Cáo
Lỗi: Vì lầm lẫn, kỳ trước
tôi đã gởi lầm phần 1 chưa dò lại nên còn sót lỗi chính tả,
thành thật xin lỗi độc giả.
* * *
.Mân
mê (tôi viết lại từ láy này).
Sờ nắn một cách kỹ
lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác ví dụ như mân mê cây bút.
TTL mê = mân.
Theo biến âm kiểu mê
man, ta có mê = mân.
Việt ngữ mân ruột
thịt với mần, như trên đã biết mần là làm bằng tay
như đi mần = đi làm, mần răng = làm răng. Mần =
gốc chữ man-, manu- (manual) liên hệ với cổ ngữ
Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây
Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay.
Ta cũng thấy rất rõ
mê là biến âm của mân nên mê liên hệ với các ngôn ngữ
trên, TTL mê liên hệ với Anh ngữ meticulous có
nghĩa gốc là tẩn mẩn, meticulous có me- =
mê = mần = mân có gốc tay. Việt ngữ tẩn
có gốc tay như tao tẩn cho mày một trận bây
giờ = tao đánh (bằng tay) cho mày một trận bây giờ, tẩn
biến âm với Quảng Đông ngữ tả, đánh và
mẩn hiển nhiên biến âm với mân, mần có gốc
tay. Mẩn hiển nhiên là mần thấy rất rõ qua
các từ láy tẩn mẩn, tần mần.
TTL mê liên hệ với
métier (Anh ngữ gốc Pháp ngữ) có nghĩa gốc là nghề nghiệp,
việc làm, chuyên môn. Métier có mé- = mê =
mần = mân có gốc tay.
Tóm lại TTL mê
= mân = Việt ngữ mần (làm bằng tay) = Anh ngữ
meticulous, tẩn mẩn, Anh-Pháp ngữ métier, có
nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm = gốc chữ man-,
manu- = Latin manus, Tây Ban Nha ngữ manos,
Pháp ngữ main = cổ ngữ Anh mund = Ấn Âu ngữ IE
man-, bàn tay, có nghĩa là sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài
để tìm cảm giác
N
.Nói năng
Nói chung là nói.
TTL năng = nói.
Theo qui luật L là dạng
nam hóa hay dạng dương của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta có
năng = lăng = cổ ngữ Việt lãn là lưỡi như
lãn heo là lưỡi heo (G. Hue) = Pháp ngữ langue,
lưỡi, tiếng nói, ngôn ngữ = Anh ngữ language, tiếng nói,
ngôn ngữ. Ngôn ngữ liên hệ với lưỡi nên Anh ngữ language còn gọi
là tongue, lưỡi.
Tóm lại TTL năng
= nói = lăng = lãn (lưỡi) = langue =
language.
.Nằng nặc.
Nói dai, đòi cho bằng
được, eo xèo, cằn nhằn, cãi nhau.
TTL nặc = nằng.
Nằng biến âm với năng
với nghĩa là nói như trên đã thấy qua từ nói năng.
TTL nặc = Mường
ngữ nặc nặc, nằng nặc = Anh ngữ nag, nagging,
eo xèo, rầy rà, cự nự, cằn nhằn, cãi nhau.
Tóm lại TTL nặc
= nằng = năng (nói) = Anh ngữ nag.
.Nhỏ nhít
Nhỏ, bé, con.
TTL nhít = nhỏ. Nhít là
nhỏ như viết chữ lít nhít.
.TTL nhít = nhí
(kép nhí, đào nhí) = Hán Việt nhi, trẻ con.
Theo nh=l như nhanh =
lanh, nhít = lít = Anh ngữ little, nhỏ, bé,
con con.
Tóm lại TTL nhít =
nhỏ = lít = Anh ngữ little.
O
.Óc ách
tiếng nước kêu.
TTL ách = óc.

Óc
biến âm với ốc, loài sống dưới nước, cũng có nghĩa là
nước như ốc đảo (oasis) có nghĩa là “đảo nước” trong sa
mạc. Oasis có oa-, liên hệ với oa là con
ốc và cũng có nghĩa là nước. Bà Nữ Oa có đuôi rắn
thuộc dòng Nước và theo truyền thuyết bà có một khuôn mặt là
con sò có hai cái ngà tức loài ốc, bào ngư thái dương (Khai
Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Đối chiếu với chữ nòng nọc, từ
Oa có O và A. O có gốc từ chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc.
Dưới dạng thái âm O có một nghĩa là nước như thấy rõ qua show O
ở khách sạn Bellagio ở Las Vegas là một show về Nước, O là phiên
âm của Pháp ngữ Eau, nước. Oa có A và A có một dạng là nọc mũi
mác (chữ A dạng là A dân dã “rustic capitals”) có
gốc từ chữ nọc mũi mác /\, có nghĩa là nọc, dương, mặt trời,
lửa trời mà Dan Brown trong The Da Vinci Code gọi là blade
và cho là “a rufimentary phallus” (dương vật
nguyên sơ). Tóm lại A có nghĩa là nọc, đực, dương, bộ phân sinh
dục nam, thái dương, mặt trời (xem bài viết The Da Vinci Code và
Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trên
khoahoc.net). Hai cái ngà của bà Nữ Oa là hai cái nọc tương
đương với chữ A dạng rustic capitals = nọc mũi mác, răng
cưa, blade, theo Dịch ta lấy nghĩa thái dương. Bà là O
Nước Thái Dương A nên tên là OA. O là Mụ là Mẹ. Nữ Oa là O, Mẹ
Nước Thái Dương. Vị thần Mặt Trời Nước Osiris của Ai Cập cổ
tương đương với Mặt Trời Nước Lạc Long Quân, Osiris có Os-
= ốc = nước (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
TTL ách, có nghĩa
là nước = ếch, con vật sống dưới nước = Pháp ngữ ak-,
aka, nước = gốc aqua-, nước như Tây Ban Nha ngữ
aqua, nước, Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.
Tóm lại ách =
óc = ốc = Phạn ngữ ak-, aka = gốc
aqua-, nước
= Anh ngữ aquatic,
thuộc về nước.
.Óng ả
Sáng, lóng lánh.
Óng
biến âm với ánh như thấy qua từ ghép óng ánh nghĩa
là óng = ánh. Ánh là sáng, là ánh mặt trời, lửa trời.
Theo
duy dương ở đây, ả cũng có nghĩa như óng, ánh, ta thấy
ả = á có nghĩa là ánh sáng, mặt trời, lửa như châu Á
là châu lửa, châu ánh sáng, châu phía mặt trời mọc. Ả liên hệ
với A, ( (chữ A dạng rustic capitals) như trên đã
biết có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời, ánh sáng. Hầu
hết các tia sáng của mặt trời trên trống đồng âm dương Đông Sơn
đều có hình nọc mũi mác /\ này.
Tóm lại TTL ả = óng = mẫu tự (A) = nọc mũi
mác /\ = ánh (sáng).
.Om om
Như đã thấy om om
biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì tối tăm mang âm
tính), với um um (xem dưới).
PH
.Phành phạch
tiếng gió hay tiếng quạt
(quạt là tạo ra gió) liên hệ với phần phật (gió).
TTL phạch = phành.
.theo ph = f= b=v (như
phành = banh = vành), phành = fan, quạt = Mường
ngữ phán (phướn), một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ
hội, tang ma = Anh ngữ banner (phướn, phán). Ta thấy rất
rõ cờ phướn, cờ phán, banner ruột thịt với
quạt fan, liên hệ với gió. Tất cả liên hệ với Phạn Ngữ
vát, to fan (quạt), vâta, gió. Bà Hồ Xuân
Hương trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có hai câu:
Phành ra ba góc da còn méo,
Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Bà quả thật là một thiên
tài đã dùng từ phành thật là tuyệt vời vì ngoài nghĩa
vành ra, banh ra còn hàm nghĩa phành phạch
liên hệ với quạt, với fan.
TTL phạch = Anh
ngữ flag (cờ). Ta cũng thấy phất, phật
trong phất phới, phất phơ, phần phật =
flag.
Tương tự phần phật
có phần = fan và phật = flag cũng
liên hệ với gió.
Tóm lại TTL phạch
= phành = fan = flag = phán
(phướn) = banner = Phạn ngữ vát (to fan), liên hệ
với gió, Phạn ngữ vâta, gió.
.Phì phà phì phèo
thở ra khói, thả ra khói
như phì phà điếu thuốc.
TTL phà = phì.
Ta có phì là thở,
thổi ra khói phun ra như thở phì phì, phun phì
phì và phà cũng có nghĩa tương tự như phà khói
thuốc, phà hơi độc... nói chung là các nguyên âm đều biến âm
với nhau được: phì phà, phì phào, phì phè, phì phèo, phì phò,
phì phù, phù phù đều cùng gốc nghĩa liên hệ với thở,
thổi, phun ra hơi...
Cũng nên biết Anh ngữ
respiration, thở, hô hấp, tiếng cổ là spirit, Latin
spirare, thở đẻ ra từ respiration có tiền tố re-,
và theo p=ph, pir- = phì (phì phà, phì phèo), phì phì
(thở).
TTL phà = Anh ngữ
fart, đánh hơi, đánh rắm, Trung Nam nói là
địt = Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là
perdo, Old High German là ferzan. Việt ngữ có từ
phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ
phà thối (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có thể
dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ
to fart là phà ra hơi.
Việt ngữ phổi,
Hán Việt phế (phổi, phế là cơ quan hô hấp) cũng
liên hệ với phì phì, phì phà, phì phèo...
Tóm lại TTL phà
= phì = phổi, phế = Anh ngữ respiration
= Anh ngữ fart = Phạn ngữ pard (to fart) = Hy
Lạp ngữ perdo = Old High German ferzan.
.Phù phù
từ láy này có TTL láy
giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.
Phù liên hệ với
thở, gió dông như thở phù phù, Phù Đổng thiên vương
là ông thánh sấm dông gió, cửa Thần Phù là nơi có
sóng to gió lớn. Phù ngoài nghĩa trên có thêm nghĩa liên hệ với
phồng, sưng như sưng phù, phù thũng.
Ta có phù = Anh
ngữ puff với các nghĩa chính:
.hơi thở, thở, hơi thổi
ra, có puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo
liên hệ với thở, với phổi (xem pulmonary).
Anh ngữ pulmonary,
Pháp ngữ poumon, phổi, phế , theo p=ph, có pu-,
pou- (phát âm là pu-, phu-) = phù, phồng (thở
phập phồng) = phà, phì, phèo... liên hệ tới
hơi, thở. Phổi là cơn quan thở phù phù... Việt ngữ phèo
thường hiểu là lòng như phèo heo nhưng thật ra theo qui
tắc của từ láy ở đây ta thấy qua từ láy phèo phổi ta có
phèo = phổi.
.phồng, phùng, phình,
puff = phồng.
.thổi phồng (quảng cáo
láo, loan tin láo), puff = phồng (thổi).
Theo ph= fl, TTL phù
liên hệ với Anh ngữ flue, ống khói, ống thông hơi, ống
dẫn hơi và với flute, ống sáo, ông tiêu (ống dùng để thổi
vào tạo ra tiếng).
Tóm lại TLL phù
= từ mẹ phù = phèo = phổi = Hán Việt phế
= Anh ngữ pulmonary = Pháp ngữ poumon = Anh ngữ
puff, liên hệ với Anh ngữ flue, flute.
.Phèn phẹt
chẹt bẹt, dẹp bè bè
(thường nói về mặt).
TTL phẹt = phèn.
Phèn phẹt có gốc nghĩa
là phẳng, bằng, mỏng, phèn biến âm với
phên (tấm mỏng) như cái phên tre, với phiến (miếng
mỏng) như phiến đá, với phẳng, phản (tấm gỗ để
nằm). Theo ph=b (phỏng = bỏng), phèn phẹt = bèn bẹt
(bằng). Bèn biến âm với bàn, bản, bằng. Bẹt
biến âm với bẹp.
TTL phẹt = Anh
ngữ flat, phẳng, bằng.
.flat = phẳng.
.theo fl=b, có flat
=/flét/ = bẹt, bẹp, theo phát âm tiếng
Việt flat = /flát/ = bằng.
.flat có -lat =
/-lét/ = lét (mỏng) = lép, dẹp lép và theo phát âm
tiếng Việt -lat = /lát/ = lát (miếng mỏng).
.theo l=d, có -lat =
/lét/ = dẹt, dẹp và theo phát âm tiếng Việt , -lat-
= /lát/ = dát (làm mỏng) như dát mỏng.
Tóm lại TTL phẹt
= phèn = Anh ngữ flat = phẳng = bằng,
bẹt, bẹp, lát, lét (mỏng), lép (dẹp), dẹp.
Q
.Quàng quáng
nhanh như quàng lên
kẻo trễ = nhanh lên kẻo trễ, quàng tay lên nào =
nhanh tay lên nào, làm nhanh cho xong như làm quáng làm
quàng cho xong, làm quếnh quáng, làm qua loa (làm sơ
sài lấy nhanh cho xong).
TTL quáng = quàng = Anh
ngữ quick.
.từ láy quàng quạc,
nhanh có quàng = quạc = quick.
.quick = quít,
qua từ ghép cuống quit, ta có cuống = quít = quick.
.theo qu =k như quốn =
kuốn, quick = kịp, kíp như cần kíp,
liên hệ với Hán Việt cấp (khẩn cấp, cấp tốc, cấp cứu).
Tóm lại TTL quáng
= quàng = quít = kíp = Anh ngữ quick.
.Quảng quát
Biến âm với khoảng
khoát, thông thoáng, thoáng khí, rộng rãi và có nhiều không khí,
gió
Theo qu=v (quấn = vấn),
quảng (khoảng) = Anh ngữ vast, khoảng khoát,
rộng lớn, mênh mông. TTL quát biến âm với quạt.
Theo qu=v, quát = quạt = Phạn ngữ vâta, gió. Ta cũng thấy Phạn
ngữ vát, quạt = Anh ngữ van (quạt lớn để
quạt sẩy lúa) = fan (quạt) = vane, chong chóng
quay theo chiều gió để định hướng gió = vent, lỗ thông
hơi cho thông thoáng = Pháp ngữ vent = gió.
Tóm lại, TTL quát
= quạt = quảng = Anh ngữ vast = Phạn ngữ vát,
quạt, vâta, gió. Quảng quát, khoảng khoát liên với gió,
không
khí.
.Quay quồng
ngày nay viết là quay
cuồng, là chuyển động vòng tròn rất nhanh làm cho có cảm giác
chóng mặt.
Theo q=c=g, quồng =
cuồng = guồng. Guồng là một thứ bánh xe quay tròn như guồng
nước, guồng chỉ, guồng máy. Quay guồng = quay
cuồng.
Theo qu=c=g=vv, TTL quồng, cuồng, guồng liên
hệ với các vật có bánh xe quay hay xoay tròn như Anh ngữ
wheel (bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn), whirl
(xoáy, xoay, quay tròn), whorl (xoáy ốc, hoa tay hình xoáy ốc),
tất cả liên hệ với gốc chung hwarb hàm nghĩa quay tròn.
Theo h=w=qu (bà hóa = Mường ngữ wá = quả phụ), hwarb =
quay = cuồng = guồng.
Tóm lại TTL quồng = cuồng = quay =
(liên hệ với) Anh ngữ whirl, whorl, wheel.
R
.Rậm rật, Rậm rựt
Rậm rật, rậm rựt là
trạng thái động tình.
No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.
(tục ngữ)
TTL rật, rựt = rậm.
1. Rậm rật, rậm rựt biến
âm với dâm dật.
.rậm = Phạn Ngữ
ram có một nghĩa là làm tình và nằm. Nằm
cũng có nghĩa là làm tình như ăn nằm.
Anh ngữ ram ruột
thịt với Phạn ngữ ram. Anh ngữ ram có những nghĩa
sau này:
1.cừu đực chưa
thiến, cừu nọc, đôi khi cũng chỉ dê núi đực.
Thật ra nhìn chung chung, ram chỉ chung loài thú có sừng mang
dương tính biểu tượng cho nọc, đực.
2.mũi nhọn (của
tầu); chầy, vồ. Mũi nhọn, chầy… đều có nghĩa liên
hệ tới đực, nọc.
