trên của hai trong ba con súc sắc thì người đánh sẽ thắng.
Giá trị thắng bằng gấp năm hay gấp mười số tiền hay vật đã đặt
(tùy theo sự qui định lúc trước khi chơi của nhà cái và nhà
con). Nếu không có hình giống nhau hiện ra đủ cả hai cửa thì nhà
con bị thua (nếu chỉ hiện ra một trong hai con là Gà hoặc Tôm
thì nhà con cũng thua).
-Ba cửa
ứng với ba khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa nhánh nọc dương là Con
Gà Viêm Đế, Bầu Lửa-Nước Đế Minh/Vụ Tiên và Hùng Vương ngành nọc
Lửa Cua Đá.
Thể
thức ăn và thua giống như trên.
- Ba
cửa ứng với ba khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa nhánh nòng âm là
Con Tôm Thần Nông, Bầu Nước-Gió Lạc Long Quân/Âu-Cơ và Hùng
Vương ngành nòng Nước con Cua Biển (con ghẹ). Thể thức ăn và
thua giống như trên.
-Ba cửa
ứng với Tam Thế cõi nhân sinh là Cõi Trên Vòm Trời Con Cua, Cõi
Giữa, dương gian Con Hươu và Cõi Dưới Con Cá. Thể thức ăn và
thua giống như trên.
-Ba cửa
ứng với Họ Hồng Bằng Thế Gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống tức
chọn chơi ba cửa Con Hươu, Con Cá và Con Cua. Thể thức ăn và
thua giống như trên.
-Bất kì
ba cửa nào thuộc ngành Lửa tức phía Tổ Mẫu Âu-Cơ ví dụ như chọn
chơi ba cửa Bầu Lửa Đế Minh, Hươu Lửa Kì Dương Vương, Cá Chép
dòng Lửa Lạc Long Quân hay Hươu Lửa Kì Dương Vương, Cá Chép dòng
Lửa Lạc Long Quân và Cua Đá dòng Lửa Hùng Vương hoặc Cá Chép
dòng Lửa Lạc Long Quân, Cua Đá dòng Lửa Hùng Vương và Bầu Lửa Đế
Minh, vân vân... Thể thức ăn và thua giống như trên.
-Bất kì
ba cửa nào thuộc ngành Nước tức phía Tổ Phụ Lạc Long Quân ví dụ
như chọn chơi ba cửa Bầu Nước-Gió Lạc Long Quân, Con Ghẹ Hùng
Vương, Cá Chép dòng Nước An Dương Vương hoặc Con Ghẹ Hùng
Vương, Cá Chép dòng Nước An Dương Vương và con Kì Mang dòng
Nước Đế Minh vân vân... Thể thức ăn và thua giống như trên.
-Đánh
Âu Cơ với khuôn mặt thuộc nhánh Lửa tức non thế gian thì đặt ở
cửa con Hươu Cọc (Âu-Cơ có thú biểu là con nai sao thuộc dòng
hươu cọc Kì Dương Vương).
-Đánh
Âu-Cơ với khuôn mặt sinh tạo đẻ ra bọc trứng thì chọn đánh cửa
Quả Bầu Nước-Gió Lạc Long Quân/Âu Cơ.
-Đánh
Lạc Long Quân với khuôn mặt Nước-lửa thế gian thì đặt ở cửa con
cá Chép dòng Lửa (cá gáy, cá lí ngư) ở hàng trên.
-Đánh
Lạc Long Quân với khuôn mặt sinh tạo đội lốt Thần Nông thì chọn
cửa Quả Bầu Nước-Gió Lạc Long Quân/Âu Cơ.
-Đánh
Hùng Vương dòng Nước Cha Lạc Long Quân-An Dương Vương thì chọn
con Cá Chép Nước (cá anh vũ) ở hàng dưới.
-Đánh
Hùng Vương dòng Lửa Mẹ Âu Cơ-Kì Dương Vương thì chọn cửa con
Mang (mễn) Nước ở hàng dưới.
. . . .
. .
Giáo sư
hay người dậy truyền thuyết, huyền sử và cổ sử Việt có thể chọn
những cách chơi kết hợp các cửa khác nhau thích ứng với bài sử
muốn dậy và có thể dùng bàn Bầu Cua Cá Cọc để làm trắc nghiệm về
sự hiểu biết của học viên về truyền thuyết, huyền sử, cổ sử
Việt và Việt Dịch.
