|
Cách
đây vài thập niên, khi được xác định bị ung thư thì nhiều bệnh
nhân rụng rời chân tay, lo sợ. Vì mắc phải ung thư là coi như
đời sống sẽ vô cùng ngắn lại. Ngoài ra sự thất vọng cũng gia
tăng vì khi đó các hiểu biết về bệnh cũng còn giới hạn.
Sau
nhiều năm nghiên cứu, khoa học đã có những khám phá tương đối rõ
ràng hơn về nguyên nhân cũng như điều trị và cách thức phòng
ngừa bệnh. Nhờ đó một số lớn ung thư có thể chữa khỏi nếu được
tìm ra sớm.
Ngày 8
tháng 2 năm 2006, Hội Ung Thư Hoa Kỳ cho hay, lần đầu tiên trong
70 năm vừa qua, số tử vong vì ung thư đã giảm trông thấy. Ðó là
nhờ sự sớm khám phá ra bệnh và các phương thức trị liệu tân
tiến. Ngoài ra ý thức giảm hút thuốc lá của công chúng cũng là
đóng góp tích cực trong việc giới hạn bệnh ung thư phổi.
Vài
hàng lịch sử.
Ung thư
đã được biết tới từ thuở xa xưa.
Danh từ
Cancer, được Hippocrates dùng đầu tiên, bắt nguồn từ chữ
karcinos có nghĩa là con Cua, ngụ ý diễn tả những u bướu có
nhánh tỏa ra chung quanh.
Y giới
cổ Hi Lạp cho ung thư là do mất thăng bằng bốn chất lỏng trong
cơ thể, nhất là khi mật từ gan tiết ra quá nhiều.
Gallen
thì lại cho ung thư là do có quá nhiều máu sau khi cơ thể bị
viêm nóng.
Ðến thế
kỷ 15, một số khoa học gia lại coi hệ bạch huyết có liên hệ tới
ung thư.
Khi tế
bào được khám phá qua kính hiển vi và được coi như đơn vị căn
bản của cơ thể thì hiểu biết về ung thư rõ ràng hơn.
Ngày
nay y khoa học đã chứng minh ung thư là do một số tế bào đột
nhiên tăng sinh sản một cách bất bình thường và không kiểm soát
được.
Diễn tiến ung thư
Nhắc
lại là cơ thể được cấu tạo bởi cả nghìn nghìn tỷ đơn vị gọi là
tế bào. Tế bào giúp ta thực hiện các chức năng chính của cơ thể
như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, cử động, suy nghĩ.
Mô bào
tăng trưởng và sinh sản tùy theo nhu cầu của cơ thể và trong một
trật tự đã được quy định. Một tế bào thành hai, hai thành bốn và
liên tục tiếp diễn.
Trong
những năm đầu của cuộc đời, tế bào sinh sôi nẩy nở rất nhanh cho
tới khi ta trưởng thành. Sau đó tế bào của hầu hết các bộ phận
chỉ sinh ra để thay thế tế bào già yếu hoặc bị tiêu hủy vì bệnh
hoạn, thương tích.
Khi tế
bào tăng sinh một cách vô trật tự, không đáp ứng nhu cầu, không
kiểm soát được và mất khả năng tự hủy thì chúng sẽ tạo ra một
nhóm gọi là u bướu. U này có thể lành hoặc dữ.
Lành
thì thu gọn, ít gây hiểm nghèo cho sức khỏe, không lan tới các
nơi khác và có thể mổ cắt bỏ.
Trái
lại u ung thư thì nguy hiểm hơn vì chúng lan sang các bộ phận xa
gần. Ðó là sự di căn. Tế bào ung thư không dính với nhau như tế
bào thường, nên ngay từ khi mới thành hình, chúng đã có thể len
lỏi vào mạch máu và lưu hành xâm nhập tới các cơ quan gần xa.
Khi di
căn như vậy, nơi mà ung thư khởi sự vẫn được coi là ung thư
chính. Thí dụ tế bào ung thư nhiếp tuyến chạy vào xương thì vẫn
giữ các đặc tính của ung thư nhiếp tuyến. Ung thư gốc này có thể
điều hòa sự tăng trưởng của u di căn. Và đôi khi cắt bỏ u gốc
lại khiến u di căn lớn nhanh mạnh hơn.
Mới
đầu, tế bào ung thư sống nhờ các chất dinh dưỡng thấm qua mạch
máu. Sau đó chúng tự tạo ra một hệ thống dẫn máu riêng biệt để
tự lực cánh sinh, phá hoại.
Thời
gian từ khi tiếp xúc với tác nhân nguy hại tới khi khám phá ra
bệnh kéo dài có khi cả mươi mười lăm năm. Ðấy là thời gian mà
nếu khám phá ra sớm thì có thể ngăn chặn sự thành hình hoặc giới
hạn sự lan rộng của tế bào ung thư.
Có
nhiều giải thích về sự thay đổi của tế bào ung thư. Xin đan cử
một giải thích.
