Tôi khám phá ra câu
nói cuối cùng của Chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá là
tiếng Việt! Chuyện khó tin nhưng không phải là không có thật.
Trong Sách Tân Ước (The Books of the New Testament) có ghi lại
câu nói cuối cùng của chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá
như sau: “Eli, Eli, lama sabac tha ni”. Không một
ai hiểu Chúa nói gì. Không một ai biết Chúa có ẩn ý gì. Vì câu
nói này không phải là tiếng Do Thái hay bất cứ một thứ tiếng
Tiểu Á nào đang nói vào thời Chúa Jesus sống. Chúa đã dùng một
thứ ngoại ngữ. Tại sao Chúa đã nói bằng tiếng ngoại ngữ? Bởi vì
Chúa không muốn những kẻ đóng đinh Chúa hiểu những gì Chúa nói.
Cũng chính bởi Chúa nói bằng tiếng ngoại ngữ nên các kẻ đóng
đinh Chúa vì không hiểu câu nói cuối cùng của Chúa, họ đã rất tò
mò nên đã ghi lại lời Chúa nói và vì thế câu nói cuối cùng này
của Chúa sau này đã được ghi lại trong Tân Ước. Gần hai ngàn năm
không một ai hiểu lời nói cuối cùng của Chúa. Cho mãi tới khoảng
thập niên ba mươi, James Churchward, một nhà khảo cổ rất nổi
tiếng mới hiểu được ý nghĩa của câu nói cuối cùng của Chúa.
Trong cuốn The Symbols of Mu, ông cho đây là tiếng nói của vùng
Đông Á châu mà ông gọi là Naga-Maya, một tiếng nói thuần túy của
vùng Đất Mẹ “Mother Mu”. Theo ông, tiếng Naga-Maya-Đông Á châu
là một ngôn ngữ cổ nhất của loài người. Cũng theo ông câu nói
này đã được phát âm và đánh vần sai trong Tân Ước. Thật ra phải
đánh vần, đọc và phát âm như sau: “ Hele, hele, lamat
zabac ta ni”. Ông dịch qua Anh ngữ: “Hele- I faint
(Ta xỉu)- Hele-I faint (Ta ngất); lamat zabac ta ni -
darkness is coming over my face” (bóng tối đang phủ xuống
mặt ta) (It is the pure tongue of the Motherland, badly
pronounced and spelt in New Testament. It should have been
spelt, read and pronounced: “Hele, hele, lamat zabac ta ni”
Translation: Hele-I faint. Hele-I faint; lamat zabac ta ni-:
darkness is coming over my face”, p. 54).
James Churchward gọi
vùng đất Mu là Motherland, một vùng đất ở biển Đông ngày xa xưa
còn có các cầu đất nối liền với Đông Nam Á, thuộc địa bàn của
văn hóa Hòa Bình trong đó có cổ Việt.

Ngày nay vùng đất Mẹ
“Mu” này đã chìm xuống biển. Cũng theo James Churchward, vùng
đất Mẹ Mu này có một nền văn minh rất huy hoàng và là nguồn gốc
của văn minh loài người. Cũng nên biết là gần đây (1998) một bác
sĩ Nhi Khoa tên là Stephen Oppenheimer, trong quyển Địa Đàng ở
Phương Đông hay Lục Địa đã Chìm Đắm ở Đông Nam Á (The Eden in
the East, The Drowned Continent in Southeast Asia) cũng chứng
minh rằng ở vùng biển Đông Nam Á trước đây có một lục địa gọi là
Sundaland về sau bị nước biển dâng lên nhận chìm xuống. Stephen
Oppenheimer cũng cho rằng Sundaland có một nền văn minh rất huy
hoàng. Đất Mẹ Mu của James Churchward chính là Sundaland của
Stephen Oppenheimer.
James Churward cũng
cho biết ông không phải là người duy nhất đã tìm cách dịch câu
nói cuối cùng của chúa Jesus khi bị đóng đinh trên thánh giá mà
Don Antonio Batres Jaurequi, một học giả uyên bác về Maya của
Guatemala, trong quyển “History of Central America”, đã viết
“Những từ cuối cùng của Chúa Jesus trên Thánh giá là tiếng Maya,
một thứ ngôn ngữ cổ nhất hiện biết đến. Lời chúa nói phải đọc
như sau: “Hele, Hele, lamah sabac ta ni”. Dịch sang Anh ngữ
”Bây giờ Ta đang ngất xỉu; bóng tối bao phủ mặt ta”
(“The last words of Jesus on the Cross were in Maya, the
oldest known language”. He says they should read “Hele, Hele,
lamah sabac ta ni”. Put in English: “Now I am fainting; the
darkness covers my face”). James Churward cho rằng ông phát
âm lamat và zabac còn Jaurequi phát âm lamah
và sabac là do ông dựa theo ngôn ngữ Naga-Maya ở Đông Á
châu, còn Jaurequi dựa vào ngôn ngữ Maya hiện nay ở Trung Mỹ.
Hai dòng ngôn ngữ lấy từ hai vùng cách xa nghìn trùng của quả
đất nhưng đồng thuận với nhau về mọi điểm trọng yếu (Jaurequi
spells the word “lamah”. I spell it “lamat”. He spells the word
“sabac”. I spell it “zabac”. This difference is brought about by
the translation coming from two different lines of colonization.
Mine comes from the Naga-Maya of Eastern Asia; Jaurequi’s comes
from the Modern Maya of the Central America. The two, taken from
vastly distant parts of the earth, agree in all material points’,
p. 54-55). Nói một cách khác chúng là hai ngôn ngữ chị em của
cùng một ngôn ngữ Motherland, của cùng một ngôn ngữ nhưng nói
theo hai phương âm khác nhau như ngôn ngữ Việt Nam nói ở miền
Bắc và ở miền Trung-Nam .
Bây giờ, tôi là
người thứ ba xin chuyển câu nói cuối cùng này của Chúa Jesus qua
tiếng Việt. Tôi sẽ chứng minh câu nói này là tiếng Việt, một
trăm phần trăm tiếng Việt.
-Eli, Hele
Eli,
hele là những tán thán từ (exclamation). Eli là
một cổ ngữ Anh liên hệ với từ Anh ngữ hiện kim Alas và
biến âm với tiếng Việt hiện kim Ế a, Ối a và
Hele là cổ ngữ Anh liên hệ với Pháp ngữ hiện kim Hélas
và liên hệ với cổ ngữ Việt Hĩ ôi! (Alexandre de Rhodes,
Từ Điển Việt Bồ La) và với tiếng Việt hiện kim Hỡi a!,
Hỡi ơi!, Hỡi ôi!
-lama, lamat, lamah
.Nếu coi từ lama
hay lamah là hai từ riêng rẽ: la và ma
(mah)
./ la biến âm
với lù (lù mù), lờ (lờ mờ), với lòa (mù
lòa, chói lòa), lóa (lóa mắt, chói lóa).
Lòa, lóa,
chóa là đui mù, làm tối mắt, không nhìn thấy liên
hệ với Pháp ngữ noir (/noa/), đen, tối. La cũng
biến âm với làn. Từ làn là lớp che như một làn
sương khói, một làn khói bốc lên (la, làn
liện hệ với Anh ngữ “layer”). Theo l=m như lờ = mờ, lu,
lù = mù, mờ; lạch = mạch (nước), ta có làn = màn,
một làn sương mù = một màn sương mù .
./ ma là
mà, mù, mờ, mây như mù mà mù mờ,
làm cho không thấy, che mắt như ta thường nghe nói các nhà ảo
thuật mà con mắt người xem (ma tương đương với một
nghĩa của ma thuật, liên hệ với magic).
Lama
là lờ mờ, lù mù, lóa mất ,
làn mây mù,
lớp mây mù.
.Nếu coi lama
chỉ là một từ
Lama có lam-
biến âm với lấm (bẩn), lầm (vẩn đục như lầm than,
cát vẩn bụi lầm), lem (lem luốc, lem nhem, lâ1m lem).
Lấm, lầm, lem ngoài nghĩa bẩn còn hàm nghĩa đen đủi, rõ nhất là
từ lem như thấy qua từ đôi lọ lem. Ta có lem = lọ
(lọ, nhọ có nghĩa là đen như lọ nồi, nhọ nồi).
Theo l=đ, lam- = đậm = đêm (tối), theo l=th, lam- = thâm. Đậm,
đêm và thâm cũng hàm nghĩa đen như đậm đen, đêm đen,
thâm đen (chiếc áo the thâm).
Vậy lam- liên
hệ với Việt ngữ lấm, lầm, lem, đậm, đêm, thâm hàm nghĩa
đen, tối.
Mặt khác lam-
liên hệ với Hán Việt lam là khí núi như lam chướng,
sơn lam chướng khí. Khí núi là một thứ mù sương, sương
mù, sương mờ trông như mây mù, khói mù . Thường cho lam chướng
là một thứ khí độc (miasma).
Như thế lama
là tối đen (darknes hay làn mây mù, lờ mờ, lù
mù .
Như đã biết Việt
ngữ liên hệ với tiếng Nam Đảo (Austronesian language). Ta
có
thể dùng tiếng Nam
Đảo để kiểm chứng lại nghĩa ngữ của từ lama để thuyết
phục thêm những người có đầu óc đa nghi. Tôi mò tìm trong ngôn
ngữ Nam Đảo và đã tìm thấy trong Ngôn ngữ Nam Dương tộc Torah có
từ lama có nghĩa là dew (sương), mist (mù)
(Tae, Zuid Toradjasch WMP; van der Veen 1940) và ngôn ngữ ở đảo
Salomon có từ lama có nghĩa là spread over,
cover over (lan tỏa, che phủ)
(OC, Sa’a, S.E.
Salomon, W.G, Ivens, 1929) (Robert Blust, Austronesian
Etymologies, Oceanic Languistics, Vol. XIX, No 1 and 2, 1980.
tr. 101).
Mã Lai ngữ kelam
là dark (tối, đen, đậm, thâm), obscure (tối tăm,
mờ mịt), malam là night (đêm), the darkness
of night (tối đêm, đêm đen) và silam là darkness,
nightfall (“màn” đêm rơi xuống). Tất cả đều có gốc –lam
liên hệ với Việt ngữ lấm, lầm, lem, đậm, đêm, thâm nói ở
trên.
Tóm lại rõ như hai
năm là mười là lama là làn mây mù,
lớp lam mù, l ù mù, lờ mờ, lóa
mắt, bóng tối, tối tăm và từ lama
viết trong Tân Ước gần cận với ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo hơn là
hai từ của hai tác giả trên là lamat, lamah.
-sabac,
zabac
Theo sự biến âm lịch
sử trong Việt ngữ, âm b là âm cổ ví dụ các cụ chúng ta nói bồ
hôi = chúng ta ngày nay thích nói mồ hôi, các cụ nói
bồ hóng = chúng ta nói mồ hóng, các cụ nói
thuốc bồi = chúng ta nói thuốc mồi... như thế ta có
sabac là dạng cổ của Việt ngữ samac. Khoảng hai
ngàn năm trước, Chúa nói sabac, chúng ta ngày nay nói
samac.
.Nếu coi samac
là hai từ riêng rẽ là sa và mac
-sa, sà là rơi xuống,
đổ xuống như sa xuống, sà xuống.
-mac là mặt
(cũng nên biết là người Trung Nam ngày nay cũng thường phát âm c
thay cho t, viết chính tả hay lầm c với t).
Samac
là sa, sà xuống mặt.
.Nếu coi samac
chỉ là một từ
Samac có sam- là sâm, sẩm, xẩm, sầm hàm nghĩa tối, đen như sâm sẩm tối,
lúc xẩm tối, tối sầm lại. Sâm, xâm,
xẩm cũng có nghĩa là bị tối mắt lại tức bị xỉu, ngất như bị
xây xẩm cả mặt mày, bị xâm (faint). Xẩm là mù,
không thấy như thấy qua từ hát xẩm.
Như thế, samac có
thể hiểu là tối đen đổ xuống mặt, bị xỉu, ngất. Vắn tắt
sabac là samac là sa, sà (xuống), sa
sầm (bóng tối đổ xuống) xuống mặt,
mắt, bị sâm, xây xẩm.
-ta ni
Ta
ni chính là Việt ngữ ta ni, ta nì,
ta này, ta nầy, ta nè. Ta ni
trăm phần trăm là tiếng Việt, một ngàn phần trăm là tiếng Việt,
một triệu phần trăm là tiếng Việt. Ta ni là tiếng Việt
đứt đuôi con nòng nọc. Khoảng hai ngàn năm hai từ ta ni
không thay đổi trong tiếng Việt. Khoảng hai ngàn năm trước Chúa
nói ta ni và ngày nay chúng ta cũng vẫn nói là ta ni.
Tóm lại, toàn câu nói
“Hele, hele, lama sabac ta ni” = “Hỡi ơi!
Hỡi ôi! làn mây mù sà xuống mặt ta nì” hay “Hỡi
ơi! Hỡi ôi! làn mây mù sà xuống tối mặt ta nì” hay dịch
thoát nghĩa là “Hỡi ơi! Hỡi ôi! ta đang bị xây xẩm, màn
bóng tối che mặt ta nì”. Tổng quát, nghĩa của câu tiếng
Việt rất ăn khớp với nghĩa của James Churchward và Don Antonio
Batres Jaurequi đã dịch: “I am fainting, the darkness
covers my face”.
Nhưng tất cả mọi người
phải công nhận với tôi là câu tiếng Việt chính thống và đúng
nghĩa nhất.
Theo Việt ngữ hiện kim
thì câu nói cuối cùng của Chúa Jesus trên thánh giá phải viết
như sau “ Hoioi, hoioi, lanmay samat ta ni”.
Như thế rõ ràng Chúa
Jesus đã nói tiếng Việt! Bây giờ, một câu hỏi lớn được đặt ra là
Chúa đã học thứ ngoại ngữ này ở đâu?
Giáo sử của Thiên chúa
giáo có ghi lại rằng Chúa Jesus đã “vắng bóng” một khoảng thời
gian mà các tín đồ không rõ ngài đi đâu. Một tài liệu gần đây
nói rằng Chúa đã viếng thăm vùng phía bắc Ấn Độ. James
Churchward cũng xác nhận điểm này. Ông là một nhà khảo cổ học
uyên bác đã từng lặn lội đến những vùng đất có những nền văn
minh huy hoàng cổ nhất của nhân loại để nghiên cứu. Ông đã từng
đến những vùng bắc Ấn, Hy Mã Lạp Sơn, Tây Tạng... để tìm tòi
nghiên cứu về nguồn gốc văn minh loài người.
Trong quyển Symbols
of Mu ông đã viết:

“Một dịp, một lão
tu Ấn Độ Rishi bảo cho tôi biết rằng truyền thuyết của ngôi đền
có ghi rằng ‘Chúa Jesus, trong khi lưu lại ở một tu viện ở
Himalaya, ngài đã nghiên cứu thứ tiếng thiêng liêng Sacred
Inspired Writings, ngôn ngữ, chữ viết và và Vũ Trụ luận của vùng
Đất Mẹ”. Đây là lý do James Churchward đã cho rằng câu nói
cuối cùng của Chúa là thứ ngôn ngữ của vùng Đất Mẹ.
Như thế Chúa đã nói
một thứ ngôn ngữ cổ vùng Đông Á mà địa bàn của cổ Việt là ở vùng
Đông Á liên hệ với vùng Hy Mã Lạp Sơn thì hiển nhiên Chúa nói
tiếng cổ Việt.
Tôi xin chứng minh
có sự liên hệ giữa tiếng Việt và tiếng Naga-Maya Đông Á
của James Churchward. Ở đây chỉ xin so sánh tiếng Việt với vài
ba từ Naga-Maya Đông Á trong nhóm tự vựng của James Churchward.
-Ngôn ngữ Naga-Maya
Đông Á có từ naga là rắn nước (nag- là nác,
nước), một thứ rồng nước. Theo truyền thuyết chúng ta là
dòng dõi Lạc Long Quân. Lạc Long là Rồng Nác, Rồng Nước là Naga,
như thế dân Lạc Việt có gốc rồng nước liên hệ với Naga-Maya
Đông Á châu của J. Churchward. Lạc Long Việt và Naga-Maya Đông Á
cùng một dòng Naga-Rồng Rắn Nước, dòng nước, Mặt trời nước, dòng
vũ trụ nòng (âm). Tiếng cổ Việt là tiếng Naga-Maya Đông Á hay
liên hệ vời tiếng này.
-Từ Naga-Maya Đông Á
châu keh có nghĩa là con hươu, người đầu
tiên trên mặt đất (Keh ruột thịt với Pháp ngữ
cerf là con hươu; với gốc Hy lạp ker-, sừng như
keratitis, sưng màng sừng ở mắt). Keh chính là Việt
ngữ kẻ (người như kẻ nào đó? vùng, đất cao, núi
nổng. Kẻ nguyên thủy chỉ người tộc Hươu, người ở vùng đất cao,
tộc núi như Kẻ Sặt, Kẻ Mau, Kẻ Trọng), ruột thịt với Hán Việt
Kì là cây, sừng, vùng đất, con hươu nọc. Vua đầu tiên của
chúng ta là Kì Dương Vương có Kì là Kẻ ruột thịt với Naga-Maya
kek, con hươu, người đầu tiên. Kì Dương Vương là người
đầu tiên của tộc Việt và của cả loài người đã lập ra nước đầu
tiên của tộc Việt là Xích Quỉ cũng có tên mẹ đẻ là con hươu đực
Lộc Tục (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
-Từ Naga-Maya Đông Á
châu Mu là Me ruột thịt với Việt ngữ Mụ, Mẹ,
Mệ, Mợ...
-Từ Maya Đông Á
Menen (người) chính là Việt ngữ Man, Mán,
Mường, Môn (người),
Như thế chỉ qua vài
ba từ, ta thấy ngôn ngữ, truyền thuyết, cổ sử của Việt Nam liên
hệ khắng khít ruột thịt với Naga-Maya ngữ.
Vậy Chúa nói tiếng
Naga-Maya Đông Á thì Chúa cũng có thể nói tiếng Việt.
Như trên ta đã biết
tiếng Naga-Maya Đông Á và tiếng Maya Trung Mỹ
là hai ngôn ngữ chị
em. Vậy tiếng Naga-Maya Đông Á liên hệ với Việt ngữ thì Việt ngữ
cũng phải liên hệ với tiếng Maya Trung Mỹ. Tôi xin chứng minh.
Có ít nhâ hai tác giả Việt Nam cho rằng có sự liên hệ giữa Việt
Nam và Maya Trung Mỹ:
-Bình Nguyên Lộc
trong “Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam” cho rằng Maya ngữ
Trung Mỹ châu là tiếng Mã Lai đợt II. Có nhiều tác giả trong đó
có Bình Nguyên Lộc đã chứng minh rằng có sự liên hệ giữa Việt
ngữ và tiếng Mã Lai nằm trong nhóm ngôn ngữ Nam Đảo. Vậy thì
tiếng Việt liên hệ với tiếng Maya Trung Mỹ.
-Triết gia Kim Định
trong Việt Lý Tố Nguyên cho rằng Maya liên hệ với Bộc Việt. Bộc
là Bọc là túi, nang. Bộc Việt là Nòng Việt, dòng âm, ngoại, dòng
Vũ trụ, Hư Không âm.
-Tôi cũng nhận thấy
giữa Maya và Việt Nam có một sự liên hệ mật thiết về văn hóa, cổ
sử và ngôn ngữ. Họ là tộc thờ mặt trời thuộc dòng Nòng (tức Bọc,
Bộc), dòng Vũ trụ Hư Không âm, dòng nước, dòng Mẹ Mặt trời. Hãy
lấy một vài ví dụ để soi sáng.
-Từ Maya
Trước hết hãy tìm
hiểu xem Maya nghĩa là gì? Theo các nhà nghiên cứu Maya
Tây phương ngày nay, Maya có nghĩa là 'not many': “The
name Mayapán, given to Maya New Empire which endured from A.D.
987 to 1697 means the 'Standard of the Not Many', from Maya (not
many) and pán (standard). It was sometimes called Ichpa meanning
'within the closure', an exactly parallel idea on the Nahuaque
as Lord of the Ring" (Irene Nicholson, Mexican and Central
American Mythology, tr.123) (Tên Mayapán, đặt cho Tân Đế Quốc
Maya kéo dài từ 987 đến 1697 sau công nguyên có nghĩa là "Tiêu
chuẩn Không nhiều", do Maya là 'Không nhiều'
và pán 'tiêu chuẩn'. Đôi khi cũng được gọi là Ichpa có
nghĩa là "trong vòng kín", chính là ý nghĩa song
song với Nahuaque, "Chúa Vòng"). Câu cắt nghĩa này thật
là tối nghĩa và gần như là ngớ ngẩn. Đây là cách giải nghĩa đã
đi lệch ra ngoài. Bây giờ ta thử dùng Việt ngữ và chữ nòng nọc
để tìm nghĩa đích thực của tên tộc Maya xem sao. Đối
chiếu với Việt ngữ ta thấy Maya (không nhiều) quả
thật có nghĩa là Mấy (mấy cũng có nghĩa là
không nhiều như sức mấy, mấy hơi, mấy kẻ...
Mấy liên hệ với mỡ, mậu, mụ, mô
có nghĩa là không có gì, xem dưới). Do đó Maya
chính là Mấy, Không. Pán chính là Việt ngữ
bản, buôn, mường chỉ người, chỗ ở, đất nước. Bản về sau cũng
có nghĩa là căn bản, đơn vị gốc dùng làm tiêu chuẩn,
các nhà nghiên cứu Maya hiện nay đã hiểu theo nghĩa standard
là tiêu chuẩn này. Mayapán là Bản Mấy, Bản Không, Mường Mấy,
Mường Không. Không có nghĩa là hư không, là Khôn, Nòng. Vì thế
mà từ Mayapán có nghĩa đi đôi với Ichpa có nghĩa là "within
the closure", là "quây kín", "Ring", "Vòng". "Lord of the
Ring" là "Chúa Vòng". Ở đây ta phải hiểu theo chữ nòng nọc,
theo vũ trụ giáo. Theo v=n, víu = níu, Vòng = Nòng. Vòng là
Nòng, là Khôn tức ngành âm. Rõ như ban ngày là Maya là Mấy,
Không mang ý nghĩa Vòng, Nòng, Khôn, Hư Không. Maya là một tộc
thuộc ngành Nòng, Khôn âm, Nước trong vũ trụ taẹo sinh. Vì thế
hình hai vòng tròn đồng tâm mang ý nghĩa hai nòng O là hai âm,
thái âm, nước là biểu tượng chính của Maya như thấy ở các hình
rắn cuộn tròn (rắn mang một ý nghĩa biểu tượng cho nước) và thấy
rất nhiều ở các kiến trúc (xem hình).

Kiến trúc hình hai
vòng tròn đồng tâm và con Rắn-Lông Chim Kuckucan cuộn tròn thành
hình hai vòng tròn đồng tâm ở sân chơi “bóng người”
(Chichén Itzá, Cancun, Mexico, 2006).
Điều này cũng thấy
rất rõ là nét nổi bật nhất của Maya là mặt trời của Maya là mặt
trời âm và có cả mặt trời cõi âm và có biểu tượng là con báo
(báo thuộc họ mèo biểu tượng cho dòng âm, nữ).
Theo duy dương Maya
là một thứ Lạc Việt, theo duy âm là một thứ Âu Việt
thuộc ngành nòng ở Mỹ châu (nên nhớ Thổ Dân Mỹ châu xuất phát từ
vùng duyên hải Nam Á, xem dưới).
- Trong Maya ngữ,
Maya ngữ có Ma- có nghĩa là Mẹ, chính
là Việt ngữ Má, Mạ, Me, Mẹ, Mợ, Mụ. Nếu Ma đứng
đầu từ tức là tiền tố thì Ma- có khi mang nghĩa
phủ định (negation) có nghĩa là không, không
có, chớ có (James Churchward, Land of Mu).
Điểm này cũng giống như trong Việt ngữ có các cổ ngữ mựa,
mỡ có nghĩa phủ định như thấy trong thơ Lê Thánh Tôn, thế
kỷ 15:
Mỡ ểu áo vàng chẳng
có việc.
Mỡ ểu có nghĩa là chớ có kêu ca (giải thích của Bùi Đức Tịnh, Văn Phạm Việt
Nam, Xuân Thu, tr.237), mỡ là không; tiếng Huế mô
(mô có = không có), Quảng Đông ngữ mụ, mậu
(không), ểu biến âm với e (sợ), eo (sèo),
mỡ ểu là chớ có e sợ, chớ có eo sèo.
.Maya có vật tổ là
Kucucan là Rắn Lông Chim có Kucu- là chim
cúc-cu (tú hú, biểu tượng cho gió), -can là
chăn, trăn, rắn. Kucucan là Rắn-Chim, Rắn-Lông Chim, Rắn Gió
(Thần Gió) tức là Rắn bay được tức là một loại naga, long,
thuồng luồng, rồng. Hiển nhiên qua vật tổ này ta thấy rất rõ
Maya Trung Mỹ cũng thuộc dòng âm Naga. Họ là Naga-Maya ổ Trung
Mỹ. James Churchward đã chứng minh đúng.
.Maya ngữ ou
(ếch) biến âm với oa, ếch.
.Ở trên ta đã biết
Maya có nghĩa là Không, Vòng Kín, Chúa Vòng thuộc dòng Khôn âm
nên họ có con số zero có hình con sò có hai răng
mang hình ảnh Nữ Oa là “con ốc có hai ngà” (Kim
Định, Việt Lý Tố Nguyên). Theo truyền thuyết Nữ Oa có đuôi rắn
là dòng nước, Nòng Khôn âmlà người đăn bà đầu tiên của nhân
loại. Maya Trung Mỹ thuộc dòng Nòng, Không, Khôn âm đã lấy hình
ảnh con ốc có hai ngà của Nữ Oa làm con số không zero. Như thế
họ ruột thịt với Nữ Oa (điều này cũng cho thấy Nữ Oa không phải
là của Trung Hoa, xem Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
. . . . . .
Cuối cùng một bằng
chứng vững chắc và đáng tin cậy nhất là nghiên cứu di truyền học
dựa trên DNA. Sự khảo cứu dựa trên DNA của Tiến sĩ J.Y. Chu
chứng minh rằng con người Homo sapiens sapiens phát xuất từ đông
châu Phi tới vùng Lưỡng Hà rồi đến Đông Nam Á. Ở đây, họ chia ra
làm hai nhánh. Một nhánh đi lên phía Bắc tức Trung Hoa rồi vượt
qua eo biển Bering qua Mỹ châu. Nhánh thứ hai đi xuống Nam Đảo ở
Thái Bình Dương.

The migration of homo sapiens-sapiens from East
of Africa based on DNA study (The Cambridge Encyclopedia of
Human Evolution).
Khảo cứu này cung
cấp một bằng chứng kiên cố là thổ dân Mỹ châu nói chung và Maya
Trung Mỹ nói riêng phát gốc từ Đông Nam Á. Hiển nhiên Maya Trung
Mỹ liên hệ với cổ Việt.
Như thế câu nói cuối
cùng của chúa Jesus theo James Churward là tiếng Naga-Maya Đông
Á châu và ta đã thấy rõ có liên hệ với tiếng cổ Việt. Theo James
Churward tiếng Naga-Maya Đông Á châu và tiếng Maya Trung Mỹ là
hai dòng “thuộc địa” của Đất Mẹ Mu mặc dù xa cách ngàn trùng
nhưng tương thuận với nhau về mọi điểm (4). Như thế Việt ngữ
ruột thịt với Maya ngữ Trung Mỹ. Mặt khác, theo Jaurequi câu nói
cuối cùng của Chúa Jesus là tiếng Maya Trung Mỹ và ta đã thấy
Maya là một thứ Bộc Việt, một thứ Việt dòng âm và sự khảo cứu
của tôi cũng đã cho thấy câu nói của Chúa là tiếng Việt. Như thế
thì rõ ràng như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt
rõ ràng con cua” là câu nói cuối cùng của Chúa Jesus là
tiếng cổ Việt.
Nhìn tổng quát, tóm
tắt lại, ta có thể làm một cái tam đọan luận đơn giản là:
-theo J. Churchward,
Chúa Jesus nói tiếng cổ Đông Á (trong đó có tiếng Việ t hay
tiếng Việt liên hệ với). Mặt khác tiếng cổ Đông Á liên hệ với
tiếng Nam Đảo và tiếng Maya Trung Mỹ châu.
-theo Jaurequi, Chúa
nói tiếng Maya Trung Mỹ châu và tiếng này liên hệ với tiếng Nam
Đảo và tiếng Việt (Bình Nguyên Lộc).
Như thế chúa nói
tiếng Việt là chuyện tất nhiên.
Kết Luận
Tóm lại câu nói cuối
cùng của Chúa Jesus trên thánh giá là câu nói bằng một ngôn ngữ
tối cổ của loài người, có thể hiểu qua ngôn ngữ Maya Đông Á châu
của James Churward, qua ngôn ngữ Maya Trung Mỹ của Jaurequi và
qua ngôn ngữ Việt của tôi. Chúa nói tiếng Việt. Dù gì thì qua
câu nói này ta rút ra được một điều chắc chắn là tiếng Việt
là một thứ ngôn ngữ nằm trong nhóm ngôn ngữ cổ nhất hay
liên hệ với một thứ ngôn ngữ cổ nhất của loài người.
Rõ ràng James Churchward cho tiếng Naga-Maya là “tiếng tối cổ”,
Jaurequi cho tiếng Maya Trung Mỹ là “tiếng cổ nhất hiện biết
đến” thì hiển nhiên Việt ngữ liên hệ với hai ngôn ngữ đó
cũng phải là một ngôn ngữ tối cổ. Ta có thể so sánh tiếng Việt
với bất cứ ngôn ngữ nào của loài người. Ta có thể dùng tiếng
Việt để nghiên cứu bất kỳ một ngôn ngữ nào của loài người và
ngược lại có thể dùng bất cứ một ngôn ngữ nào của loài người để
nghiên cứu tiếng Việt.
Ta có thể dùng tiếng
Việt để tìm ra nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem Việt Ngữ và
Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người trong Tiếng Việt Huyền Diệu).
Tài Liệu Tham Khảo
.James Churchward:
-The Lost Continent
of Mu, 1969 Paperback Library Edition, Coronet Communications
Inc.;
-The Childen of Mu,
1959 Compton Printing Works Ltd, London.
-The Sacred Symbols
of Mu, Neville Spearman, London.
.Don Antonio Batres
Jaurequi, History of Central America.
.Oppenheimer,
Stephen, Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast
Asia, Phoenix, London, 1998.
.Irene Nicholson,
Mexican and Central American Mythology.
.Robert Blust,
Austronesian Etymologies, Oceanic Languistics, Vol. XIX, No 1
and 2, 1980.
.Bình Nguyên Lộc,
Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam, Xuân Thu xuất bản.
.Kim Định, Việt Lý
Tố Nguyên, An Tiêm xuất bản 1970.
.Nguyễn Xuân Quang:
-Tiếng
Việt Huyền Diệu.
-Khai Quật Kho Tàng
Cổ Sử Hừng Việt Y Học Thường Thức xuất bản, 1999.
-Ca Dao
Tục Ngữ Tinh Hoa dân Việt, 2002.
Trở về Trang Chính