Kết
Luận
Tóm lại
ta phải nói Bầu Cua Cá Cọc chứ không phải là Bầu Cua Cá Cọp. Trò
chơi Bầu Cua Cá Cọc có mục đích diễn dịch bằng hình ảnh, bằng
trò giải trí một cách dân dã đầy lý thú, lôi cuốn của một thứ
Việt Dịch bao gồm cái cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam. Cốt
lõi của văn hóa cổ Việt là Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, Việt Dịch
nòng nọc. Kinh của Vũ Trụ giáo là Dịch Nòng Nọc (âm dương).
Ở đây là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc. Muốn hiểu thông suốt
văn hóa Việt phải dựa vào Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, vào Việt
Dịch để tìm hiểu. Không nhìn dưới lăng kính Dịch học thì không
bao giờ hiểu thấu triệt được văn hóa Việt. Cần lưu tâm là có
nhiều loại Dịch, chúng ta có những loại Dịch riêng biệt mang sắc
thái Việt như Dịch Con Cua ở đây chẳng hạn, vì thế không thể
dùng Dịch Trung Hoa mà giải thích văn hóa Việt một cách máy móc.
Dĩ nhiên có một số truyền thuyết và những nét văn hóa muộn bị
ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa do các nho sĩ ở một số địa phương
diễn đạt nghiêng nhiều theo Dịch Trung Hoa (điều này giải thích
tại sao có sự khác biệt trong nhiều truyền thuyết, trong nhiều
ngọc phả của Hùng Vương). Khi nghiên cứu cổ sử, văn hóa Việt ta
phải đối chiếu với tất cả các loại Dịch kể cả Dịch Trung Hoa để
tìm ra một giải đáp thích đáng. Xin hãy đeo cặp kính Dịch lý
vào mắt mà nhìn văn hóa Việt, hãy nhìn theo cái nhìn tổng thể
bằng cả hai con mắt phải (dương) và con mắt trái (âm) để nhìn
thấy cả con-voi-văn-hóa Việt dưới lăng kính của Vũ Trụ giáo, Mặt
Trời giáo và Việt Dịch nòng nọc. Nếu không, những người làm văn
hóa Việt chỉ là những nhà văn hóa chột mắt hay chỉ là những ông
thầy bói sờ voi.
Hãy
học, dậy văn hóa Việt bằng Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc.
Trò
chơi Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc đầy hào hứng này là MỘT CÁCH THẬT
LÀ DỄ DÀNG, DỄ HIỂU, DỄ NHỚ VÀ VUI THÍCH ĐỂ HIỂU, ĐỂ HỌC VÀ ĐỂ
DẬY TRUYỀN THUYẾT VIỆT, HUYỀN SỬ VIỆT, CỔ SỬ VIỆT VÀ VIỆT DỊCH.
Trò chơi Bầu Cua do tôi sáng tạo theo truyền thuyết và cổ sử
Việt viết bằng song ngữ là một trợ huấn cụ giúp cho các
thầy cô, giáo sư, các nhà giáo dục dùng để giảng dậy truyền
thuyết, cổ sử, văn hóa và Việt Dịch từ trình độ tiểu học tới đại
học cho cả người Việt và người ngoại quốc nhất là cho giới trẻ
Việt ở hải ngoại. Đây là một kim chỉ nam, một cẩm nang giúp các
nhà làm văn hóa Việt sửa lại, điều chỉnh lại những sai lầm,
lệch lạc về văn hóa Việt hiện nay. Phần lớn các người làm văn
hóa Việt hiện nay chỉ nhìn văn hóa Việt dưới một con mắt của một
người chột mắt (thường bị chột mắt trái nên chỉ nhìn bằng con
mắt phải theo duy dương của xã hội phụ hệ cực đoan ngày nay hay
theo văn hóa mang tính cách “macho”, võ biền của Trung Hoa). Đây
là một cách khai tâm học Dịch bằng hình ảnh và trò chôi rất hữu
hiệu cho những ai muốn học và tìm hiểu Dịch lý nhất là Việt Dịch
mà không muốn bị “mắc (vào) Dịch”. Ngoài ra Việt Dịch Bầu Cua Cá
Cọc cũng có thể dùng để Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á
vì trống đồng âm dương Đông Nam Á là một bộ Dịch nòng nọc bằng
đồng, cũng là một thứ Việt Dịch ruột thịt với Việt Dịch Bầu Cua
Cá Cọc (xem Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, đang in).
Tài
Liệu Tham Khảo
-Nguyễn
Xuân Quang
-Khai
Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999).
-Ca Dao
Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).
-Tiếng
Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).
-Giải
Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (đang in).
-Vũ
Quỳnh, Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái (NXB Văn Hóa, 1960).
-Joseph
Murphy, Secrets of the I Ching, Reward Books, 2000.
Trở về Trang Chính