Theo
bác sĩ L. Hebert Maurer, đại học Y khoa Darmouth sự hình thành
ung thư diễn tiến qua hai giai đoạn:
Tác
nhân gây ung thư xâm nhập một tế bào và gây rối loạn cho DNA.
DNA là chất có trong mỗi tế bào và điều khiển mọi sinh hoạt của
tế bào.
Ở tế
bào bình thường, khi bị tổn thương thì DNA có thể sửa chữa được
trong khi đó DNA tế bào ung khi bị hư hao thì bất khả tu sửa.
Gen DNA này biến đổi và tế bào có khả năng trở thành ác tính.
Tiếp
theo là một vài hóa chất trong tế bào lại hỗ trợ sự tăng sinh
của tế bào nổi loạn và tạo ra u bướu.
Những rủi ro gây ra
ung thư.
Ung thư
không phải là một bệnh mà gồm vài trăm loại khác nhau. Chúng có
thể xuất phát từ bất cứ nơi nào trong cơ thể với các hung tính
riêng biệt.
Ai cũng
có thể bị ung thư. Nhưng mắc bệnh hay không tùy thuộc vào một số
yếu tố như nơi ở, nghề nghiệp, quá khứ sức khỏe của mỗi cá nhân
và gia đình, gen di truyền, nếp sống hàng ngày.
Có
nhiều rủi ro đưa tới ung thư mà một số đã được xác định qua
dịch tễ học và qua các nghiên cứu khoa học. Đôi khi nhiều rủi ro
kết hợp với nhau để gây ra một bệnh ung thư.
a-Tuổi
tác.
Theo
thống kê, ung thư xẩy ra nhiều hơn ở lớp tuổi ngoài 60. Một
trong nhiều lý do là cần thời gian khá lâu để tạo ra các thay
đổi trong cấu trúc tế bào trước khi ung thư thành hình và phát
triển. Thành ra khi ta sống càng lâu thì càng có nhiều tích tụ
các biến đổi bất thường và nhiều nguy cơ bị ung thư.
b- Thay
đổi gene và có thể do di truyền. Chẳng hạn một số phụ nữ có sẵn
biến đổi gene để bị ung thư nhũ hoa.
c-Do
dinh dưỡng.
Một chế
độ ăn uống với nhiều chất béo động vật, ít rau, trái cây, chất
xơ hoặc một vài chất gia phụ thực phẩm đều có thể gây ra ung thư
ruột già..
d-Suy
yếu hệ miễn dịch.
Người
với hệ miễn dịch suy yếu thường hay mắc một số bệnh ung thư,
nhất là ung thư bạch cầu. Đó là những bệnh nhân bị nhiễm HIV,
tiếp nhận ghép bộ phận và dùng thuốc ngăn ngừa sự chối từ cơ
quan mới..
e-Do siêu vi khuẩn.
Virus bệnh viêm gan loại B
có thể đưa tới ung thư gan; virus bệnh mụt cóc cơ quan sinh dục
gây ra ung thư cổ tử cung.
g- Hóa chất gây ung thư.
Nhiều hóa chất dùng trong
đời sống hàng ngày có thể gây ra ung thư như là:vật liệu cách
nhiệt asbestos, vài hóa chất trong sơn với ung thư phổi; vài hóa
chất trong thuốc nhuộm tóc gây ung thư bàng quang; benzene với
ung thư máu…
h-Ung
thư do nếp sống.
Uống
rựơu quá mức đưa tới ung thư miệng, thực quản; thuốc lá hút,
nhai gây ung thư phổi, thực quản, bàng quang, cổ tử cung, tụy
tạng; nhai trầu có thể gây ung thư miệng. Chỉ với hút thuốc lá
đã là nguyên nhân tử vong của 1/3 bệnh nhân chết vì các loại ung
thư.
i-Phóng
xạ.
Tia tử
ngoại trong nắng mặt trời là rủi ro chính gây ra ung thư da;
phóng xạ bom nguyên tử gây ung thư bạch cầu ở nhiều nạn nhân
người Nhật vào cuối thế chiến thứ hai;công nhân hầm mỏ tiếp xúc
lâu ngày với uranium có thể bị ung thư phổi
Ngoài
ra, vài dược phẩm như kích thích tố nữ Diethylstilbestrol đã
đựơc coi như rủi ro gây ung thư gan, tử cung; người kém lợi tức
bị ung thư nhiều hơn giới trung lưu; tín đồ vài tôn giáo như
Mormon và Seventh-Day Adventists ít bị hơn. Có lẽ vì các vị này
chừng mực trong đời sống và dinh dưỡng, không rượu, thuốc lá.
Ung thư
có thể gây bệnh ở bất cứ tế bào của mọi cơ quan và vào bất cứ
tuổi nào. Nhưng nhũ hoa, ruột già, nhiếp tuyến, bao tử, tụy
tạng, bàng quang, phổi, da, tử cung là những nơi thường thấy.
