Suốt
một đời, tôi miệt mài đi tìm cái căn cước Việt, cái bản sắc Việt
của mình. Từ nhỏ cho tới bây giờ, tôi đã được dậy, đã nghe, đã
thấy và đã đọc những điều cho là văn hóa Việt thật là mơ hồ,
thật là lẫn lộn với văn hóa Trung Hoa. Nếu chúng ta là Việt khác
Trung Hoa thì cái cốt lõi văn hóa Việt phải có sắc thái Việt,
khác văn hóa Trung Hoa. Hãy lấy một ví dụ, tại Little Saigon,
Orange County, California, đang có dự án xây hai cái cổng chào
hình vòm ở hai đầu khu phố Việt trên đường Bolsa, những người
thiết kế hai cái cổng này vẽ hình Long, Li, Qui, Phượng và giải
thích cho người Mỹ hiểu theo ý nghĩa của tứ linh Trung Hoa. Khi
nhìn thấy hình tứ linh này, thì ai ai, nhất là người Tây phương,
cũng đều cho đây là biểu tượng của người Trung Hoa. Ngộ nhận là
chuyện tất nhiên. Tôi đã lên tiếng và yêu cầu ít ra cũng nên
chọn những vật biểu thuần Việt chỉ riêng người Việt có mà người
Trung Hoa không có, nhằm mục đích để tránh được lầm lẫn, ngộ
nhận, tránh tròng vào cổ cái ách đô hộ của văn hóa Trung Hoa,
cũng tránh biến Little Saigon trở thành Little Chợ Lớn (chẳng
hạn như thay thế Long, Ly, Qui, Phượng bằng Cò Lang, Chim Việt).
Hãy nhìn về diện vật tổ như vừa nói chẳng hạn, thì vật biểu,
totem Việt phải thuần Việt. Hôm nay xin nói tới con chim tổ tối
cao tối thượng của Đại Tộc Việt là con chim Việt. Chúng ta
thường nghe nói tới con Chim Việt đậu cành Nam và
nghe bài hát Đàn Chim Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng con
chim Việt trong sử sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng
Việt), trong sử miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt)
và trong sử đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam
Á) (đang in). Tôi biết khó có thể thuyết phục ngay được
những người làm văn hóa Việt hiện nay, nhất là những kẻ đang làm
xiếc văn hóa Việt, những tên phù thủy văn hóa Việt. Theo linh
tính tôi biết con chim Việt phải còn để lại hình bóng, dấu tích
ở đâu đó trong văn hóa Việt Nam ngày nay, nhất là ở những nơi
thờ tự, miếu đình nào đó. Vì thế nhằm mục đích thuyết phục thêm
nữa các người làm văn hóa Việt và phục vị lại được con chim
Việt, chim tổ của Đại Tộc Việt, tôi quyết tâm, quyết chí đi tìm
một hình bóng chim tổ Việt thật hết sức đặc thù, thật hết
sức dễ nhận diện, còn ở đâu đó, ngay trước mắt mọi người, ai
nhìn thấy cũng nhận biết ra ngay là chim Việt. Nhưng tìm kiếm
bóng chim Việt trong đời sống hàng ngày hiện nay thật là khó
khăn vì tôi sống ở đất Bắc, ở đất tổ, nơi chắc chắn còn nhiều
dấu tích hình bóng chim Việt, lúc đó còn quá nhỏ, vào Nam lúc
còn học tiểu học và rồi ra hải ngoại. Dĩ nhiên trong Nam và nhất
là ở hải ngoại càng khó có cơ may tìm kiếm được. May mắn thay!
Eureka! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi
đã tìm thấy con chim Việt rất đặc thù đang đậu ở Văn Miếu, Hà
Nội.
Chim Việt là chim gì?
Trước hết nên biết Việt là gì?
Tôi đã viết rất cặn kẽ Việt
Là Gì? trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và trong Y Học
Thường Thức, ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm chính yếu. Việt có
nghĩa gốc, nghĩa chính là búa, rìu, có
nghĩa chung là vật sắc nhọn. Việt là búa, vật nhọn cũng
thấy qua tên vua Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu. Câu
là chiếc móc cong như lưỡi câu, chiếc liềm (câu liêm), Tiễn
là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện, Tiễn
là vật nhọn như mũi tên (hỏa tiễn dịch là “tên lửa”). Câu Tiễn
là vật, khí giới sắt bén hình nhọn và cong, một thứ việt lưỡi
cong. Việt lưỡi cong Câu Tiễn mang hình ảnh của chữ yuè
(Việt) khắc trên giáp cốt và kim văn:

Từ Việt là một từ Hán
Việt. Tên của tộc họ chúng ta không thể là một từ Hán Việt. Hiển
nhiên từ Việt chỉ là một từ phiên âm dịch nghĩa của một từ nôm
trăm phần trăm nào đó. Từ Việt phiên âm dịch nghĩa từ một từ Nôm
nào? Việt phiên âm hay biến âm với các từ nôm:
-Vớt là “large
knife” (used as weapon): dao lớn dùng làm khí giới
(Đặng Chấn Liêu). Cũng nên biết các tộc thù nghịch và những
người Việt có “Tây học” trước đây thường xỉ nhục những người gốc
Việt quê mùa là bọn “răng đen mã tấu”. Mã tấu là một thứ
vớt, thứ việt, chính là khí giới biểu của người Việt và răng đen
là nét đặc thù của người Việt thuộc tộc Mặt Trời Nước Lạc Việt
Lạc Long Quân (màu đen là màu của nước thái âm).
-Việt biến âm với Mường
ngữ vác là con dao lớn như chiếc mác, mã tấu. Theo
v=m (váng = màng), ta có vác = mác.
-Vọt (theo qui
luật biến âm ie=o như hiệp = hợp, ta có Việt = vọt). Nghĩa đen
vọt là chiếc roi, chiếc que, chiếc nọc.
-Việt còn biến âm với
vạch (khắc, chạm, viết bằng mũi nhọn), với Hán Việt viết
cùng nghĩa với vạch, với diết, diệt, giết
(làm cho chết bằng vật nhọn sắc như đâm, chém con thú bằng mũi
dao, mác, lao, giáo, mũi tên, rìu búa...).
Tóm lại Việt phiên âm
hay biến âm với từ vớt, vác (mác), vọt, vạch, viết có nghĩa
chính là vật nhọn sắc, nọc nhọn ứng với nghĩa Hán Việt búa, rìu.
Dưới diện ý nghĩa biểu tượng, vật nhọn dùng làm biểu tượng cho
bộ phận sinh dục (nõ, nọc), đực (nọc), dương, thái dương, mặt
trời (dương là đực và cũng có một nghĩa là mặt trời). Vậy Việt
mang một ý nghĩa biểu tượng cho mặt trời, mang nghĩa mặt trời
nọc, lửa, thái dương có nọc tia sáng tỏa rạng ra như mũi tên,
mũi mác (>) như nọc nhọn. Việt hiểu theo nghĩa biểu tượng là MẶT
TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo
Hán Việt thì là VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. Chúng ta thuộc họ Việt
mặt trời rạng ngời, Việt mặt trời thái dương dòng thần Mặt Trời
Viêm Đế, Viêm Việt.
Hiểu rõ Việt như thế
rồi, nhìn tổng quát tất cả các tên, hiệu, biểu tượng, vật tổ,
vật biểu, chim biểu, thú biểu về ngành Nọc, dương của Đại
tộc Việt đều có nghĩa nói chung là vật nhọn (nọc, cọc,
que, vọt, búa rìu, dao, giáo, mác…), đực, dương,
mặt trời thái dương tức là VIỆT ví dụ như trăm lang (lang biến
âm với chàng là con trai, chàng cũng là chiếc đục
‘chisel’), Hùng (có một nghĩa là đực như thư hùng), chim
biểu của Lang Hùng, Hùng Vương là chim Lang, chim Hùng, chim
Việt là chim Nọc, chim Rìu; thú biểu bốn chân sống trên mặt đất
là con thú Việt, là Hươu Việt nôm na gọi là con Cọc (Việt Dịch
Bầu Cua Cá Cọc)...
Chim Rìu, Chim Việt
Như trên đã nói, con
chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt phải là con chim
Việt, chim Rìu. Tôi đã tìm thấy con chim Việt này và đã viết
trong ba bộ sử sách, sử miệng, sử đồng, nếu cần các chi tiết xin
tham khảo ở đó, ở đây chỉ xin nhắc lại một vài điểm chính yếu để
độc giả dễ theo dõi và dễ hiểu bài viết này mà thôi.
Hình bóng chim Việt qua:
Sử sách
Như đã thấy, qua ngôn
ngữ, chim Việt là chim Rìu. Đây chính là chim mỏ Cắt còn có tên
là chim mỏ rìu như thấy qua bài vè các loài chim:
Cũng còn có chú mỏ rìu,
Rõ là tay thợ, khẳng khiu chán chường.
Chim cắt là chim rìu,
chim Việt của đại tộc Việt ở Cõi Trên Tạo Hóa. Cắt liên hệ với
Anh ngữ cut (cắt), Phạn ngữ khad, to divide, to
break, ta có k(h)ad = khắc = cắt (t=d), Tiền cổ-Ấn Âu ngữ *kès-
'cut' và gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic *k'aca. Theo
chuyển hóa c=h (cùi = hủi), ta có cắt, cát, các
= hac, hache (Pháp ngữ), hacha (Tây Ban
Nha ngữ), hack (Anh ngữ) có nghĩa là rìu, búa chim...
Chim cắt là chim rìu, chim Việt...
Chim Cắt là chim Rìu,
chim Việt thấy rõ qua truyện thần thoại Con Chim Torok hay
Burong Tebang Rumah Bapok Mentua (Con Chim Bổ Sập Nhà Bố Vợ)
của thổ dân Kelantan, Borneo. Chim Torok là chim bổ cắt.
Mã ngữ torok là thọc, thục, đục, đực... Con chim bổ sập
nhà bố vợ hiển nhiên phải có mỏ là mỏ đục (chisel), mỏ rìu, mỏ
cắt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Chim cắt Anh ngữ là
hornbill, tên khoa học là Rhinoplax vigil, (Forst.,
Bucerotidae) có horn là sừng (vật nhọn) và bill là
bổ là mỏ. Chim mỏ cắt có tên Hán Việt là chim hồng hoàng.
Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng hay Hồng Lạc,
chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Nhìn dưới diện vật tổ chim thì
Lạc Hồng là chim Hồng, chim Lạc. Chim Hồng là chim Đỏ, chim Lửa,
chim Lạc là chim Nác, chim Nước. Chim Lạc chim Nước có thể là
loài ngỗng trời (con ngỗng chân có màng là một loài chim nước)
không phải là loài cò, một loài chim Gió (xem Chim Lạc hay Cò
Lang?). Chim Hồng, theo duy dương, là chim hồng hoàng bổ cắt
(xem dưới). Như thế chim cắt là chim Rìu, chim Việt, Chim Lửa,
chim mặt trời, chim Nọc, hồng hoàng.
Sử miệng Ca Dao Tục Ngữ
Hình bóng chim rìu, chim
cắt còn thấy nhiều trong ca dao như qua bài đồng dao Bổ nông
là ông bồ cắt nói về sáu con chim tổ của Đại Tộc Việt ứng
với Việt Dịch Chim Nông Cắt ở Cõi Trên, Tạo Hóa.
Bổ nông là ông bồ cắt,
Bồ cắt là bác chim di,
Chim di là dì sáo sậu
Sáo sậu là
cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ nông.
......
Sử đồng
Hình bóng chim Rìu, Chim
Việt bổ cắt cũng thấy rất nhiều trên trống đồng âm dương Đông
Sơn. Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy
rõ hình ba con mỏ cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng. Đây là loài Great
hornbill, loài mỏ cắt lớn nhất.

Những hình thuyền trên
trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ đầu thuyền có hình
Rắn-Nước miệng há rộng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ với
hình chim mỏ rìu, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam đâm vào
miệng Rắn Nước. Đây là dạng lưỡng hợp sinh tạo thái âm thái
dương ở cõi Đại Vũ Trụ. Đuôi thuyền hình chim nông và ngay sau
đuôi thuyền có một hay hai cây nọc hình đầu chim cắt, ở dạng
lưỡng hợp bổ nông (thiếu âm) với bồ cắt (thiếu dương) ở cõi trời
Tiểu Vũ Trụ. Trên nhiều trống đồng khác như trên trống đồng sông
Đà, một đuôi thuyền khắc đầu chim hình chiếc rìu (Giải Đọc Trống
Đồng Âm Dương Đông Nam Á).
......
Vật Biểu Chim Mỏ Cắt Của
Các Chi Tộc Khác Của “Đàn Chim Việt”.
Mường
Mường Việt cổ có vật tổ
chim là chim tráng, chim cháng. Giữa Việt và Mường
có qui luật biến âm dấu sắc Mường = dấu huyền Việt như mấn = mần
(làm) nên ta có tráng (trai tráng) = Việt ngữ chàng
(chàng trai) và cháng = Việt ngữ chàng (đục, chisel). Chim cháng
là chim chàng, chim đục, chim rìu, chim mỏ cắt. Theo truyền
thuyết Mường hai con chim Kláng, Klao (tương ứng
với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm
trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức
người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường... Từ Kláng chuyển
sang Việt ngữ là Tráng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (xem chương
Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử
Hừng Việt).
-Chim Khướng
Chim mỏ cắt cũng còn gọi
là chim khướng như thấy trong truyện thơ Mường:
Khách phương nào tới
Mà sao tốt tướng oai
nghi
Như con chim khướng
mấy thuở mấy thì
Bay qua lèn đá dựng,
Đã đứng nên đứng,
Đã ngồi nên ngồi...
(Truyện Út Lót - Hồ
Liêu, Hoàng Anh Nhân, t.2, tr.99).
Tác giả trên giải thích
“Chim Khướng: loại chim lớn, mỏ to và trên mỏ có mũ sừng
cứng, thường gọi là chim Phượng hoàng đất”. Tác giả đã không
nhận diện ra được “chim Phượng hoàng đất ”mỏ to và trên mỏ có
mũ sừng" chính là chim cắt. Rõ ràng chim khướng là chim cắt
lớn great hornbill. Theo qui luật biến âm dấu sắc Mường = dấu
huyền Việt ta có khướng = khường và kh Mường = s Việt như khang
= sang, không = sông, nên khướng = khường =
sường = sừng. Con chim khướng là con chim sừng
(đầu có mũ sừng), tức chim hornbill và ta cũng thấy khướng biến
âm với Hán Việt khương (có nghĩa là sừng). Chim khướng là
chim sừng, chim khương. Viêm Đế có họ là Khương (sừng) như thế
chim Sừng Khướng mỏ cắt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế
họ Khương, của Viêm Việt. Chim cắt cũng được thờ phượng đúc
thành tượng vàng thấy trong truyện Út Lót. Nàng Út Lót nói với
hai chị rằng: “Đồ vàng đúc hình con chim cắt...”.
Ê-Đê
Người Ê-đê có chim
mling, mlang thấy qua bài hát
Anh đến từ nơi
xa,
Anh mang theo chim mơ-linh từ
nhà,
Chim mơ-lang từ buôn.
Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ
vương...
(Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Cao Dao,
Dân Ca, Việt Nam).
Chim mling, mlang này chính là chim cắt. Điểm
này ăn khớp trăm phần trăm với Mã Lai ngữ langling: the
Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở
miền Nam). Ta cũng thấy rất rõ Mã ngữ lang: a generic
name for hauks, kites and eagles (một tên chủng loại chỉ diều
hâu và ó, ưng). Như thế chim lang, chim linh chỉ chung loài
mãnh cầm, loài chim mang hùng tính biểu tượng cho đực, dương,
phái nam, mặt trời. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với hai từ
lang và linh trong Việt ngữ. Việt ngữ lang
là chàng, con trai. Linh ruột thịt với Ấn ngữ
linga (bộ phận sinh dục nam). Linh biến âm với lính
(ngày xưa chỉ đàn ông con trai mới phải đil ính), với đinh
theo kiểu linh đinh. Đinh là con trai, thanh niên như
tráng đinh, lễ thành đinh. Rõ ràng chim mlang, mling
là chim langling, chim cắt, chim rìu, loài chim mang biểu tượng
cho đực, dương, hùng tính, mặt trời tức chim Việt. Theo giáo sư
Trần Quốc Vượng, địa danh Mê Linh mang tên loài chim Việt này.
Ông dựa vào các nghiên cứu tổng hợp các tài liệu lịch sử, ngôn
ngữ và truyền thuyết dân gian, Mê (Ma, Minh, Mi) Linh là
Mling. Mling, mlang (cặp tên có tính chất lấp láy) theo tiếng
của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim... Mọi tài
liệu đều nói lên một cách thống nhất huyện đó, bộ lạc đó, khi
xưa mang tên một loài chim Mling với một thị tộc (bào tộc) gốc
thờ chim làm vật tổ. Đó là bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước
(Hùng Vương Dựng Nước, tập I, tr.154). Đối chiếu với truyền
thuyết và cổ sử Việt, hai Bà Trưng là con cháu, dòng dõi vua
Hùng Vương. Hùng Vương đóng đô ở Phong châu. Lê Ngô Các, Phạm
Đình Toái, đã ghi lại rành rành trong Đại Nam quốc sử diễn
ca:
Bà Trưng quê ở
châu Phong,
Giận người tham bạo
thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời
nguyền,
Phất cờ nương tử,
thay quyền tướng quân...
Hai Bà khi lên ngôi đóng đô ở đất Mê Linh (Ý
Nhĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng Mồng 6 Tháng 2 Âm Lịch, khoahoc.net).
Mê-Linh, Mlang, Mling, Langling là chim lang, chim biểu tượng
cho Lang Hùng, là chim chàng (chisel), chim đục, chim rìu, chim
Việt, chim đực, chim biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là
con chim đực). Hùng Vương thế gian có một khuôn mặt chim biểu là
chim cắt (có thể là loài chim cắt đất), chim Việt đội lốt chim
cắt chim sừng, chim Khướng, chim Khương Great Hornbill, chim
biểu của thần mặt trời Viêm Đế dòng Viêm Việt.
Người Ao (Âu) Naga ở Assam, miền cực tây Vân
Nam
Người Ao-Naga tức
Âu-Rồng Nác, Âu-Long ruột thịt với Âu Cơ-Long Quân, với Âu-Lạc.
Chứng tích thờ chim cắt thấy đi kèm với rắn nước, rồng đất cắc
kè, kì nhông, kỳ đà, thằn lằn còn thấy nhiều ở người Ao Naga.
Trong nghệ thuật khắc gỗ của họ còn thấy chiếc rìu đầu chim mỏ
cắt.

Đồ
khắc gỗ của người Ao Naga có chiếc rìu đầu chim mỏ cắt
(Mills, The Ao Naga).
Sắc dân này có tộc
Ozukumtzur (bird-became-woman) tự nhận là con cháu của chim Mỏ
Cắt có hèm (taboo) là không ăn thịt chim mỏ cắt (William Carson
Smith, p.111).
Người Katu
Người Katu có căn nhà
thiêng liêng trên nóc có con chim đực.

Nhà của người Katu
trên nóc có con chim đực (theo Maurice).
Chú ý hình chim này đầu
có nọc nhọn hay sừng nhọn biểu tượng cho dương, lửa. Đuôi chim
cũng vểnh lên thành hình nọc. Đầu nọc (I), đuôi nọc (I) nghĩa là
chim thái dương (II). Lưng chim là đường sống nóc nhà có hình
chuỗi chữ viết nòng nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) biểu
tượng cho đực, nọc, dương, thái dương, mặt trời, theo thái dương
(Càn) là sóng lửa vũ trụ, ánh sáng, theo thiếu dương (Li) là
rặng núi tháp, lửa thế gian. Con chim mang hình ảnh con chim
cắt.
Người Co
Người Co ở Trà Bồng, Trà
Mi (miền Trung Việt Nam) có con chim biểu có mỏ rất lớn mang
hình bóng chim rìu, chim cắt.
Người Ngaju, Dayak Nam Borneo.
Giáo sư Kim Định cho họ
là Bộc Việt. Hai vật tổ tối cao tối thượng cuả người Ngaju thuộc
tộc Dayak, ở miền Nam Borneo là Rắn Nước (Watersnake) và Mỏ Cắt
(Hornbill). Chim Cắt gọi là Tingang, trong ngôn ngữ của
thầy tế pháp sư gọi là bungai. Vật tổ này thường thấy vẽ,
khắc trên hình thuyền Chim Cắt, Thuyền Rắn Nước, những con
thuyền mà các thần tổ dùng đi từ thượng giới xuống trần gian.
Người Hắc Đảo ở Đại Dương châu.
Các Thổ dân Hắc Đảo cũng
coi chim cắt là biểu tượng cho đực, dương, lửa, mặt trời. Mỏ bồ
cắt là biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam như thấy qua hình
chim mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik, Papua, New
Guinea.

Chim
mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik, Papua, New Guinea
(Richard Cavendish, p. 282).
Mỏ chim biểu tượng dương
vật trong khi mặt trăng ở thân người chim biểu tượng âm hộ. Hình
diễn tả nõ nường, nòng nọc, âm dương sinh tạo, giao hợp âm
dương. Ở đây ta cũng thấy rõ chim cắt có một khuôn mặt là mặt
trời giao hòa với mặt trăng ở thân người chim.
Tóm lại vật tổ chim Mặt
Trời thuần dương của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương là con chim
Cắt, chim Rìu, chim Việt, chim Hồng hoàng. Chim Cắt là chim Nọc
(Đực), Chim Việt biểu tượng của họ Nọc Mặt trời Viêm Đế, Viêm
Việt.
Những nét đặc thù của chim cắt, chim rìu, chim Việt.
Sau đây là vài đặc tính
của chim cắt:
1. Mỏ lớn và dài
(prominent bill). Mỏ là yếu tố chủ yếu, nổi bật, đập vào mắt.
2. Có giống cắt có sừng
ngà hay “mũ bảo vệ đầu” (bony casque or helmet) nhô ra sau trông
như bờm. Chim cắt ngoại trừ hai giống sống dưới đất còn tất cả
làm tổ trên chóp ngọn cây cao. Sống trong những rừng cây Đông
Nam Á, Ấn Độ, Phi châu, Nam Arabia. Dĩ nhiên Việt Nam cũng có
chim này. Trên bìa báo Khoa Học của khoa học gia Nguyễn Công
Tiễu số 65 ngày 1er Mars 1934 cũng có vẽ hình con chim “có
phong tục lạ” (khi con cái ấp trứng, con đực lấy bùn
đắp kín tổ lại, nhốt con cái bên trong, chỉ chừa một lỗ nhỏ để
đưa mồi vào nuôi con cái ấp trứng) tên Tây là dichocère
và “ta gọi là chim hồng hoàng”. Tại tòa báo Khoa Học ở
Ngọc Hà có nuôi một con để độc giả đến xem. Mỏ Cắt Lớn có mỏ lớn
dài gần hai tấc rưỡi (25cm) rất đặc biệt. Mũ (casque) con trống
có rãnh sâu. Mũ con cái bằng phẳng. Con chim “hồng hoàng” trưng
bầy ở tòa báo Khoa Học chính là con Bồ Cắt Lớn, qua lời tả “chim
nuôi ở tòa báo dang hai cánh đo được 1 thước 74, từ mỏ đến hết
lông đuôi dài 1 thước 25... Mỏ màu vàng trên be ra nom như múi
khế...”.
3. Nhưng điểm đặc thù
nhất của chim mỏ cắt là cách ăn.
Vì mỏ quá to nên khi ăn
phải gắp, nhặt lấy quả hay hạt rồi tung cao lên trời và há to mỏ
hứng cho hạt rơi vào phần sau của mỏ gần cổ họng thì mới nuốt
được thức ăn. Đây là một nét đặc thù thấy trong các biểu tượng
chim cắt thái cổ. Con chim mỏ to như mỏ rìu có mũ sừng, ngậm
hạt trong mỏ trăm phần trăm là chim cắt.

Một vài hình bóng chim
mỏ cắt với nét đặc thù là ngậm hạt, quả thức ăn trong mỏ còn
thấy trong văn hóa Ngaju, Dayak, Borneo. Họ có quan tài dành cho
phái nữ thường đầu có hình chim Bổ Cắt để có dạng âm dương
hôn phối và quan tài dành cho phái nam có hình Rắn Nước để có
dạng dương âm hôn phối, mong hồn người chết được tái sinh
hay về miền hằng cửu. Chim bổ cắt đầu quan tài có nét đặc thù
chuyên biệt là mỏ đang ngậm một quả hay một hạt thức ăn.

Quan tài hình chim bổ
cắt dành cho phái nữ và quan tài rắn-nước dành cho phái nam của
người Ngaju, Dayak, Borneo (Hans Scharer).
Lưu ý đầu chim bổ cắt đang ngậm một quả hay hạt thức ăn.
Họ cũng có thuyền vong
hình Rắn Nước cho phái nam và thuyền vong hình Chim Cắt cho phái
nữ. Chim bổ cắt đầu thuyền có nét đặc thù chuyên biệt là mỏ đang
mổ một quả hay hạt thức ăn.

huyền
linh hồn bổ cắt hay thuyền châu báu dành cho phái nữ của người
Ngaju (Hans Scharer, Plate XIX,
illustration 22). Lưu ý đầu thuyền đầu chim bổ cắt đang mổ
một quả hay hạt thức ăn.
Con Chim Cắt Việt Đậu Ở Văn Miếu, Hà Nội
Tôi đã tìm thấy con chim
tổ bổ cắt ngậm quả hay hạt thức ăn này ở Văn Miếu, Hà Nội.
Con chim mỏ to như mỏ rìu, có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ này
trăm phần trăm là chim cắt, chim rìu, CHIM VIỆT.

Con
chim Việt ngậm quả, hột thức ăn trong mỏ tại Văn Miếu, Hà Nội.
Con chim cắt Việt này đã
linh vật hóa, thần thoại hóa thành linh điểu Việt nên ngày nay
không ai nhận ra. Hiển nhiên như đã thấy với điểm đặc thù ngậm
quả, hạt trong mỏ đây không phải là con chim phượng của Trung
Hoa. Chim phượng biểu tượng cho Lửa, là con chim Lửa có cốt là
con chim trĩ, có đuôi rất dài như những dải lụa vì thế còn có
tên là chim giải cùi. Con chim ở đây đuôi ngắn. Đây là con chim
Việt cũng là chim biểu cho Lửa nhưng có cốt là con chim rìu,
chim cắt. Hai con mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Chim phượng
có cốt là chim trĩ, thuộc họ nhà gà, sống nhiều trên mặt đất nên
biểu tượng cho Lửa đất, lửa cõi thế gian có một khuôn mặt chính
ứng với Li, trong khi chim Việt, chim rìu, chim cắt có loài
sống trên cao, làm tổ trên ngọn cây cao như thấy qua bài đồng
dao:
Bổ cu, bổ cắt,
Tha rác lên cây,
Gió đánh lung lay,
Là ông Cao Tổ...
Bài hát này ở thể chơi
chữ. Cao tổ là tổ rất cao mà cũng có nghĩa là ông tổ tối cao hay
vua Cao Tổ nhà Hán... Chim Cắt sống, làm tổ trên ngọn cây cao
biểu tượng cho Lửa trời, lửa vũ trụ ứng với Càn. Lửa vũ trụ sinh
ra lửa thế gian. Chim Cắt Việt cõi Tạo Hóa là chim tổ tối cao
của Đại tộc Việt. Chim Cắt Việt, chim (mũ) Sừng, chim Khướng,
Hornbill là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương
(Sừng), là chim biểu của Viêm Việt. Chim Cắt Việt tạo hóa là ông
tổ của chim phượng thế gian của Trung Hoa. Văn hóa chim phượng
của Trung Hoa là văn hóa thế gian, là di duệ, con cháu của văn
hóa chim Cắt Việt vũ trụ. Sau này có lẽ bị ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa các nhà nho cũng hay nói tới con trĩ Việt tức trĩ lửa
thế gian. Cắt Việt vũ trụ là chim tổ của trĩ Việt thế gian, là
chim tổ của trĩ phượng Trung Hoa.
Chim Việt biểu tượng cho Nọc, đực, dương,
lửa, mặt trời nọc rạng ngời, bộ phận sinh dục nam, đối ứng với
chim Nông, chim Nước, chim Nòng, hai chim biểu Nọc Nòng tối cao
của Đại Tộc Việt. Chim nông, chim cắt là chim nòng nọc, âm
dương, chim biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, của Dịch nòng
nọc. Vì thế con chim Việt đứng ở Văn Miếu phải mang nghĩa vũ trụ
tạo sinh ngành nọc, lửa dương. Thật vậy, trên đầu có hình nọc
hơi cong như lưỡi lửa cho biết con chim này là con chim nọc Lửa
vũ trụ, chim Việt vũ trụ. Phần mũ trên đầu phía trước gồm có ba
nọc nhọn tức ba hào dương, quẻ Càn (III), lửa vũ trụ. Phần mũ
sau gáy biến thành mào hình móc cong biểu tượng cho khí, gió lửa
(khí gió ngành lửa, dương) Đoài. Phần bờm sau cổ hình sóng lưỡi
lửa biểu tượng cho nước lửa (nước ngành lửa, dương) ứng với Chấn
và chuỗi hình mũi mác răng cưa, cứ ở giữa hai sóng nước lửa lại
có hai nọc mũi mác ghép lại thành hình chữ M. Phân tách M ra ta
có /\ V /\, tức hai chữ viết nòng nọc mũi mác chỉ thiên /\ hình
núi tháp nhọn là hai hào dương (I...I) kẹp ở giữa một chữ viết
nòng nọc V, là một hào âm (O) tức /\V/\ = IOI, quẻ Li, lửa
thế gian, núi dương, lửa, đất lửa ngành nọc dương. Mặt khác, nếu
ta chồng hai nọc mũi mác này lên nhau, ta có hình tháp vách
kép /\ biểu tượng cho núi tháp nhọn giống như hình núi tháp
vách kép cũng biểu tượng cho lửa thế gian, đất dương Li thấy ở
hoa văn Tứ Tượng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mà
hiện nay các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi nhầm là “họa tiết
lông công” (xem The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống
Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế đầu chim biểu tượng cho Nọc,
dương, cho ngành nọc, Việt và Tứ Tượng ngành nọc, lửa, dương...
Con chim cắt Việt cho thấy cốt lõi văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo
Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Dịch nòng nọc.
Hạnh phúc thay! Tôi đã
tìm thấy con chim Việt, chim biểu của Đại Tộc Việt ở Văn Miếu,
Hà Nội, nơi biểu trưng cho trí tuệ Việt, đầu óc Việt, tinh hoa
Việt, tinh anh Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng tổ Việt, tìm thấy
một mấu chốt của căn cước Việt của mình trong đời sống tâm linh
hàng ngày hiện nay. Mong các nhà làm văn hóa Việt nhận ra điểm
này và giúp cho con chim Việt vỗ cánh bay bổng trở lại trên bầu
trời non nước Việt Nam. Giới khoa bảng ưu việt đã bảo tồn, lưu
truyền lại hình bóng chim tổ Việt tại Văn Miếu. Để tránh lầm lẫn
với văn hóa Trung Hoa, xin hãy thay thế con chim phượng Trung
Hoa bằng con chim Việt có cốt là con chim cắt, chim rìu đang
ngậm quả, hạt này.
Tài Liệu Tham Khảo
.Đặng Chấn Liêu, Từ
điển Việt Anh, nxb KHXH, 1993.
.Hans Scharer, bản dịch
Anh ngữ của Rodney Needham, Ngaju Religion.
.Hoàng Anh Nhân, Tuyển
tập truyện thơ Mường, t.2.
.Nguyễn Văn Huyền, Hoàng
Vinh, Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện ở Việt Nam, Viện
Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam xuất bản 1975.
.Kim Định, Việt Lý Tố
Nguyên; Hùng Việt Sử Ca, Thằng Mõ xuất bản 1984.
.Mills, The Ao Naga.
.Nguyễn Công Tiễu, báo
Khoa Học, số 65 ngày 1er Mars 1934 tr.26.
.Nguyễn Xuân Quang:
-Khai Quật Kho Tàng Cổ
Sử Hừng Việt (Y Học
Thường
Thức,
1999).
-Ca Dao Tục Ngữ, Tinh
Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).
-Tiếng Việt Huyền Diệu
(Hừng Việt, 2004).
-The Da Vinci Code và
Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, khoahoc.net 18
tháng 11 năm 2007.
-Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng Mồng 6 Tháng 2
Âm Lịch, khoahoc. net 15 tháng 03 năm 2007.
-Việt Dịch Bầu Cua Cá
Cọc (Y Học Thường Thức, 2006).
-Việt Là Gì? Y Học
Thường Thức số 33 bộ IV, tháng 5-6, 1999.
-Giải Đọc Trống Đồng Âm
Dương Đông Nam Á (đang in).
.Lê Ngô Các, Phạm Đình
Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca.
.Richard Cavendish, An
Illustrated Encyclopedia of Mythology.
.Trương Sỹ Hùng Bùi
Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội
1995, tập I, II.
.Wang Hongyuan, The
Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004.
.William Carson Smith,
The Ao Naga Tribes of Assam.
. R.J. Wilkinson,
Malay-English Dictionary.
Trở về Trang Chính