3.đóng cọc. Có
một nghĩa làm tình như Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ
Xuân Hương.
4. đâm vào (to
ram a car, đâm vào một chiếc xe). Đâm vào, thọc thụt =
thrust là động tác làm tình.
Tất cả những nghĩa của
Anh ngữ ram như cừu, dê đực, nọc, vật nhọn, đóng cọc,
đâm, đục, thọc, thụt (thrust)… đều hàm nghĩa nọc, cọc, bộ phận
sinh dục đực, làm tình. Theo r=d = đ như rứa = Mường ngữ dửa =
đó, ta có ram = dâm = đâm.
Con cừu nọc, con dê nọc
núi, con ram biểu tượng cho dương, nọc, cho đâm, cho dâm.
Con cừu, dê nọc có khả năng dập, phủ, nhẩy cái cả một đàn cừu
cái mỗi ngày. Con dê đứng ở hàng thứ 35 trong trò chơi thai đề
nên có máu dâm, máu ram, máu dê gọi là máu 35. Các cung
phi ngày xưa có nàng một đời chưa được thấy mặt vua một lần nên
phải dùng lá dâu để dụ xe dê của vua:
Xe dê nọ rắc lá
dâu mới vào.
(Ôn
Như Hầu, Cung Oán Ngâm Khúc)
Tại sao chúng ta gọi là
con dê? Theo biến âm kiểu dầm dề, suy ra dê
biến âm với dâm, đâm. Rõ ràng con
dê nọc là con đâm, (con dâm) con ram. Con dê có tên Hán
Việt là con dương. Dương là đực, là nọc (heo nọc = heo đực), là
mặt trời. Trong nhiều nền văn hóa, dê đực dùng làm biểu tượng
cho mặt trời như Ai cập chẳng hạn. Từ goat cũng có nghĩa
như ram. Theo g=c, goat = /gốt/ =
cột,
cọc. Cột, cọc là nọc, là đực, là dương, là dê, biểu tượng cho bộ
phận sinh dục nam. Cũng nên biết con goat thường được
dùng làm vật tế thần cột vào Cột Tế Thần, Cây Trụ Tế, mang hình
bóng của Trục Vũ Trụ để cúng dâng lên Ba Cõi Tam Thế, có lẽ vì
vậy mà tên nó mới dính dáng tới Cột [Thân trống đồng âm dương
Đông Sơn là Trục Vũ Trụ nên trên đó thường thấy nhiều hình bò
mộng, tương đương với goat, dưới một diện, các con vật
này cũng có thể là những con vật tế thần, hy sinh, (xem chương
Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải
Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, đang in)]. Về sau goat
(cột) có thêm nghĩa là scapegoat với scape có một
nghĩa là thân cột, cột. Con dê cột vào Cột Tế Thần
dùng làm vật tế thần, chịu tất cả tội lỗi cho người khác, được
giáo sĩ thả ra sau khi làm lễ hay giết tế thần. Về sau có nghĩa
bóng chỉ người chịu tất cả tội lỗi cho người khác và chỉ người,
vật hy sinh.
Tại sao chúng ta gọi con ram là con
cừu, con trừu? Cừu biến âm với cừ là cây cọc
cắm ở bờ nước (ăn khớp với nghĩa đóng cọc của ram),
cừ là kè (cọc đóng ở bờ nước) biến âm với kẻ (cọc
nhỏ như thước kẻ), với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng
(như keratoma, cắt màng sừng mắt). Con cừu là còn
cừ, con kè, con “đóng cọc”, con kera-,
con sừng, con cọc, con chọc, con đâm,
con ram. Tương tự con trừu biến âm với
trừ, trự, trử, chử, trụ. Hán
Việt Chử biến âm của cừ, cọc đóng ở bờ nước. Nhân vật Chử Đồng
Tử là Cậu Bé Sống Bên Bờ Nước. Cậu bé Chử ruột thịt với cừ, cừu,
trừu (cậu bé boy có “bòi”, có cọc, Pháp ngữ garçon
có gar- = gạc, sừng, cọc nhọn) sống bên bờ nước = cọc cắm
bên bờ nước = cừ, cừu, Chử, trừu. Con trừu là con trụ, con cột,
con cọc, con chọc, con đâm, con ram.
Ở đây một lần nữa cho
thấy Việt ngữ giúp tìm hiểu nguyên nghĩa ngữ của Anh ngữ đến nơi
đến chốn.
2. rật, rựt, dật
= Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, động đực, nứng của con
thú đực như cừu, dê, hươu đực).
Tóm lại TTL rật,
rựt = Anh ngữ rut = Việt ngữ rậm = dâm
= Anh ngữ ram, con thú đực = Phạn ngữ ram, làm
tình.
.Rực rỡ
TTL rỡ = rực.
rực, rỡ,
rạng, rạng-rỡ liên hệ với red, đỏ. Qua từ
ghép đỏ rực, ta có rực = đỏ và rực sáng, ta
có rực = sáng, tỏ. Rực liên hệ với mầu đỏ, mầu tỏ, tỏ rạng của
mặt trời, với Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ
rouge, đỏ có ro- = rỡ (rực rỡ), rou- = rực (đỏ
rực), với russe, hung đỏ có rus- = rực, với Phạn
ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng), ranj, đỏ,
rạng, rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có
ro- = rỡ. Gốc tái tạo Indo-European (IE) *reudh-,
đỏ.
Tóm lại TTL rỡ
= rực = Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng) =
rohita, đỏ = rohit, mặt trời = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ
Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.
.Rầm rầm
Tiếng động lớn và liên
tục.
TTL láy rầm = từ
gốc rầm.
Rầm = Anh ngữ rumble,
tiếng động rầm rầm, ầm ầm như tiếng sấm, tiếng động đất, tiếng
xe chậy, tiếng sôi ruột.
rumble có rum- =
rầm, với r câm, rầm = ầm, rầm rầm =
ầmrầm.
Tóm lại TTL rầm
= từ mẹ rầm = Anh ngữ rumble.
S
.Sối sả
Nước trút xuống như
mưa sối sả.
TTL sả = sối.
Từ sối là đổ nước
như sối nước, theo s=g (hàng sáo = hàng gạo), sối = gội.
TTL sả liên hệ
với gốc chữ sa- ruột thịt với Phạn ngữ sara-,
saras, nước. Sả liên hệ với nước như sả nước, sối sả, chim sả…
Chim sả là chim “sống vì nước” là chim bói cá, thằng
chài, phí thúy “nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu,
nào hố bẫy hươu nai, nào lưới dò chim sả” (Nguyễn Trãi, Bình
Ngô Đại Cáo). Theo s=ch=tr. Sả = trả. Chim sả là chim
trả:
Con chim tra trả, ai vay mà trả,
Bụi gai
sưng, ai vả mà sưng.
Đấy người
dưng, đây cũng người dưng,
Cớ chi nước mắt cứ rưng rưng nhỏ hoài.
(Hò Miền Nam).
Cỏ sả
(lemon grass) có nghĩa là cỏ nước vì dùng để đun nước làm
trà, tắm gội và dùng làm hương vị nấu ăn. Lúa sạ là
lúa nước, lúa mọc ngoi lên theo mực nước dâng cao hàng ngày…
Anh ngữ sea,
biển liên hệ với sả, Phạn ngữ sara.
Tóm lại TTL sả
= sối = Anh ngữ sea = Phạn ngữ sara-,
saras, liên hệ với nước.
.Sài sể
mắng mỏ thường đi kèm
với hình phạt.
TTL sể = sài.
Từ sài có nghĩa
là dùng, làm biến âm với sai (sai bảo, sai
khiến) cũng có nghĩa là làm, làm việc nặng để hành hạ như khổ
sai (làm việc cực khổ, việc nặng), kẻ hầu hạ sai bảo. Như
thế TTL sể = sài = làm, làm việc nặng, sai bảo.
TTL sể = sài = gốc chữ
Anh ngữ -ser-, serv-, đẻ ra các từ serve,
service, servant… có nghĩa là làm, sự, vụ, sự việc,
dịch vụ, hầu hạ, phục dịch, ở đợ = Phạn ngữ sev, to
serve, hầu hạ, phục dịch, ở (to inhabit) hàm nghĩa ở đợ = Phạn
ngữ sevâ, service, dịch vụ, phục dịch = Phạn ngữ sevin,
serving, dwelling (ở), liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to
protect, bảo vệ, to keep, gìn giữ, to preserve, tồn giữ, make
safe, giữ an toàn, chăm sóc.
.ser- = sể, xể,
từ kép sài sể, xài xể có nghĩa là mắng chửi nhưng
gốc là mắng chửi kèm theo hình phạt bắt làm việc cực khổ.
.serv- = sâu,
xâu, Hán Việt sưu như đi làm xâu, Hán Việt
sưu là công việc dân phải làm để phục dịch cho nhà nước như
trốn xâu lậu thuế, sưu dịch, sưu cao thuế nặng.
.ser- = seo,
sá (anh seo, anh sá). Seo, sá
còn gọi là mõ. Mõ là người hầu hạ, phục dịch làng xóm, thường đi
rao tin: “mõ này cả tiếng lại dài hơi”, theo m=b, mõ =
bõ, người hẩu lớn tuổi như bõ già.
.ser- = sai có
nghĩa là bắt làm như sai bảo, sai làm, khổ sai; người sai bảo
tức người làm, đứa ở, đầy tớ, nô lệ.
.ser-= sài (dùng
làm việc).
.ser- = sãi,
người làm, tôi tớ. Người làm công, làm mướn, phục dịch cũng gọi
là sãi như thấy qua câu:
Thứ nhất là quản voi già,
Thứ nhì trầu miếng (bán lẻ), thứ ba sãi đò.
(ca dao.)
Sãi đò là người phu chèo
đò, làm công chèo đò. Sãi biến âm với sai (sai bảo, sai làm),
sài (dùng làm việc). Tôi của chúa (chỉ các giáo sĩ, tu sĩ, bà
phước v.v…), những người phục dịch, tôi tớ của Phật cũng gọi là
sãi như sãi chùa là người làm công (quả) ở chùa: Con
vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa (ca dao).
Trong Thiên Chúa giáo, sãi là bầy tôi của Chúa. Trong Thánh mẫu
Thiên Chúa, trung quyển của Girolamo Maiorica, trang 38 (chữ Nôm
thế kỷ 17) có câu “Các thánh tổ tông kính duệ vị la sãi. . .
dỗ mệnh” tương ứng với “các thánh tổ tông kính dái (vái)
vì là thầy dậy dỗ mình”. Ta thấy sãi Chúa dịch là thầy (tức
thầy tu). Thái Lan ngữ chai là servant. Theo ch=s, chai =
sãi, sai (bảo).
.theo s=ch, sev-, serv-
= cheo. Việt ngữ cheo là tiền phạt cho làng, nếu
không có tiền thì phải làm xâu cho làng cũng có thể có
nguồn gốc ở đây. Tương tự từ sêu như sêu tết là
đem quà cáp biếu nhà vợ, nguyên thủy có thể là vào dịp lễ tết
người rể tương lai phải đến nhà vợ hầu hạ, phục dịch làm xâu.
Sau đó dùng quà biếu thay cho phục dịch, làm xâu gọi là sêu.
Từ đôi biếu sén có biếu = sén với sén biến âm với
sev-, serv. Biếu sén có nghĩa là biếu quà và phục
dịch.
.ser- = săn,
sóc, săn sóc = chăn sóc = chăm sóc,
liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, gìn giữ, chăm
sóc, có sar = săn, sóc.
.ser- = sửa
(chữa), xem chữ service.
Tóm lại TTL sể
= sài = gốc Anh ngữ -ser-, serv- (serve, service,
servant) = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, sai
bảo.
.Súc sắc
hột súc sắc (tào
cáo) (dice) là hột lúc lắc.
TTL sắc = súc.
TTL sắc = Anh ngữ
shake, lúc lắc, lắc lư, lay động, lung lay, rung, rung
rinh, run, bắt tay (thường lắc tay nhau).
Từ súc = shook,
dạng quá khứ của shake.
.shook= súc
= sóc, xóc (lắc) như xe xóc, xóc dĩa, xóc bài.
Theo biến âm kiểu xốc xếch ta có sóc, xóc =
shake.
.shook, shake
= xốc xếch như quần áo xốc xếch (nghĩa lệch): hàm nghĩa
tụt lên tụt xuống cùng gốc nghĩa với lúc lắc, súc sắc, xóc lên
xóc xuống (làm cho xốc xếch).
Tóm lại TTL sắc
= súc = Anh ngữ shake = shook.
T
.Tắm táp
Nói chung là tắm.
TTL táp = tắm.
TTL táp chính là
Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm.
Tắm cần dùng tới vòi nước tap hay bồn tub.
Tóm lại TTL táp
= tắm = Anh ngữ tap = Anh ngữ tub.
.Tối tăm
Rất tối, tối đặc.
TTL tăm = tối.
.theo t=đ, TTL tăm =
đêm. Đêm có nghĩa là tối, đêm tối, tối đêm.
.tăm = Phạn Ngữ
támas-, darkness có tam- = tăm.
.TTL tăm = gốc
tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm,
dark, darkness (Bombard, A.R. p.207, No 51).
Tóm lại TTL tăm
= tối = đêm = Phạn Ngữ támas-, darkness = gốc tái
tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark,
darkness.
.Thật thà
là ngay thẳng, thẳng
thắn.
TTL thà = thật.
.TTL thà liên hệ
với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand, đứng, theo
t=th, có -tand = thẳng, thắn (thẳng thắn).
.TTL thà ruột
thịt với Phạn ngữ sthá, đứng, gốc Phạn ngữ sta,
đứng, stak, stag, đứng vững chắc, Phạn ngữ
sthâ-, sthal, to stand có –thâ = thà, -thal
= thẳng, thắn.
Ta thấy rất rõ đứng
thẳng là ngay thẳng, thẳng thắn, thành thật vì thế mà loài
tre đứng thẳng nhất (fastuola bambusa) gọi là quân tử trúc
(tre quân tử). Loài tre này dù mưa gió làm ngả nghiêng vẫn mọc
ngay thẳng trở lại giống như người quân tử bị những kẻ tiểu nhân
làm hại vẫn sống một đời chính trực.
Tóm lại TTL thà
= thật = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand =
Phạn ngữ sthá, đứng, đứng thẳng, thẳng thắn.
U
.Uốn éo
uốn khúc cong queo.
TTL éo = uốn.
Từ uốn là cong
liên hệ với Anh ngữ worm, sâu, giun,
trùn. Theo w=u, worm có wor- = uor- = uốn
(éo), thấy rõ nhất qua từ Latin uermis, a worm, có uer-
= uốn, éo. Pháp ngữ vers, con sâu, có ver- = éo,
uốn. Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là
rắn vì con sâu không có chân là những con rắn tí hon,
bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà,
xà, rắn. Sâu và rắn là con uốn éo.
Cũng nên biết là từ Lạc
trong tên Lạc Long Quân viết với bộ trãi với trãi
có nghĩa là con sâu không có chân nên Lạc Long Quân có
bản thể là loài rắn nước vì thế Rồng Lạc Long Quân là Rồng Rắn,
Rồng Nước. Kiểm chứng lại ta cũng thấy theo tr=d, trãi = dải,
con dải có một nghĩa là con rắn nước. Xin các nhà làm văn
hóa Việt Nam ghi tâm nhớ điều này (ví dụ nếu quí vị có làm hình
rồng để ở chiếc cổng vòm ở Little Saigon thì xin để Rồng Rắn,
Rồng Nước Lạc Long Quân xin đừng để rồng Trung Hoa). Những con
rồng đời Lý, Trần, Lê có thân uốn éo như rắn mới thật sự
là rồng Lạc Long Quân.
TTL éo biến âm
với eo cũng có nghĩa là cong như trái bầu bí bị eo là bị
cong queo.
TTL éo, eo
liên hệ với Anh ngữ ell, đơn vị đo chiều dài, phần lớn là
đo vải. Ell là chiều dài của cung tay (bow của elbow) từ đầu cùi
chỏ đến đầu ngón tay chỏ. Ell ruột thịt với el- của
elbow, khuỷu tay, cùi chỏ, cùi tay. Trong Ấn-Âu ngữ elbow
thường mang ý nghĩa eo, queo, quẹo, cong.
Trong Việt ngữ cũng vậy. Từ khuỷu có nghĩa là cong, quẹo
như khúc khuỷu. Khuỷu liên hệ với khoẻo, khoèo,
khoeo, kheo có nghĩa là cong queo, quẹo, quèo
(kh=qu), eo, ẹo, éo, uốn éo (kh, qu câm). Khuỷu ta là eo
tay. Cổ ngữ Việt khoeo, kheo cũng có nghĩa là đầu
gối (tương đương với khuỷu tay) như thấy qua câu tục ngữ “cầy
chạm vó, bừa mó kheo”. Cái cầy phải mắc vừa chạm vó chân,
còn bừa thì vừa chạm kheo (đầu gối) thì trâu bò mới di chuyển dễ
dàng khi đi cầy bừa. Khúc, khủyu, ruột thịt với Phạn ngữ
kurpata (u có dấu mũ ^), elbow. Rõ ràng kurpa- = khúc
= khuỷu = cong, cung.
Ta có TTL eo (eo
tay) = el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-,
eo, cong.
Chữ “eo-lờ” L liên hệ
với Việt ngữ eo mang hình ảnh của khuỷu tay elbow để
thẳng góc. Những chỗ nối ống dẫn chất lỏng, chất khí có hình chữ
L cũng gọi là elbow.
Tóm lại TTL éo
= eo = uốn = Anh ngữ ell = el(bow) = gốc
tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.
.Ướt át
nói chung trạng thái
ướt.
TTL át = ướt.
Từ ướt = Anh ngữ wet,
ướt. Theo w=u, wet = uet = ướt.
TTL át chính là Phạn
ngữ addrà, ướt phát xuất từ gốc Phạn ngữ ak-,
aka, nước = gốc aqua-, nước.
Tóm lại TTL át =
ướt = Anh ngữ wet, ướt = gốc aqua-, nước =
Phạn ngữ addrà, ướt = gốc Phạn ngữ ak-, aka,
nước.
.Um um
Như đã thấy um um = âm âm = êm êm = im im =
om om.
Um là tối như tối um, um biến âm, rõ nhất
với om như tối om. Um có gốc u, có một nghĩa là
tối, bị che tối như u tối, u u minh minh.
Om có gốc nòng O trong chữ nòng nọc có một nghĩa là âm (như trời
âm âm là trời có mây che, âm u), đen tối (nước thái âm có mầu
đen). O = ô (vật che cho mát, cho rợp), ô cũng có nghĩa là tối
đen như ngựa ô là ngựa đen. Ô, dù là vật che có bóng mát.
TTL um = từ mẹ um.
um,
om (tối um, tối om) = Pháp ngữ ombre, bóng tối,
bóng mát, bóng dâm = Anh ngữ umbel, umbella, chùm
hoa hình tán, hình ô, dù = umbra, umbrage, bóng,
bóng mát, che bóng = umbrella, ô, dù. Tất cả có um- = um
= om = âm = ô (dù).
Tóm lại TTL um
= từ mẹ um = om = u (tối) = o, ô
= Pháp ngữ ombre = Anh ngữ umbra, umbrage =
umbrella. Tất cả có nghĩa là tối, bóng tối, bóng mát, che
sáng, che nắng.
V
.Vanh vách
nói lưu loát, thuộc làu.
TTL vách = vanh.
Theo v=b, từ vanh
biến âm với ban như ban lệnh, vua ban rằng,
với bàn như bàn luận với biện như biện hộ, hùng
biện; theo b=ph, ban = phán. Ban, bàn, biện, phán là những hình
thức nói. Vanh = Phạn Ngữ varh, bark, nói.
TTL vách = vạch,
vạch ra (nói toạc ra) = Phạn ngữ vach, to speak, vâch,
speaking, vachas, speech, gốc Aryan-Phạn ngữ wak,
to speak.
Theo v=b, vách =
bạch như biện bạch, bạch thầy. Theo v=m (man, màn = vạn),
vách = mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo).
TTL vách = Anh
ngữ vocal, thuộc về phát âm, tiếng nói, thanh, âm = Anh
ngữ voice, tiếng nói. Theo biến âm kiểu róc rách,
ta có voc(al) = vách.
Tóm lại TTL vách
= bạch = mách = vanh = ban, bàn,
biện = phán = gốc Anh ngữ vocal = voice
= Phạn Ngữ varh, bark, nói = Phạn ngữ vach,
to speak, vâch, speaking, vachas, speech = gốc
Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.
.Vòng vèo
quanh co, uốn khúc.
TTL vèo = vòng.
Từ vòng có một
nghĩa là cong như cong vòng như thế vèo cũng phải
có nghĩa là cong. Nếu ta thay v=o, ta có vèo =
oèo = oeo = eo. Eo là cong. Theo v=qu
như vấn = quấn, ta có vèo = quèo, queo quẹo.
Queo, quẹo là cong như cong queo.
Như thế TTL vèo = eo =
éo = uốn. Ta trở lại trường hợp uốn éo ở trên, nghĩa là
ta có vèo = eo = éo = Anh ngữ ell,
el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-,
eo, cong.
Tóm lại ta có TTL vèo = eo =
el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-,
eo, cong.
.Vù vù
vù vù tiếng kêu liên hệ
với bay (của côn trùng, phi cơ) biến âm với vo vo. Với v
câm, vù vù = ù ù, vo vo = o o.
TTL vù = từ mẹ vù.
Theo v=b, vù, vo = Anh
ngữ buzz, tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng).
Tóm lại vù =
vù = Anh ngữ buzz.
X
.Xồ xề
Xồ xề hay sồ
sề là người béo xệ, không còn thon gọn trông xồ xề như lợn
nái sề.
TTL xề = xồ.
Từ xồ, sồ
= Anh ngữ sow, heo cái, lợn sề, có so- = sồ, sồ sề
= Cổ ngữ Anh sù = Latin sùs, lợn sề = Phạn
ngữ su-kara, a hog.
TTL sề = Việt ngữ sề là
lợn nái: Ba bà đi bán lợn sề.
Heo, lợn là con thú có
nhiều mỡ vì thế ta thường nói mập như heo, Việt
ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với
mỡ dầu, từ hợi biến âm Việt ngữ hoi (mùi mỡ bị
oxýt hóa), với Pháp ngữ huile, dầu; Thái Lan ngữ moo,
heo, moo chính là Việt ngữ mỡ. Các con vật như
heo, lợn cũng như người khi mập, béo phì, mỡ thường đọng lại ở
bụng, ở các cơ quan nội tạng (gọi là mỡ chài vì trông
giống mạng lưới), ở mông, vú. Heo sề cũng như các phụ nữ đã sanh
con khi lớn tuổi dễ bị béo phì và mỡ đọng ở bụng, mông nên các
bà thường phải đi hút mỡ bụng, mỡ mông là vậy. Con lợn sề khi có
mỡ dồn ở bụng làm bụng sa xuống sát mặt đất nên mới có từ xề, xệ
như trông xệ quá, xã xệ, xồ xề, sồ sề
chỉ những người mập người đầy những mỡ.
Ở đây là một ví dụ cho
thấy rõ có sự dùng lẫn lộn giữa x và s giữa xồ xề và sồ sề. Có
nhiều nơi nói và viết là sồ sề, có nhiều nơi viết là
xồ xề. Nếu ta chọn cách viết sồ sề thì đây là cách
viết lấy theo gốc sề là con heo nái sề hợp với các từ lợn
sề trong Ấn Âu ngữ, nghĩa là sồ cùng vần với con sề, con
sow, con sù, sus. Cách này giúp cho sự khảo
cứu dễ dàng vì biến âm vẫn giữ theo vần s có nghĩa là biến âm mẹ
con, ruột thịt. Nếu ta lý luận cho rằng sồ sề trong Việt
ngữ có thể đã biến âm với con lợn sề và với Ấn Âu ngữ rồi và sồ
sề bây giờ đã dùng làm một tính từ (adjective) xề, xệ
như trông bề xề quá, xã xệ nên ta có thể viết theo
biến âm x của s, cách này đã có biến âm từ gốc s qua x. Dĩ nhiên
trong gian dân vùng nào nói theo cách nào cũng được, còn trong
khoa bảng thì tùy thuộc theo giới thẩm quyền quyết định chọn một
qui ước và học trò sẽ phải viết theo khi đi thi lấy bằng cấp để
tiến thân. Còn trong nghiên cứu tiếng Việt cổ ta có thể dùng cả
hai cách chẳng phải theo ông thầy nào cả.
Tóm lại TTL sề,
xề = sồ, xồ = Việt ngữ sề = Anh ngữ sow
= cổ ngữ Anh sù = Latin sùs = Phạn ngữ su-kara.
.Xôn xao
nhiều tiếng động.
Xôn xao ngoài ngõ thiếu gì yến oanh.
(Nguyễn Du,
Kiều).
TTL xao = xôn.
từ xôn chính là
Pháp ngữ son, tiếng, âm thanh, liên hệ với sonorific,
sonority, sonorous (xem những chữ này). TTL xao
chính là Anh ngữ sound, tiếng động, tiếng, âm. Xôn xao =
sôn sao = son-sound. Ta thấy Tiếng Việt (thật là)
Huyền Diệu, sôn sao là có nhiều tiếng, có cả tiếng chim
yến, chim oanh, có cả tiếng Tây son và tiếng Anh
sound. Hai từ sôn sao cũng cho thấy ngôn ngữ Việt Nam ở
trên cây ngôn ngữ loài người có vị trí ở cành lớn trong nhóm Ấn
Âu ngữ, cành Việt ngữ sôn sao chia ra hai nhánh nhỏ
son (Pháp ngữ) và sound (Anh ngữ) hay sôn sao
nằm ở thân cây, gốc cây. Việt ngữ là thân, là cành lớn, trong
khi Pháp, Anh ngữ chỉ là cành hay nhánh nhỏ trên cây ngôn ngữ
loài người. Với x, s câm, xôn xao, sôn sao = ồn ào.
Tóm lại TTL xao
= x ôn = sao = sôn = Anh ngữ sound =
Pháp ngữ son.
.Xốp xộp
cũng có thể viết sốp
sộp, xốp sộp, không chắc, không cứng, mềm, ốp. Với x,
s câm, xốp = ốp, sộp = ộp, xốp sộp = ốp ộp.
Cua xốp sộp = cua ốp ộp.
TTL xộp = xốp.
xộp
= xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft, mềm.
Tóm lại TTL xộp
= xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft.
K ết luận
Qua các từ láy trong
Việt ngữ, ta có thể học Anh ngữ nói riêng và nói chung, học các
ngôn ngữ khác của ngôn ngữ loài người, nhất là các ngôn ngữ có
liên hệ mật thiết với Việt ngữ và ngược lại.