Những dấu hiệu của
nguy cơ bị ung thư.
Tùy
theo loại, ung thư có những dấu hiệu báo trước như sau:
a-Thay
đổi thói quen đại tiểu tiện;
b-Một
vết thương lâu lành;
c-Xuất
huyết hoặc tiết dịch bất thường ở một cơ quan;
d-U cục
ở nhũ hoa hoặc các phần mềm;
e-Không
tiêu và khó khăn khi nuốt thức ăn;
g-Có
những mụt cóc hoặc nốt ruồi mole trên da
h-Ho
khan hoặc khản tiếng.
Nếu có
một trong những dấu hiệu trên, xin đi khám bác sĩ ngay để được
khám nghiệm thêm. Nếu chẳng may bị ung thư thì bệnh sẽ mau khỏi
nếu được điều trị sớm.
Khám nghiệm phát hiện ung thư
Cho tới
nay, 80% các trường hợp ung thư đều được xác định ở giai đoạn 2
hoặc 3 nên việc điều trị bị giới hạn. Do đó Viện Ung Thư Hoa Kỳ
đưa ra các hướng dẫn sau đây để sàng lọc screening một số ung
thư trước khi có dấu hiệu bệnh, cũng như để giảm tử vong và có
thể áp dụng phương thức trị liệu hữu hiệu, ít tốn kém.
Phụ
nữ
a-Tuổi
từ 18-39
Ung thư
nhũ hoa: Khám nhũ hoa mỗi ba năm do bác sĩ; tự khám mỗi tháng;
chụp X-quang nhũ hoa trong tuổi 35-39.
Ung thư
cổ tử cung: khám tử cung và làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung
(Pap Smear) mỗi năm.
b-Tuổi
40 trở lên
Ung thư
nhũ hoa và cổ tử cung: như trên.
Ðàn
ông
a-Tuổi
15 trở lên
Thiếu
niên cần tự khám ngọc hành mỗi tháng vì từ tuổi 15 tới 34 là
thời gian có nhiều nguy cơ ung thư hai viên kim cương qúy gíá
này.
b-Ðàn
ông trên 40 tuổi
Hàng
năm khám hậu môn để coi tình trạng lớn nhỏ của nhiếp tuyến. Nếu
cần làm thử nghiệm mức độ kháng nguyên nhiếp tuyến đặc biệt
trong máu Prostate Specific Antigen.
Nam Nữ
a-Tuổi
40-50
Khám
hậu môn mỗi năm để phát hiện ung thư trực tràng.
b-Tuổi
trên 50
Hàng
năm khám hậu môn và thử phân coi có lẫn máu.
Mỗi năm
năm làm nội soi trực tràng và ruột già một lần.
Giảm
thiểu nguy cơ bị ung thư
Nguyên
nhân gây ra ung thư còn nhiều còn nhiều bí ẩn cần xác định,
nhưng một số rủi ro gây ra ung thư có thể tránh được.
a-Hút
thuốc là là nguyên nhân chính của ung thư phổi; vậy thì không
nên hút thuốc. Thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong cho 30%
trường hợp ung thư phổi.
b-Tránh
tiếp cận với ánh nắng gay gắt để giảm thiểu nguy cơ bị ung thư
da;
c-Giảm
cân; ăn nhiều rau trái cây; giảm muối để giảm ung thư ruột.
d-Nếu
uống rượu thì uống vừa phải;
e-Theo
Hội Ung Thư Hoa Kỳ, “ăn uống đúng đắn, tăng hoạt động cơ thể và
đừng để mập phì là những phương thức tốt để giảm rủi ro ung
thư”.
Kết luận
Mặc dù
sự tiến bộ của y khoa học đã mang lại nhiều triển vọng tốt đẹp
trong việc phát hiện và phòng ngừa, nhưng ung thư vẫn còn là
bệnh chữa được nhưng tốn công tốn của. Và biến chứng của bệnh
cũng rất nhiều. Bệnh nhân chịu những đau đớn về thể chất và tinh
thần, với tổn thương trầm kha ở các bộ phận khác như tim, phổi,
thần kinh. Họ sẽ ăn mất ngon, ngủ không yên,gầy mòn, ói mửa,
kinh phong. Giai đoạn cuối của bệnh là lúc có nhiều khó khăn
nhất
Theo
bác sĩ Isadore Rosenfeld, giáo sư Trung Tâm Y Khoa Cornel, 35%
ung thư có liên hệ tới thực phẩm ăn uống, 30% gây ra do hút
thuốc lá, 4% do nghề nghiệp, 3% do tiêu thụ nhiều rượu, 2% do ô
nhiễm.
Cho nên
nếu áp dụng các phương thức phòng ngừa bệnh để tránh các khó
khăn này là điều tưởng như cũng nên làm vậy.
Bác sĩ
Nguyễn Ý Đức
Texas-Hoa Kỳ
Ý Kiến xin gửi về :
bsnguyenyduc@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |