|
Nhận được các mùi là một trong nhiều nhiệm vụ của
mũi, môt bộ phận nhòn nhọn có hai lỗ tròn tròn nằm nhô ra ở giữa
mặt.
Mũi có những hình dạng kích thước khác nhau. Có
người mũi dài (mũi lõ), có người mũi ngắn, mũi cao, mũi tẹt, mũi
thon dọc dừa, mũi sư tử, mũi cà chua, mũi khoặm, mũi nhòm mồm,
mũi hênh hếch, mũi ống khói, mũi hình con ếch...
Phần trên của mũi (sơn căn) liền với trán, phần
trước nhọn nhô lên cao là đỉnh mũi, hai bên là cánh mũi loe ra.
Phần từ trán đến đỉnh mũi là sống mũi, phía dưới là lỗ mũi trong
có nhiều sợi lông. Sâu vào trong là hai hốc mũi, cách nhau bằng
vách mũi.
Bề ngoài của mũi bè ra như cái ống loa, giúp cho
không khí ra vào dễ dàng. Mũi nằm ngay trên miệng, rất thuận
tiện cho việc ngửi mùi và nếm vị của hai giác quan anh em khứu
giác và vị giác.
Trong hai lỗ mũi là một lớp niêm mạc có rất nhiều
mạch máu, giúp cho không khí ấm lại trước khi vào phổi. Lỗ mũi
cũng có một hệ thống những sợi lông rất hữu hiệu để ngăn cản vi
khuẩn, vật lạ muốn xâm nhập cơ thể.
Mũi thông với mắt qua ống nước mắt, với tai qua
ống Eustache, với cuống họng và các xoang của xương mặt. Cuống
họng hay bị ngứa ngáy hắng giọng vì chất nhờn kích thích từ mũi
nhỏ xuống.
Niêm mạc trong mũi tiết ra mỗi ngày khoảng 1 lít
chất nhờn để tiêu diệt vi sinh vật âm mưu xâm nhập mũi, xuống
phổi. Lông mũi cũng đưa đẩy chất nhờn lẫn lộn vi sinh vật xuống
bao tử để dịch vị tiêu hủy. Khi vật lạ quấy rầy lỗ mũi, mũi sẽ
hắt hơi, để tống xuất chúng ra ngoài. Vì thế, nên thở bằng mũi
chứ không bằng mồm để miệng khỏi khô và tránh nuốt hít vật lạ...
Ðông y rất trân trọng vai trò của mũi và coi mũi
như hình ảnh thu nhỏ của các cơ quan, phủ tạng. Mỗi cơ quan có
một vị trí riêng trên mũi. Do đó, thay đổi của mũi cũng là chỉ
dấu báo hiệu rối loạn của cơ quan nội tạng. Phương pháp “tỵ châm
liệu pháp” áp dụng châm cứu vào những huyệt trên mũi có liên hệ
với ngũ tạng để trị bệnh..
Mũi là nơi có khá nhiều bệnh gây khó chịu cho con
người, như là dị ứng theo mùa, viêm mũi, nghẹt mũi, thịt dư
trong mũi, chẩy máu cam..
Ngoài nhiệm vụ hít thở không khí, mũi còn là hành
dinh của cơ quan khứu giác, ngửi những “hương gây mùi nhớ”,
những kỳ hoa dị thảo, những món ăn hấp dẫn, những mùi quen quen
của người yêu cũng như những xú uế, hơi độc môi trường...
Vùng khứu giác
Khứu giác là giác quan ít được nghiên cứu, tìm
hiểu, vì bộ phận chính của khả năng này vừa quá nhỏ lại nằm quá
cao trên mũi, khó nhìn thấy. Ngoài ra, ở loài người, khứu giác
là giác quan kém phát triển nhất trong tất cả các giác quan. So
với các động vật cấp thấp, khứu giác của con người còn thô sơ
hơn rất nhiều.
Vùng ngửi của mũi chỉ lớn bằng con tem thư, mầu
vàng, rất ẩm ướt và có nhiều chất nhờn béo. Vùng này nằm ở nóc
của mỗi ổ mũi, ngay sau khoảng cách giữa hai mắt và có chừng 100
triệu tế bào thần kinh để ngửi. Khứu giác ở động vật cấp thấp
phát triển hơn ở con người, vì chúng cần ngửi để kiếm thực phẩm
cũng như để sớm phát giác hiểm nguy, địch thủ. Nghiên cứu cho
thấy sâu bọ và động vật phân biệt mùi thành thạo hơn con người
rất nhiều. Một bằng chứng là mấy cô chú “gâu gâu” được dùng để
khám phá buôn lậu bạch phiến...
Trên đầu tế bào ngửi có nhiều sợi lông nhô khỏi
lớp nhờn, tiếp xúc với không khí ra vào mũi và tiếp nhận mùi của
sự vật. Bình thường, chỉ một số lượng nhỏ không khí bay tới vùng
ngửi này. Cho nên, để sự ngửi chính xác hơn, như khi muốn khám
phá mùi thơm của ly rượu vang, hơi độc...ta hay khịt khịt đánh
hơi. Chính những sợi lông này tiếp nhận hương tỏa trong không
gian, kích thích tế bào ngửi và các tín hiệu được gửi về trung
tâm ngửi ở vùng vỏ não thái dương để phân tích, tổng hợp thành
mùi của sự vật. Khoảng cách từ vùng ngửi lên não rất ngắn, nên
mùi của sự vật được nhận ra tức thì.
Tế bào ngửi có những thụ thể với hình dạng, kích
thước khác nhau để chỉ tiếp nhận một loại mùi riêng rẽ. Vùng
ngửi còn có một số tuyến Bowman tiết ra chất nhờn để hòa tan vật
thể.
Năm 2004, hai khoa học gia người Mỹ Linda B.Buck
và Richard Axel đã lãnh giải thưởng y hoc Nobel nhờ kết quả
nghiên cứu của họ về các thụ thể mùi của mũi. Theo các vị này,
vùng khứu giác của mũi có khoảng 1000 gen khác nhau nằm trong
các tế bào cảm thụ khứu giác. Mỗi thụ thể chỉ phân tích, tiếp
nhận một số mùi nhất định. Tín hiệu điện từ thụ thể khứu giác sẽ
được chuyển về não bộ để được xác định hương của sự vật.
Sự ngửi
Khứu giác là một giác quan hơi khó tính, đòi hỏi
sự vật một số điều kiện, để được ngửi, được thưởng thức hoặc
nhăn mặt lắc đầu. Sự vật đó phải:
-Dễ bay hơi trong không khí để có thể hít vào hai
lỗ mũi.
-Hòa tan nhè nhẹ trong nước để có thể vượt qua
lớp nhờn ở niêm mạc mũi mà tới gần thụ thể tế bào ngửi.
-Hòa tan trong chất béo để có thể hội nhập với
lông tế bào ngửi có cấu tạo chính là lipid.
-Không cần nhiều mà chỉ một số lượng rất rất nhỏ
của chất kích thích trong không khí là đủ để phân biệt mùi.
Ngoài ra, khứu giác còn có một số điểm đặc biệt
như sau:
-Khứu giác xuất hiện rất sớm sau khi trẻ sanh ra.
Khi đó, mắt bé mở rộng nhưng chưa nhìn rõ, bé kiếm ăn qua hít
ngửi mùi da quen thuộc tỏa ra từ cặp nhũ hoa thơm hơi sữa của
mẹ.
-Khả năng ngửi đi đôi với mỗi hơi thở. Khi hít
vào cũng là lúc mà mùi được đưa lên vùng khứu giác ở mũi. Mũi
tắc nghẹt là hết ngửi được mùi cũng như thiếu dưỡng khí cho cơ
thể.
-Cũng như thính giác, khứu giác nhậy cảm nhất là
vào khoảng từ 2 tới 3 giờ sáng.
-Phụ nữ có khứu giác nhậy bén hơn ở nam giới. Có
thể là do ảnh hưởng của hormon nữ hoặc vì quý bà thường hay dùng
mỹ phẩm, nước hoa hoặc để ý nhiều hơn tới các mùi trong môi
trường, bếp núc..
-Ánh nắng mặt trời làm nhạt đi mùi của đồ vật. Vì
thế, quần áo mốc meo có mùi hôi ẩm, nhưng sau khi phơi nắng, mùi
giảm đi rất nhiêu
-Ở nơi vô trọng lượng, sự vật không bay hơi. Ðây
là một trở ngại cho các phi hành gia, vì họ không cảm thấy hương
vị của thực phẩm và ăn không thấy ngon.
-Thường thường khả năng ngửi mạnh hơn khả năng
nếm rất nhiều. Hai giác quan này lại có liên hệ chặt chẽ với
nhau, nên thường thường ta ngửi mùi của sự vật nhiều hơn là nếm.
Chẳng hạn như khi bị nghẹt mũi, nhiều người thấy món ăn nhạt
nhẽo, vô vị vì mùi của thực phẩm không tới vùng khứu giác được.
-Nhiều người quen với mùi vẫn thường tiếp xúc nên
không để ý hoặc không ngửi thấy mùi đó. Nhưng sau một thời gian
xa cách, tiếp xúc trở lại thì sẽ nhận ra mùi đó ngay.
-Sở thích mùi tùy thuộc văn hóa, kimh nghiệm cá
nhân, cho nên mỗi người có ý kiến khác nhau về hương của sự vật.
Một vài sắc dân ưa mùi của một loại nước hoa, mỹ phẩm, nhưng
người khác lại bình phẩm, cho là khó ngửi...Nhiều người thích
thú với mùi “thui thúi” của sầu riêng, mùi “tanh tanh” của rau
diếp cá...thì cũng không ít người khác nhăn mặt, lắc đầu với các
mùi này. Nhưng sau khi thử, họ có thể quen đi và thích thú.
-Bình thường, mũi có thể ngửi được 4000 mùi khác
nhau. Với người rất nhậy cảm, cả 10,000 mùi có thể được mũi phân
biệt. Cái khó trong việc xác định số lượng này là người ngửi
không có đủ tên để gọi mùi mà mũi khám phá. Có người nhận ra một
mùi rất quen thuộc, nhưng không tả được đó là mùi gì.
-Nếu mầu có ba sắc chính là đỏ, vàng, xanh,
vị có 4 vị chính mặn, ngọt, chua, cay rõ ràng thì sự phân
loại của mùi chưa được hoàn hảo. Có khoa học gia chia mùi làm 7
thành phần chính: mùi hắc như long não (Camphoraceous), mùi xạ
hương (hương thơm do hạch của hươu xạ tiết ra) (musky), mùi thơm
của loài hoa (floaral), mùi cay bạc hà (pepperminty), mùi thanh
tao của ether (ethereal), mùi hăng cay (pungent) và mùi thối rữa
(putrid). Lại có khoa học gia nói có tới cả 50 chục mùi khác
nhau.
-Xúc vật tiết ra một mùi đặc biệt (pheromone) để
kích thích khêu gợi dục tính cũng như đê báo hiệu hiểm nguy. Có
nhà nghiên cứu cho hay con người cũng tiết ra những mùi khác
nhau như vậy. Vì thế dân gian ta có câu:
“Chim quyên ăn trái nhãn
lồng,
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi”
Và các huyền thoại về mùi thơm từ da của ái phi
họ Trần triều nhà Nguyễn, của Dương Quý Phi bên Trung Hoa, mùi
đặc biệt của Josephine, người tình của Napoleon vẫn được nhắc
nhở...
-Trên não, trung tâm ngửi nằm kế cận luống hải
-mã (hippocampus) của trí nhớ, hệ viền (limbic system) của cảm
xúc, nên một mùi quen thuộc có thể gợi lại nhiều hình ảnh xa
xưa, từ thuở thiếu thời, với nhiều cảm xúc vui buồn khác nhau.
Vì thế có người nhận xét rằng không có kỷ niệm ngắn hạn với
hương sắc mà mùi của thương yêu luôn luôn dài hạn, nhớ lâu. Và
cũng vì thế mà có người đã “xếp tàn y lại, để dành hơi” người
tình, lâu lâu dở ra hít hà, nghĩ tới nhau..
-Ở người tuổi cao, khả năng phân biệt mùi tương
đối còn tốt cho tới tuổi ngoài 65. Sau tuổi này, khứu giác có
thuyên giảm đôi chút, tùy người, tùy tình trạng sức khỏe tổng
quát và ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm lên tế bào ngửi. Vì
thế, thực phẩm trở nên hấp dẫn hơn với người tuổi thật cao, nếu
được pha thêm chút mầu cho đẹp mắt, chút gia vị cho đậm đà nụ
lưỡi ăn ngon.
-Mùi gợi ra ở con người những đáp ứng khác nhau:
mùi thơm của miếng thịt bò nướng làm chẩy nước miếng; hương thơm
của nước hoa rất gợi hứng tình...
-Ngửi đưa tới những cảm xúc, như sợ hãi khi ngửi
thấy mùi khí độc nguy hại
-Ngửi cũng có ích cho việc hành nghê y tế. Nghiên
cứu ở Anh cho hay, nếu các thầy thuốc đến gần bệnh nhân hơn một
chút thì sẽ ngửi được một vài mùi đặc biệt do bệnh phát ra,
chẳng hạn mùi táo thối của bệnh hoại thư, mùi bột mì của bệnh
nhân thương hàn, mùi hôi hôi từ nách...
-Mùi không cần thông ngôn, giải thích. Tác dụng
của nó tực tiếp, không méo mó, thay đổi bởi ngôn ngữ, suy tư.
Thơm là thơm, mà thúi là thúi, không nói trái ngược được. Ngoại
trừ, khi nịnh thần khen trung tiện của “xếp” mình có mùi thơm,
hoặc anh chàng o mèo tán tỉnh “Bông chi thơm lạ thơm lùng,
Thơm cây, thơm lá, người trồng cũng thơm”......
-Tác giả người Anh Rudyard Kipling (1865-1936) có
ý kiến là: “Khứu giác trung thực hơn thính thị giác để làm
tình yêu sâu sắc hơn ” Có lẽ vì thế nhiều người hôn nhau là
để tận hưởng mùi của nhau. Và khi chia tay, một số thổ dân đảo
Guinea ôm vai, hửi mùi từ đối tượng hoặc lấy tay sờ nách của
người kia, rồi lau lên áo của mình, như là để giữ mùi của nhau.
Ðôi khi, mũi cũng phát hiện ra mùi của văn
chương, chữ nghĩa, như châm biếm sau đây của Cao Bá Quát đối với
một hội thơ đương thời:
“Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An”...
Rối loạn khứu giác
1-Khứu giác có nhiều vai trò quan trọng như:
-Cho biết mùi của thực phẩm nước uống ta tiêu
thụ.
-Khứu giác báo hiệu có hiểm nghèo như khí đốt
thoát khỏi bình, thực phẩm hư thối.
-Giúp sự giao tế giữa con người tốt đẹp hơn
-Một vài nghề như đầu bếp, nhân viên cứu hỏa cần
có khả năng ngửi tốt.
Rối loạn về khứu giác thường ít gây ra ảnh hưởng trầm trọng cho
sức khỏe, cho nên các nghiên cứu về vấn đề này không nhiều. Hơn
nữa, vùng khứu giác nằm quá cao trên hốc mũi, gây ra khó khăn
cho sự quan sát, nghiên cứu.
2-Các rối loạn thường thấy là:
-Mất khứu giác (anosmia). Bệnh nhân hoàn toàn
không ngửi được một mùi nào
-Giảm khứu giác (hyposmia) bệnh nhân mất một phần
khả năng ngừi
-Tăng khứu giác (hyperosmia) với quá thính mũi,
ngửi được những mùi rất nhẹ.
-Khứu giác không chính xác (dysomia) với ngửi mùi
không thơm thành thơm hoặc ngược lại (parosmia) và ngửi mùi mà
không ai ngửi thấy (phantosmia).
Có người sinh ra đã không ngửi được với một vài
mùi nào đó (odor-blind)
3-Nguyên nhân gây ra rối loạn khứu giác:
Có nhiều nguyên nhân khác nhau:
a-Bệnh của mũi hoặc xoang mặt như thịt dư trong
lỗ mũi, viêm xoang mãn tính, dị ứng mũi, lệch vách ngăn mũi, vẹo
mũi, ..
b-Ðã bị nhiễm đường hô hấp trên như trong trường
hợp bệnh cảm cúm
c-Chấn thương não sọ là nguyên nhân thường thấy
trong bệnh mất khứu giác, đặc biệt là ở trẻ em. Vùng não ở thùy
trán và thùy chẩm (occipital) là nơi hay bị chấn thương và gây
ra hư hao cho dây thần kinh khứu giác, gián đoạn dẫn truyền tín
hiệu lên não bộ.
d-Rối loạn ngửi trong các bệnh thần kinh trung
ương như bệnh Alzheimer, bệnh kinh phong, bệnh Parkinson.
đ-Trong bệnh tâm thần phân liệt, người bệnh nói
ngửi mùi mà thực ra không có..
e-Khi mũi, miệng tiếp xúc thường xuyên với chất
độc hại
g--Một vài loại thuốc ( kháng sinh, hạ huyết
áp..), xạ trị liệu trên đầu và cổ hoặc hít nhiều khói thuốc lá,
lạm dụng thuốc xịt mũi cũng làm thay đổi khả năng khứu giác
h-Bẩm sinh Một số trẻ em sinh ra đã không ngửi
được mùi và bị điếc.
i-Người cao tuổi thường tự nhiên mất dần dần khả
năng ngửi, khiến cho họ không thấy thú vị ăn uống và bị thiếu
dinh dưỡng.
k-Không nguyên nhân.
Mất ngửi thường thường không kéo dài lâu và có
thể phục hồi sau khi điều trị các nguyên nhân gây bệnh.
4-Ðiều trị
Rối loạn khứu giác có thể trở lại bình thường sau
khi điều trị các nguyên nhân gây bệnh. Chẳng hạn như giải phẫu
cắt bỏ thịt dư trong mũi để khai thông tắc nghẹt;dùng kháng
sinh, thuốc chống dị ứng chữa viêm xoang, thuốc steroid uống
hoặc xịt mũi để chữa dị ứng mũi...Trường hợp chấn thương não,
bệnh nhân có thể ngửi trở lại sau khi chấn thương đã được giải
quyết ổn thỏa.
Trong nhà có người bị rối loạn khứu giác, nên:
-thay bếp gas bằng bếp điện;
-gắn thêm ổ báo động khói;
-ghi rõ ngày thực phẩm còn dùng được để tránh ăn
thực phẩm hư thồi;
-nhắc nhở người khứu giác kém dùng keo xịt tóc,
thuốc tẩy rửa, thuốc trừ sâu bọ... ở nơi thoáng khí để tránh hít
hơi hóa chất mà không biết.
Và thương yêu, hỗ trợ người kém may mắn này..
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Dallas-Texas
Ý Kiến xin gửi về :
bsnguyenyduc@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |