|
Sách Danh Từ Y Học Pháp -Việt của
bác sĩ Lê Khắc Quyến in năm 1962 tại Huế dịch Enzyme là
Men, Diếu-tố, Phân-hóa-tố. Chữ Diếu Tố đã được dùng trong môn
Vạn Vật Học từ trên nửa thế kỷ về trước, khi chương trình Trung
học được chuyển từ Pháp ngữ sang Việt ngữ. Ngày nay, nhiều người
thường dùng chữ phiên âm ENZYM để gọi các chất rất quan trọng
này đối với cơ thể.
Diếu Tố là gì?
Diếu tố là một loại chất đạm với
nhiều chuỗi acid amin liên kết với nhau.
Ðây là những chất hữu cơ hiện diện
trong mọi tế bào sống, từ thực vật tới động vật và có nhiều tác
dụng đối với cơ thể:
-Diếu tố gây ra nhiều phản ứng hóa
học thiết yếu cho sức khỏe và sự sống của mọi sinh vật.
-Diếu tố cần cho sự tiêu hóa thực
phẩm,
-Diếu tố có tác dụng kích thích vào
não bộ,
-Cung cấp năng lượng cho tế bào,
-Tu bổ các mô bào của mọi cơ quan bộ
phận...
Sự hiện diện và tác dụng của diếu-tố
đã được biết tới từ lâu.
Công trình nghiên cứu đầu tiên về
diếu tố là do hóa học gia Thụy Ðiển Jon Jakob Berzelius
thực hiện. Tới năm 1926, khoa học gia Hoa Kỳ James B. Summer
đã tạo ra diếu tố urease, nhờ đó ông đã được giải thưởng
Nobel vào năm 1947. Từ đó nhiều nghiên cứu kế tiếp đã
tìm ra cả vài ba ngàn loại diếu-tố khác.
Trước đây, tên của người tìm ra diếu
tố được dùng để gọi diếu tố đó hoặc một số diếu-tố khám phá ra
lúc đầu được đặt tên riêng như trypsin, pepsin. Sau đó,
đa số các enzym đều tận cùng bằng tiếp ngữ “ase”
như lipase, lactase...
Một số diếu tố có thể tác động một
mình. Một số khác cần một chất hỗ trợ hữu cơ hoặc vô cơ mới
hành động được. Các phân tử hỗ trợ này gọi là coenzym, thí dụ
coenzym Q10, coenzym-A...
Ðặc tính của Diếu -tố
Diếu-tố có một số đặc tính như sau:
a-Là những chất hữu cơ do tế bào sản
xuất. Thực phẩm, dù là từ thực vật hay động vật, đều có diếu-tố.
b-Là một thành phần để duy trì sự
liên tục của môi trường. Ðược tạo ra từ các hệ thống sinh học,
diếu tố lại trở về với thiên nhiên sau khi bị phân hóa.
c-Có tác động như một chất xúc tác (catalytic),
có nghĩa là tham dự vào một phản ứng sinh hóa học mà không bị
thay đổi, phân hủy.
d-Có khả năng làm tách rời hoặc liên
kết các phần tử cấu tạo của cơ chất.
e-Mỗi diếu tố có trách nhiệm riêng
biệt và không thể thay thế cho nhau. Nếu thiếu một diếu-tố nào
đó thì cơ thể sẽ gặp nhiều khó khăn.
g-Có tính cách đặc hiệu: mỗi diếu-tố
chỉ có tác dụng vào một cơ-chất (substrate). Ðây là điểm khác
biệt căn bản giữa diếu-tố với các chất xúc tác vô cơ như acít,
kiềm, muối khoáng... Các chất sau này có tác dụng lên nhiều
cơ-chất khác nhau.
h- Với một lượng rất ít, diếu tố có
thể thúc đẩy sự chuyển hóa của một lượng cơ chất khá lớn;
i-Dưới tác dụng của diếu-tố, sự
chuyển hóa có thể hoàn tất trong giây phút, trong khi không có
chúng, phải cần thời gian lâu gấp bội.
k-Diếu-tố cần có một nhiệt độ thích
hợp để gây ra phản ứng sinh hóa học. Nhiệt độ cao hủy hoại đa số
các diếu-tố.
l-Diếu-tố cũng cần một môi trường
acid-kiềm vừa phải và một lượng nước đầy đủ để có thể tác động.
Tất cả thực phẩm mà con người tiêu
thụ đều trở thành vô dụng, đôi khi độc hại, nếu không có diếu tố
phân hóa ra thành từng đơn vị nhỏ để có thể hấp thụ vào máu.
Dưới tác dụng của diếu tố, một
miếng thịt bò ăn vào có thể được tiêu hóa sau vài giờ, trong khi
phải ninh nấu suốt ngày với một dung dịch acid để biến thịt
thành những phân tử acid amine...
Ngoài tác dụng phân hóa, diếu tố còn
có khả năng tạo ra các cơ chất mới. Thí dụ, với các acid amin từ
thịt bò lưu thông trong dòng máu, diếu tố có thể tạo ra các tế
bào cơ bắp của cơ thể.
Một số diếu tố có khả năng oxy hóa,
sản xuất năng lượng. Từ những phần tử thực phẩm và qua một số
phản ứng hóa học, diếu tố tạo ra một chất vô cùng quý giá là
adenosine triphoaphate (ATP). ATP là một kho cung cấp và dự trữ
năng lượng bất tận cho các tế bào thịt. Mỗi khi trái tim co bóp,
cặp mắt nhắm mở... đều được ATP cung cấp năng lượng để hành động
Phân loại diếu-tố:
Có ba loại diếu-tố chính là:
a-Diếu-tố tiêu hóa.
Có hơn hai mươi enzym tiêu hóa với
bốn nhóm chính: amylase để tiêu hóa tinh bột đường; lipase
tiêu hóa mỡ, protease tiêu hóa chất đạm và cellulase.
Ba diêu tố đầu do cơ thể sản xuất, còn cellulase do thực
vật cung cấp.
Amylase
có ba loại phụ là lactase để phân hóa đường lactose,
sucrase phân hóa đường tinh chế sucrose, và
maltase để tiêu hóa đường maltose.
Cellulase
nằm lẫn trong chất xơ của thực phẩn, cần được nhai nhuyễn mới
được thoát ra.
Các diếu- tố này chuyển đổi thực
phẩm thành những phần tử nhỏ hơn để cho cơ thề dùng. Thực phẩm
ăn vào sẽ trở thành vô dụng, nếu không có enzym để được
chuyển hóa.
b-Diếu-tố thực phẩm
Ðây là các enzym có trong
trái cây còn xanh như đu đủ, trái dứa, soài, chuối, trái bơ...
hoặc thực phẩm chưa nấu chín. Các diếu tố này khởi sự việc tiêu
hóa thực phẩm ngay ở miệng và phần trên của bao tử. Ðó là các
diếu-tố protease để tiêu hóa chất đạm, amylase để
tiêu hóa tinh bột và lipase để tiêu hóa chất béo.
Diếu-tố thực phẩm giúp sự chuyển hóa
thức ăn được dễ dàng và giảm thiểu việc sản xuất enzym từ cơ
thể.
Trái cây hái lúc còn non xanh, để ít
ngày sẽ chín là nhờ có các diếu tố có sẵn trong trái cây.
Nhiệt độ cao thường hủy hoại diêu
tố. Do đó thực phẩm tươi có một số lợi điểm cho cơ thể mà món ăn
nấu chín không có. Vì vậy, có nhiều người chủ trương ăn thực
phẩm tươi để tránh bệnh tật.
c-Diếu-tố chuyển hóa
Chuyển hóa (metabolism) là các sự thay đổi sinh
hóa trong cơ thể để giúp cho con người tăng trưởng và hoạt động.
Chuyển hóa gồm có sự phân tách các thành phần tử
hữu cơ phức tạp trong cơ thể và sự tạo ra năng lượng cần thiết
cho nhiệm vụ của các cơ quan. Enzym mở đường cho sự chuyển hóa
này. Không có enzym, tế bào sẽ bị tê liệt.
Các enzym chuyển hóa là nhóm nhiều
nhất trong số các loại diếu tố và giữ vai trò quan trọng trong
sự hô hấp, di chuyển, suy nghĩ, hành vi, phát âm cũng như duy
trì sự hữu hiệu của hệ miễn dịch.
Một số enzym chuyển hóa cũng có thể
vô hiệu hóa các hóa chất độc gây ra thư ung, hoặc do ô nhiễm môi
trường...
Diếu-tố và sự Tiêu Hóa Thực Phẩm
Thực phẩm chính của con người gồm có
chất đạm, chất béo và tinh bột đường. Các chất này chỉ được tế
bào sử dụng sau khi được chuyển thành các phần tử nhỏ hơn dưới
tác dụng của các diếu tố.
1-Tiêu hóa chất tinh bột
Tinh bột chiếm 60% trong phần ăn của
mỗi người và là nguồn cung cấp năng lượng chính của cơ thể. Tinh
bột có trong các loại ngũ cốc và rau trái cây. Một gram tinh
bột cho 4 Kcalo.
Sự tiêu hóa tinh bột bắt đầu ở
miệng. Nước miếng có diếu-tố amylase. Amylase biến đổi tinh bột
thành những phân tử đường maltose. Vì thế khi nhai lâu một miếng
cơm, ta thấy ngọt ngọt trong miệng.
Một chi tiết đáng kể là nước miếng
của chó và mèo không có amylase như trong nước miếng của con
người.
Xuống tới bao tử thì tác dụng của
amylase trong nước miếng ngưng lại vì bị chất acid trong bao
tửvô hiệu hóa.
Sự tiêu hóa tinh bột tiếp tục ở ruột
non nhờ tác dụng của diếu-tố amylase tiết ra từ tuyến tụy. Các
loại đường glucose, fructose, lactose, maltose được thành hình
và sẵn sàng để tế bào sử dụng.
Ðể có thể dùng các loại đường này,
cơ thể cũng phải có các diếu tố riêng cho từng loại đường như
sucrase cho dường sucrose, lactase cho lactose, maltase cho
maltose.
Một thí dụ là có nhiều người thiếu
hoặc không có diếu-tố lactsase để tiêu hóa đường lactose trong
sữa. Ðường sẽ không được hấp thụ, chuyển xuống ruột già và hút
nước ở ruột. Ðồng thời các vi khuẩn trong ruột sẽ làm sữa lên
men, tạo ra nhiều hơi.. Ðó là chứng bất dung (intolerance) với
sữa chứ không phải là dị ứng. Ta sẽ bị ngâm ngẩm đau bụng, đầy
hơi, ấm ách bụng và tiêu chẩy.
Một điểm cần lưu ý là uống sữa ít
chất béo (skim milk) lại hay bị chứng này nhiều hơn là uống sữa
có chất béo.
Uống sữa với thực phẩm khác, chia
sữa ra làm nhiều phân lượng nhỏ hoặc khi dùng các sản phẩm của
sữa như pho mát thì không sao cả.
Trên thị trường có bán sữa không có
lactose hoặc có thể mua men lactase để dùng khi uống sữa.
2-Tiêu hóa chất béo.
Chất béo gồm có mỡ động vật và chất
béo của thực vật. Ðây là nguồn cung cấp năng lượng rất lớn cho
cơ thể. Một gram chất béo cho 9Kcalo.
Ðể tiêu hóa chất béo, cần có diếu-tố
lipase do bao tử, tụy tạng, ruột và phần cuối của thực quản sản
xuất. Sự tiêu hóa bắt đầu ở bao tử nhưng tới 99% là ở ruột non
dưới tác dụng của lipase tụy tạng. Trước đó, chất béo đã được
các muối mật từ gan biến thành chất béo nhũ hóa để lipase dể
dàng hành động.
Thiếu lipase sẽ đưa tới kém hấp thụ
chất béo trong cơ thể. Chất béo theo phân ra ngoài. Phân có mầu
tái, trơn láng, có mùi rất hôi và dính vào cầu tiêu.
3-Tiêu hóa chất đạm.
Ða số thực phẩm đạm đều do thịt cá
và rau trái cây cung cấp. Chất đạm là thành phần nòng cốt của
các tế bào cấu tạo cơ thể và cũng là nguồn năng lượng quan
trong. Một gram chất đạm cung cấp 4 Kcalo.
Bao tử và phần trên của ruột non là
các địa điểm chính để tiêu hóa thực phẩm này.
Bao tử tiết ra diếu-tố pepsin. Với
sự hỗ trợ của acid hydrochloric ở bao tử, pepsin phân hóa chất
đạm thành các phân tử nhỏ hơn.
Xuống tới ruột non thì chất đạm lại
được các emzym trypsin, chymotrypsin từ tụy tạng tiêu hóa tiếp.
Ruột non cũng tiết ra diếu-tố peptidases để hoàn tất sự chuyển
hóa chất đạm thành ra các acid amine. Cơ thể chỉ hấp thụ được
các acid amine này mà thôi.
Một số bệnh do thiếu diếu tố
Nhiều người sinh ra đã thiếu một vài
loại diếu tố vì thay đổi gen di truyền. Hiện nay, có khoảng gần
50 bệnh gây ra do thiếu enzym. Sau đây là vài bệnh thường gặp:
1. Bệnh bạch tạng (Albinism) vì
thiếu diếu tố tyrosinase. Diếu tố này giúp cơ thể tạo ra chất
mầu melanin trên da. Người bạch tạng có tóc trắng, da và mắt mầu
hồng. Mầu hồng là do mạch máu ở dưới da. Bình thường các mạch
máu này được sắc tố che phủ. Bệnh nhân rất dễ bị cháy da hoặc
ung thư da nếu tiếp xúc lâu dài với tia nắng.
Không có thuốc đặc trị cho bệnh bạch
tạng.
2.Bệnh galactose -huyết (Galactosemia);
Khi sinh ra, cơ thể đã thiếu diếu tố galactose 1-phosphate
uridytransferase. Người bệnh không chuyển hóa đường
galactose ra glucose là dạng đường mà cơ thể cần. Galactose
sẽ.tích tụ trong máu.
Nếu không được điều trị, trẻ bị bệnh
sẽ không tăng trưởng, chậm phát triển trí tuệ.. Tuy nhiên, nếu
chế độ ăn uống không có đường galactose thì dứa trẻ vẫn phát
triển bình thường. Galactose có trong sữa, phó mát, trái cây và
rau.
3. Bệnh phenylketon -niệu (Phenylketonuria)
là một khuyết tật bẩm sinh về chuyển hóa chất đạm amino acid
phenylalamine ra chất tyrosin vì cơ thể thiếu diếu tố
phenylamine hydroxylase. Amino acid này sẽ tích tụ trong
máu, gây thương tích cho hệ thần kinh và đưa tới chậm phát triển
trí tuệ rất trầm trọng.
Ðứa trẻ sinh ra bình thường, nhưng
dấu hiệu bệnh xuất hiện dần dần trong mấy tháng, khi tiêu thụ
thực phẩm có phenylalamine. Dấu hiệu thường thấy là: trẻ trở nên
rất năng động, dáng điệu đi đứng bất bình thường, tính tình thay
đổi, da, tóc, mắt có mầu lợt hơn anh chị em, đôi khi có mùi hôi
toát ra từ cơ thể và trong nước tiểu.
Bệnh có thể điều trị bằng dược phẩm
và giới hạn tiêu thụ thực phẩm có chất đạm phenylalamine.
Diếu tố tổng hợp
Hiện nay có rất nhiều loại enzym
tổng hợp và được nhiều người dùng với mục đích phòng bệnh và trị
bệnh. Chẳng hạn như chymotrypsin, trypsin là diếu tố phân
hóa chất đạm lấy ra từ nước tiết tụy tạng con bò, papain từ
trái đu đủ xanh, Proteolytic enzym để chữa thương tích
gây ra do vận động cơ thể, bromelain từ trái dứa được
dùng để trị các bệnh do nấm gây ra, chống viêm sưng đau xương
khớp; loại bỏ cholesterol thành động mạch tránh stroke,
streptokinase để làm tan máu cục, hyaluronidase chích vào khớp
xương để khớp trơn ...
Các nhà sản xuất lý luận rằng với
sự gia tăng tiêu thụ thực phẩm nấu chín hoặc chế biến như hiện
nay thì cơ thể sẽ thiếu diếu tố, vì chúng bị nhiệt phân hủy.
Ngoài ra, khả năng cơ thể sản xuất diếu tố cũng giảm theo với
tuổi cao. Do đó người tiêu thụ được khuyên khích dùng bổ sung
enzym.
Ðể giới thiệu cho sản phẩm của mình,
một số các nhà sản xuất trình bầy rằng: “Enzyme đã loại trừ được
các bệnh cảm cúm, bệnh tim mạch, bệnh ung thư ở cả người lẫn xúc
vật; Enzymes đã chữa lành được các bệnh nan trị như bệnh herpes,
bệnh liệt kháng HIV; enzyme trị liệu đã được chứng minh công
dụng bởi cả ngàn nghiên cứu khoa học; rằng dù bị bệnh gì, cứ
việc dùng enzym là có kết quả như ý muốn....”
Cơ quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ coi
diếu tố như thực phẩm phụ chứ không phải là dược phẩm trị bệnh.
Cho nên nếu có ý định dùng thì nên hỏi ý kiến bác sĩ. Cũng cần
phân tích cẩn thận lời giới thiệu của nhà sản xuất để biết rõ
thành phần , cách dùng và tác dụng phụ ngoài ý muốn của enzym
đó.
Coenzyme Q10
Diếu tố là các phân tử chất đạm. Ðể
có tác dụng, diếu tố cần trợ giúp của một chất không phải là
đạm, như khoáng chất Mg, kẽm hoặc các sinh tố B6, B12. Các
chất này gọi là coenzym.
Coenzyme Q10
là một hợp chất có sẵn trong thực phẩm và cơ thể có thể sản xuất
bằng sự tổng hợp của nhiều acid amin. Coenzym Q10 còn có các tên
gọi khác là Ubiquinone, Vitamin Q10,
Q10, CoQ10, Ubidecarenone,
Coenzym Q10 có nhiều trong các tế
bào tim, gan, thận, tụy tạng...và số lượng trong cơ thể giảm dần
với tuổi cao.
CoQ10 được bác sĩ Frederick Crane,
Ðại học Wisconsin Hoa Kỳ lấy ra từ tế bào tim bò vào năm
1957. Tiến sĩ Peter Mitchell bên Anh đã được giải Nobel
hóa học vào năm 1976 do sự khám phá ra vai trò của coenzym này
trong việc tạo ra năng lượng ở tế bào
Kết quả một số nghiên cứu cho thấy
CoQ 10 có thể giúp tế bào tạo ra năng lượng, là chất chống oxy
hóa chống lại tác hại của các phần tử gốc tự do, tăng khả năng
ngừa bệnh của hệ thống miễn dịch của cơ thể...
Coenzym Q10 được bán trên thị
trường như một thực phẩm phụ với giới thiệu là có nhiều tác dụng
tốt trong việc điều trị một số bệnh như bệnh nha chu, bệnh tim,
cao huyết áp, bệnh Parkinson, bệnh thần kinh, bệnh do suy nhược
miễn dịch, bệnh ung thư...
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu khoa
học quy mô nào xác định tác dụng trị bệnh của Co Q10.
Kết luận
Bác sĩ Edward Howell, người thành
lập cơ sở đầu tiên ở Hoa Kỳ để sản xuất diếu-tố thực vật có nói
rằng: “Sẽ không có đời sống nếu không
có diếu tố”.
Ý kiến này phù hợp với kết quả các
nghiên cứu y khoa học về vai trò của diếu tố đối với cơ thể.
Vì vậy, để bảo vệ sức khỏe, duy trì
sự sống, mọi người nên tận dụng các diếu tố thiên nhiên có sẵn
trong thực phẩm.
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas-Hoa Kỳ
Ý Kiến xin gửi về :
bsnguyenyduc@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |