Hàng năm cứ tới ngày mồng 9 tháng 4 âm
lịch người Việt tổ chức lễ tưởng nhớ ông Dóng Phù Đổng Thiên
Vương, một vị thnh thần thoại hay một vị anh hùng văn hóa.
Ai ơi, mồng chín
tháng tư,
Không về hội Dóng
uổng hư mất đời.
(ca dao)
hay
Mồng bẩy hội Káhm,
mồng tm hội Dâu,
Mồng chín đâu đâu
cũng về hội Dóng.
(ca
dao).
Chắc chắn là ngày này không phải là ngày ông Dóng bỏ về trời.
Ngày này cũng không phải là ngày sinh nhật của ông. Vậy thì tại
sao, tổ tiên chúng ta lại chọn ngày này để làm lễ tưởng nhớ ông
Dóng? Tại sao trong một năm có 360 ngày (tính theo âm lịch) tổ
tiên ta lại chọn ngày này? Hiển nhiên ngày này phải liên hệ tới
ông Dóng. Vậy trước hết ta hãy tìm hiểu sơ qua một chút về bản
thể của ông Dóng.
Tôi đã viết rất chi tiết về ông Dóng trong bài Ông Đổng Mà Đúc
Trống Đồng trong Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt, ở đây chỉ
xin nhắc lại những điểm chính.
Theo truyền thuyết vùng Trung châu, Bắc Việt, ông Dóng là con
ông Đổng cha. Ông Đổng cha này mang hình bóng ông Thần Sấm Dông
Bão: “Ông Đổng cao lớn lạ thường. Đầu đội trời, chân đạp đất,
vai chạm mây. Ông bước dài từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác.
Dấu chân ông lún cả đá, thủng cả đất. Tiếng nói ông vang ầm
thành sấm. Mắt ông sáng loé chớp lửa. Hơi thở ông phun ra mây
đen, gió bão và mưa dông... Ông đi đàng tây sang đàng đông là
bão tây. Ông đi đàng đông sang đàng tây là bão đông.
Ngày nay, dấu chân ông Đổng còn thấy ở nhiều nơi... và đặc biệt
là ở làng Dóng Mốt (còn gọi là Vườn Đổng, Đổng Viên hay Cố Viên)
được nhận là vườn quê của bà mẹ Dóng.” (Cao Huy Đỉnh).
Bà mẹ Dóng dẫm phải dấu chân khổng lồ của ông Đổng để lại ngoài
vườn cà nhà mình sau một đêm dông bão nên thụ thai sinh ra ông
Dóng. Hiển nhiên ta thấy ông Dóng là con của ông Đổng Thần Sấm
Dông nên có bản thể là sấm dông.
Ông Dóng sinh ra cứ nằm dài trên chõng đá, không biết nói cho
tới lúc 3 tuổi, khi có sứ giả của triều đình đi rao tìm người ra
giúp đánh giặc Ân, mới mở mắt “sáng như sao” và mở miệng cất
tiếng nói đầu tiên “ầm vang như sấm” đòi ra đánh giặc Ân. Ông
nói với sứ giả:
Bay về bay dổng vua bay,
Cơm thời bay thổi cho đầy bảy nong.
Cà thời muối lấy ba gồng,
Ngựa sắt, vọt sắt ta thời dẹp cho
Ông Dóng ăn bẩy nong cơm ba gồng (gánh) cà xong uống hết một
khúc sông:
Bẩy nong cơm, ba gồng cà,
Uống một hơi nước, cạn đà khúc sông.
Số bẩy (nong cơm) là số Càn (lửa vũ trụ) và số 3 (3 tuổi và 3
gồng cà pháo muối chua) là số Đoài vũ trụ, khí gió. Như thế ông
nuốt lửa, khí gió và uống hết một khúc sông nước vào người tức
là những thứ dùng để tạo ra sấm dông bão. Rõ hơn nữa cà là một
thứ quả hình trứng (egg-plant) mang biểu tượng bầu Trứng Vũ Trụ
và pháo là vật nổ đùng đùng như sấm. Ông ăn cà pháo là nuốt cả
hư vô, khí gió, Trứng Vũ Trụ và nuốt cả lửa vũ trụ, nuốt cả pháo
vũ trụ vào người nên từ cậu bé vươn vai đứng dậy trở thành con
người khổng lồ có sức mạnh vô song như dông tố, như sấm dông. Rõ
ràng ông Dóng có cốt sấm dông tố.
Tại sao lại đặt tên là ông Dóng? Dóng là một khúc cây tròn như
dóng mía, dóng tre. Cây, cọc biểu tượng cho đực, dương nhưng có
hình tròn nên mang âm tính. Dóng, cọc tròn mang nghĩa dương của
âm tức thiếu dương, nguyên thể của khí gió. Dóng cây tròn thường
dùng làm dùi trống để đánh trống như thấy qua từ dóng trống khua
chiêng. Do đó dóng liên hệ với trống mà trống là biểu tượng của
sấm. Thần sấm thường cầm trống trong tay. Cũng vì lý do này mà
ông Dóng mới liên hệ tới trống đồng như thấy qua câu ca dao ở
vùng Hà Bắc “Ông Đổng mà đúc trống đồng” (Ca dao Tục Ngữ Tinh
Hoa Dân Việt). Như thế ông Dóng là ông Dùi Trống, ông Dóng
Trống, ông đánh trống, ruột thịt với ông Thần Sấm.
Về mặt ngôn ngữ ta cũng thấy rõ tại sao ông Dóng là con ông Đổng
cha Thần Sấm Dông Bão. Đổng là biến âm của Động. Động có một
nghĩa là tiếng như thấy rõ qua từ đôi tiếng động nghĩa là ta có
tiếng = động (theo quy luật tiếng đôi của Nguyễn Xuân Quang,
trong Việt ngữ hai từ đi đôi với nhau có nghĩa theo âm dương
tương thuận hay âm dương đối nghịch nghĩa là hoặc có cùng một
nghĩa hoặc có nghĩa đối nghịch với nhau) (Tiếng Việt Huyền
Diệu). Ở đây hai từ đi đôi này có cùng nghĩa. Sấm là tiếng động
nổ ra ở trên trời. Theo g=s (hàng gạo = hàng sáo), sấm = gầm,
ông Sấm còn gọi là ông Gầm. Ta có từ đôi sấm gầm tức sấm = gầm.
Ta cũng thấy từ đôi Hán Việt chấn động tức chấn = động mà Chấn
vi lôi (Chấn là sấm) nên động = sấm. Pháp ngữ tonnerre, sấm,
theo biến âm t=đ (tớp, tợp = đớp), có ton- = động và Anh ngữ
thunder, theo biến âm th = đ (thủng thỉnh = đủng đỉnh), có
thund- = động. Rõ hơn Đức ngữ donner, sấm có don- = động. Như
thế ông Đổng là ông Động, ông Gầm, ông Sấm, ông Chấn, ông
Tonnerre, ông Thunder, ông Donner. Tiện đây cũng nói qua từ dổng
trong câu ca dao ở trên “Bay về bay dổng vua bay”. Dổng là nói.
Dổng là biến âm của động (tiếng). Nói là tạo ra tiếng, phát ra
tiếng động, âm thanh. Theo qui tắc từ đôi tiếng nói ta có nói =
tiếng. Anh ngữ noise là tiếng, tiếng động, âm thanh. Ta thấy
noise có noi- = nói. Rõ ràng Việt ngữ nói là phát ra tiếng,
tiếng động, ruột thịt với noise. Để hỗ trợ cho nói ruột thịt với
noise ta thấy rất rõ Anh ngữ talk, nói chính là Việt ngữ thốt
(thốt lên, thốt ra lời, thưa thốt, thề thốt…). Phù Đổng thiên
vương là ông Sấm Dông Gió nhà trời (Phù là nổi, là thổi như thổi
phù phù liên hệ với gió dông).
Ông Dóng cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt. Ngựa có một khuôn mặt là
phi nhanh như gió nên mang một biểu tượng cho gió tức liên hệ
tới bản thể gió dông của ông Dóng. Con ngựa của ông sau biến
thành núi Phù Mã đứng đầu ở dẫy Tam Đảo. Tên Ngựa Gió Nổi Phù Mã
cho thấy rõ con ngựa của ông Dóng là con ngựa Gió Dông liên hệ
với bản thể của ông. Còn chiếc vọt sắt chính là chiếc búa thiên
lôi, lưỡi tầm sét (thunderbolt) của ông Dóng.
Theo Lĩnh Nam Chích Quái, ông Dóng là con của một cụ già hơn sáu
mươi tuổi ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh. Cụ già là
hình bóng của Lạc Long Quân Vua Mặt Trời Lặn Lạc Dương (trong
khi đó Hùng Vương là Vua Mặt Trời Mọc là những chàng trai Lang,
Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời Chính Ngọ, Giữa Trưa là những
người đứng bóng). Khi giặc Ân sang xâm chiếm nước ta, Hùng Vương
cầu đảo xin Lạc Long Quân cứu giúp: “Trời nổi mưa to gió lớn,
bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày
râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa. Hùng
Vương cho mời vào, cụ già khuyên dạy rồi dứt lời bay lên không
mà đi, mới biết đó là Long Quân”. Ta thấy rất rõ Lạc Long Quân
có cốt là một người già mày râu bạc trắng, có mặt vàng biểu
tượng cho vua (mầu vàng là mầu đỏ âm dòng Nước) và cao hơn chín
thước. Số chín là số Chấn thế gian. Lạc Long Quân có một khuôn
mặt là Sấm Mưa ứng với Chấn (Chấn vi lôi: Chấn là Sấm). Lạc Long
Quân có một khuôn mặt là Sấm Mưa nên Phù Đổng thiên vương có
mạng sấm dông là hóa thân của Lạc Long Quân xuống trần giúp Hùng
Vương dẹp giặc Ân. Cao Huy Đỉnh cũng xác nhận “Thánh Dóng hóa
thân của Long Vương là sức mạnh thực tiễn của con người Việt”.
Ngoài ra những địa danh trong truyện Phù Đổng thiên vương cũng
cho thấy ông Dóng là hiện thân của Lạc Long Quân như huyện Tiên
Du có sự tích Con Trâu Vàng, sau khi đánh tan giặc Ân ở Trâu
Sơn, Vũ Ninh, ông Dóng vượt sông Hồng, đến làng Cáo (Xuân Tảo)
bên hồ Tây... Ta biết trâu, cáo, hồ Tây (phía Tây là phía Mặt
Trời Lặn) là những biểu tượng của Lạc Long Quân (Khai Quật Kho
Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
Ta cũng biết Hùng Vương đẻ bọc có mạng khí gió, bầu vũ trụ, bầu
trời (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc) cùng bản thể khí gió với ông
Dóng nên ông Dóng chính là khuôn mặt siêu nhân của Hùng Vương.
Như vậy ta thấy rõ như ban ngày ông Dóng có mạng sấm dông nên
ngày vía của ông là ngày mồng 9 tháng 4 ta phải là ngày liên hệ
với sấm dông. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Trong nhiều bài
viết, tôi đã chứng minh những ngày giỗ Tết, vía, kỷ niệm trong
văn hóa Việt Nam như ngày lễ Lạc Long Quân, Hùng Vương, Hai Bà
Trưng vân vân... đều chọn ngày tháng theo Dịch lý. Vì vậy ngày
vía ông Dóng bắt buộc cũng phải chọn theo Dịch lý. Theo Dịch,
những giỗ ,Tết, vía, kỷ niệm thường có ngày tháng là một kết hợp
âm (số chẵn) dương (số lẻ) ví dụ ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày
10 (âm) tháng 3 (dương). Ở đây ngày 9 (lẻ), Chấn hôn phối với
tháng 4 (chẵn) Cấn. Ngày là nhật là mặt trời, dương và tháng là
nguyệt là mặt trăng, âm. Như đã nói ngày mồng 9 với số 9 là số
Chấn. Chấn vi lôi là sấm. Số 4 (tháng tư) là số Cấn, non. Theo
dương Dịch, Chấn hôn phối với Cấn. Cấn có một khuôn mặt là núi,
non, vì thế mới có truyền thuyết nói là ông Thần Sấm có nhà ở
đầu non. Ông Dóng có mạng sấm dông nên mới chọn ngày vía là ngày
mồng 9 tháng tư, ngày “sấm ở đầu non” (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa
Dân Việt).
Qua ngày vía ông Dóng mồng 9 tháng 4 âm lịch ta cũng thấy rất rõ
ông Dóng là hóa thân của Lạc Long Quân. Thật vậy ngày 9 là ngày
Chấn, ngày sấm, bổn mạng nước-lửa cõi trời của Lạc Long Quân hôn
phối với tháng 4 Cấn, non, bổn mạng thế gian của Âu Cơ (Mẹ Tổ Âu
Cơ có một khuôn mặt thế gian là non nên đem 50 con lên núi).
Tiện đây cũng nên nói rõ một điểm là dựa vào sự kiện Lạc Long
Quân và Âu Cơ chia tay nhau, Âu Cơ dẫn năm mươi con lên núi và
Lạc Long Quân dẫn năm mươi con xuống biển mà một số học giả Việt
Nam thường “tán hươu tán vượn” cho rằng hai người đã ly thân hay
ly dị nhau vì vậy mà dân Việt có một định mệnh là chia ly, phân
tán, chia rẽ... Sự thật không phải là vậy. Như vừa nói Thần Sấm
(Lạc Long Quân) có nhà ở đầu non (Âu Cơ). Ban ngày mặt trời nóng
nước Biển Lạc Long Quân bốc lên thành hơi nước, chiều tối gặp
lạnh hơi nước đọng lại thành mây, tối đêm mây bay về nhà ở đầu
non. Đêm đêm, mây Lạc Long Quân bay về nhà đầu non Âu Cơ, hai
người lại gặp nhau, “mây mưa”, ân ái với nhau. Tình của Nước
dương Lạc Long Quân với Non âm Âu Cơ là Tình Non Nước, “Nước
nước, non non... Nước đi ra biển lại bay về nguồn” (Tản Đà, Tình
Non Nước). Làm gì có chuyện ly thân, ly dị, phân ly, chia rẽ…
Tóm lại ngày vía Phù Đổng thiên vương mồng 9 tháng 4 âm lịch
liên hệ với bản thể sấm dông của ông Dóng.
Một lần nữa cho thấy muốn hiểu thông suốt văn hóa Việt ta phải
dựa vào Dịch lý để tìm hiểu. Không nhìn dưới lăng kính Dịch học
thì không bao giờ hiểu thấu triệt được văn hóa Việt.
Tài Liệu Tham Khảo
-Cao Huy Đỉnh, Đất Nước Vùng Trung Châu Kể Chuyện Ông Dóng (Hùng
Vương Dựng Nước, NXB KHXH, Hà Nội, 1972, tập I, tr.109-110).
-Nguyễn Xuân Quang:
-Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999).
-Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).
-Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).
-Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Hừng Việt, 2006).
Trở về Trang Chính