|
Giữa khuya, bà mẹ chợt thức giấc vì tiếng khóc
của cháu bé ở phòng bên. Bà vội vàng sang coi xem chuyện gì xảy
ra.
Ôm con vào lòng, bà thấy người cháu nóng hổi và
quần áo thấm ướt mồ hôi. Hoảng hốt, bà vội vàng đánh thức ông
chồng dậy bế cháu, và bà đi lấy lọ thuốc giảm sốt còn lại sau
khi cháu bị bệnh cách đây vài tháng.
Ðây là một phản ứng hầu như tự nhiên của nhiều bà
mẹ cũng như ở nhiều người khác khi thấy nhiệt độ cơ thể lên cao.
Vì cho là mình có thể mắc một bệnh nào đó, cho nên vội vàng uống
vài viên thuốc giảm sốt để chặn bệnh.
Các giới chức y khoa lại không nghĩ vậy, vì theo
họ, nhiệt độ cơ thể lên cao có thể vô hại, đôi khi còn có lợi
cho sức khỏe.
Theo bác sĩ Eugene Dubois: "Sốt chỉ là một triệu
chứng, có thể là một người bạn chứ không chắc là kẻ thù"
Trong tác phẩm "Fever, the Heat that Heals", tác
giả H.S. Benjamin viết: "Sức khỏe con người có thể tùy thuộc vào
một “bếp lò” gắn trong cơ thể để đốt cháy tất cả các vi sinh vật
gây bệnh".
Theo tác giả, sốt làm giảm sức mạnh của vi khuẩn
nhờ đó kháng thể dễ dàng tiêu diệt chúng. Và ông ta nhắn nhủ:
“Lần sau nếu bị sốt, xin cứ bình tĩnh nhớ rằng nhiệt độ cao
trong cơ thể sẽ bảo vệ ta và cứ thoải mái nẳm nghỉ trên giường
đừng lo ngại, mọi sự sẽ nhẹ nhàng trôi qua. Các tế bào bị vi
khuẩn gây thương tích sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể và được thay
thế bằng các tế bào lành mạnh”.
Đây cũng chỉ là một ý kiến trong nhiều ý kiến
khác.
Xin cùng tìm hiểu về hiện tượng “sốt” này.
Nhiệt độ cơ thể
Một trong những đặc tính của động vật có vú là
khả năng giữ nhiệt độ cơ thể ổn định, mặc dù có thay đổi trong
môi trường sinh sống.
Có nhiều nhận định khác nhau về nhiệt độ trung
bình của cơ thể. Với một số tác giả, 37°C (98.6°F) là bình
thường, nhưng nghiên cứu mới đây cho hay thân nhiệt trung bình
là 98.0°F hoặc thấp hơn.
Mỗi người có nhiệt độ trung bình khác nhau. Nhiệt
độ ở trẻ em hơi cao hơn người lớn, nam giới thấp hơn nữ giới một
chút.
Thân nhiệt thay đổi tùy theo thời gian trong
ngày, thấp nhất vào sáng sớm khi đang ngủ và cao nhất vào nửa
buổi chiều.
Vì vậy, thân nhiệt trung bình có thể du di giữa
36°C- 37.4°C (97°- 99.4°F).
Thân nhiệt tăng khi ăn uống tiêu hóa thực phẩm,
vận động cơ thể, cơ bắp co căng, có kinh nguyệt, có thai, khí
hậu nóng ấm, mặc nhiều quần áo, cảm xúc mạnh, run lạnh.
Nhiệt độ hơi giảm khi thời tiết giá lạnh.
Sự tăng giảm này đều có tính cách tạm thời, ngắn
hạn.
Thân nhiệt được Cấu-tạo-dưới-đồi (hypothalamus)
trong não bộ điều hòa, duy trì ở mức trung bình.
Hệ thần kinh luôn luôn chuyển tới cấu
tạo này tình trạng nóng lạnh ở các vùng khác nhau của cơ thể. Cơ
quan sẽ kích thích các phản ứng để tăng hoặc giảm nhiệt độ cơ
thể. Chẳng hạn tăng hoặc giảm máu ấm từ trung tâm cơ thể ra
ngoại vi mát lạnh; tăng hoặc giảm sự chuyển hóa thực phẩm ra
năng lượng; tăng bốc hơi qua đổ mồ hôi…
Khi thân nhiệt xuống thấp, bộ phận này sẽ ra lệnh
cho cơ thể làm một động tác nào đó, như co giựt, run run các bắp
thịt để tạo ra nhiệt. Ngược lại khi thân nhiệt cao, các tuyến mồ
hôi được não kích thích để ra nhiều mồ hôi và hạ nhiệt độ.
Đôi khi hypothalamus “tái phối trí” (reset) thân
nhiệt cao hơn để đáp ứng với bệnh tật, nhiễm khuẩn hoặc các
nguyên nhân khác. Theo các nhà nghiên cứu, nâng cao thân nhiệt
là một phương thức của cơ thể để chống cự và hủy diệt tác nhân
gây bệnh.
Cần lưu ý tới sự thay đổi nhiệt độ bình thường ở
người cao tuổi và trẻ thơ. Họ đều dễ dàng thất thoát nhiệt độ
khi tiếp xúc với khí hậu lạnh và đưa tới thiểu nhiệt
(hypothermia). Ở lớp tuổi này, nhiều khi dù đã bị nhiễm trùng mà
nhiệt độ chưa tăng, cho nên khi tìm ra bệnh thì quá trễ.
Ðo thân nhiệt
Nhiều người thường lấy bàn tay sờ lên trán coi có
nóng sốt hay không. Đây cũng là phương thức thực tế, nhưng không
chính xác. Do đó, nên dùng các loại nhiệt kế để đo nhiệt độ.
Mỗi phần của cơ thể có nhiệt độ khác nhau.
Miệng là nơi thường được dùng để đo nhiệt độ.
Nhiệt độ miệng giảm khi ăn uống món ăn lạnh hoặc khi bị kích
xúc; tăng khi ăn thực phẩm nóng, miệng nhai, hút thuốc lá hoặc
có nhiều nước miếng.
Có nhiều loại nhiệt kế khác nhau:
1-Nhiệt kế số (Digital thermometer) cho biết kết
quả rất chính xác và nhanh và có thể dùng để đo thân nhiệt ở
miệng, hậu môn, nách. Nhiệt kế có nhiều loại với kích thước,
hình dáng khác nhau và có thể mua ở tiệm thuốc tây hoặc siêu
thị.
Luôn luôn đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng.
2-Nhiệt kế điện đo nhiệt độ ở tai (Electric ear
thermometer) nhanh, chính xác, dễ dùng và hiện nay rất phổ biến.
Tuy nhiên, Hội Nhi Hoa Kỳ khuyên không nên dùng đối với các em
dưới 3 tháng vì lỗ tai các em nhỏ và kết quả không đúng lắm.
3-Nhiệt kế băng nhựa đặt trên trán, không chính
xác.
4-Nhiệt kế dưới hình thức núm vú (Pacifier
Thermometer), tiện lợi nhưng không chính xác.
5-Nhiệt kế thủy ngân (Glass mercury thermometer)
trước đây rất thông dụng, nhưng nay ít người dùng, nhất là ở trẻ
em, vì nhiều người e ngại nhiệt kế vỡ, thủy ngân vào miệng. Thực
ra thủy ngân trong nhiệt kế rất ít.
6-Nhiệt kế đo nhiệt độ tại động mạch trán
(temporal artery thermometer) được giới thiệu như chính xác bằng
lấy nhiệt độ ở hậu môn và chính xác hơn lấy nhiệt độ ở tai.
Ngoài ra, còn có dụng cụ đặc biệt đo nhiệt độ
từng vùng của cơ thể qua các tia phóng xạ phát ra từ da. Nơi nào
có tăng sự chuyển hóa và máu lưu thông thì nhiệt độ lên cao, như
trong trường hợp ung thư hoặc tế bào bị viêm sưng. Nơi ít máu
lưu thông như tắc mạch máu, nhiệt độ thấp. Phương pháp được áp
dụng để tìm kiếm các bệnh ung thư như ung thư vú, bệnh của mạch
máu ngoại vi, bệnh ngoài da...
Đo thân nhiệt dễ dàng, kết quả chính
xác, khách quan nên thường được dùng là một trong bốn dấu hiệu
quan trọng (vital signs) để ước định tình trạng bệnh tật. Ðó là
nhịp tim, hơi thở, huyết áp và nhiệt độ cơ thể.
Sốt là gì?
Sốt là khi nhiệt độ trong người cao
hơn mức trung bình.
Nhiều nhà chuyên môn đề nghị chính xác hơn: sốt
là khi nhiệt độ lên cao vì một bệnh nào đó chứ không phải vì các
lý do thông thường như sự tiêu hóa thực phẩm, khi có cảm xúc
mạnh, khi vận động cơ thể, có thai, có kinh nguyệt...
Cẩn thận hơn, có người thêm là nếu nhiệt độ cơ
thể lên quá 37.2°C kèm theo đổ mồ hôi, hơi thở nhanh, mạch máu
ngoài da giãn nở, đó là sốt.
Nhiệt độ bằng hoặc cao hơn 38°C
(100°F) khi đo ở hậu môn, hoặc cao hơn 37.5°C (100.4°F) khi đo ở
miệng là sốt.
Ở người bệnh, nhiệt độ được đo ba lần
trong ngày, được ghi lên một biểu đồ để giúp theo dõi bệnh
trạng. Một số bệnh có những cơn sốt đặc biệt, cho nên biểu đồ
nhiệt độ cũng giúp chẩn đoán bệnh. Chẳng hạn:
-Sốt định kỳ (relapsing fever) với vài ngày nhiệt
độ lên cao rồi vài ngày bình thường như trong bệnh sốt rét.
-Sốt lên xuống hai lần trong ngày ở bệnh viêm
khớp, thấp khớp.
-Sốt liên tục (Continuous fever) trong ngày như
viêm sưng phổi.
-Cơn sốt tăng giảm từng lúc (remittent fever) như
trong bệnh lao phổi với nhiệt độ buổi sáng cao hơn buổi chiều.
-Sốt từng hồi hoặc gián đoạn (intermittent fever)
Sốt diễn ra theo ba giai đoạn:
a-Cơ thể phản ứng với tác nhân gây
sốt bằng cách tăng bạch cầu, nhiệt độ lên cao, da lạnh, cơ thể
run rẩy, mạch máu ngoại vi co hẹp, lông tóc dựng đứng, da xanh
nhợt, khô.
b-Trong giai đoạn 2, nhiệt độ giữ ở
mức cao, cơ thể hết run
c-Sau đó, nhiệt độ giảm, mạch máu
ngoại vi giãn mở, đổ mồ hôi, da lạnh và trở lại mầu sắc bình
thường.
Sốt có thể ngắn hạn hoặc dài hạn. Ngắn hạn thường
là khoảng 2 tuần lễ, trong các trường hợp nhiễm vi khuẩn. Dài
hạn lâu hơn hai tuần lễ như trong trường hợp ung thư hoặc sốt
không rõ nguyên nhân (FUO).
Theo các khoa học gia, một cơn sốt
nhẹ làm tăng interferon, một chất thiên nhiên chống virus và ung
thư; tăng khả năng diệt vi khuẩn của bạch huyết cầu và lymphô
bào. Nhiệt độ cao cũng gây cản trở cho sự tăng sinh của vi
khuẩn.
Quan sát ở súc vật, người ta thấy khi một con
thằn lằn bị vi khuẩn xâm nhập, nó sẽ bò ra phơi mình ngoài nắng
để tăng nhiệt độ cơ thể.
Nguyên nhân gây sốt
Sốt có thể gây ra do các nguyên nhân
từ ngoài hoặc từ trong cơ thể
1-Nguyên nhân từ ngoài cơ thể:
-Nhiễm các loại vi khuẩn, virus, nấm,
ký sinh trùng.
-Dưới tác dụng của vài dược phẩm như
kháng sinh nhóm Penicillin, sulfonamid, thuốc chữa bệnh lao,
thuốc an thần loại barbiturates, thuốc chống kinh phong
phenytoin, thuốc sổ táo bón, chất interferon, các loại thuốc
kích thích (Ectasy, angel dust...)
-Tiêm vài chất đạm lạ đối với cơ thể
như các loại globulin trị bệnh uốn ván
-Truyền máu.
-Thời tiết oi ả, nóng bức, tiếp xúc
lâu với ánh nắng mặt trời.
2-Nguyên nhân từ cơ thể:
-Do sự hủy hoại tế bào sau thương
tích, thiếu dinh dưỡng, viêm sưng mô bào, bệnh của các mô liên
kết như thấp khớp, lupus ban đỏ SLE, thống phong, xuất huyết dạ
dày, thiểu máu các cơ quan (nhồi máu cơ tim, lá lách…)
-Phản ứng miễn dịch của cơ thể khi
vật lạ xâm nhập.
-Các trường hợp tế bào mới tăng sinh
bất thường như trong khối u ác tính hoặc lành tính. Nhiệt độ có
thể kéo dài cả tháng, đôi khi cả năm và là vấn đề nguy hiểm cần
để ý.
-Rối loạn chuyển hóa cấp tính như
trong cơn cường tuyến giáp, bệnh thống phong
-Tình trạng khô nước trong cơ thể.
-Có nhiều trường hợp sốt vì thay đổi
trực tiếp của trung tâm điều hòa thân nhiệt chứ không do tác
nhân gây sốt từ ngoài hoặc trong cơ thể. Chẳng hạn khi bị u
bướu, xuất huyết hoặc khối huyết não.
-Xúc động mạnh cũng làm thân nhiệt tạm thời lên
cao. Có nhiều trường hợp, khi mới nhập viện, nhiệt độ lên cao
trong vài ngày rồi giảm, vì người bệnh lo sợ bị bệnh nặng.
Một số loại sốt mang địa danh quốc gia như sốt
Dương Tử Giang với nhiễm Schistosoma japonicum, sốt xuất huyết
dịch Korea, sốt đảo Chypre do nhiễm khuẩn Brucella melitensis,
ban nhiệt Sao Paulo, sốt định kỳ Mỹ USA recurrent fever….
Biến chứng của nóng sốt
Ngoài triệu chứng của bệnh, sốt cũng
gây ra nhiều khó khăn cho cơ thể:
-Thay đổi ở hệ tuần hoàn, nhịp tim nhanh, huyết
áp tăng khi nhiệt độ lên cao. Tăng 1°C làm nhịp tim nhanh hơn từ
10 tới 15 lần, đôi khi cũng có nhịp lạc vị (extrasystole).
Các thay đổi này có thể gây ra do tác động của vi
khuẩn, độc chất. Khi hết sốt, huyết áp trở lại bình thường vì
nhịp tim chậm lại và sức cản tuần hoàn ngoại vi giảm.
-Vì đổ mồ hôi nhiều cho nên thể tích máu giảm đưa
tới khó khăn thêm cho các chức năng của hệ tuần hoàn. Tuy nhiên,
đổ mồ hôi là phản ứng tự nhiên và có ích của cơ thể để hạ thân
nhiệt.
-Thân nhiệt cao đưa đến tăng tiêu thụ oxy của các
tế bào.
-Sự tiêu hóa thực phẩm bị rối loạn. Dịch vị bao
tử ít tiết ra, hấp thụ thực phẩm giảm, nhu động ruột chậm lại,
bệnh nhân hay bị táo bón, ít nước miếng, miêng lưỡi viêm đỏ khô,
biếng ăn.
-Thay đổi thần kinh, tâm trạng đặc biệt là ở
người cao tuổi và trẻ em. Bệnh nhân mê sảng, nói năng lung tung
(delirium), kém suy luận.
Khi nhiệt độ lên tới 40ºC (104°F), trong người
cảm thấy khó chịu; tới 41ºC (106°F) thì chức năng của não bắt
đầu rối loạn, nếu lên tới 42º.2C (108°F) thì não bị tổn thương.
Trường hợp này ít khi xẩy ra ngoại trừ khi bị trúng nắng heat
stroke, viêm não, xuất huyết não.
-Lên cơn kinh phong, co giật cơ bắp, nhất là ở
trẻ em
-Nhức đầu vì giãn nở động mạch não
-Ớn lạnh (chill) đặc biệt khi máu bị nhiễm trùng
huyết (bacteremia)
-Trong một vài trường hợp, sốt có thể kích thích
các virus bệnh herpes simplex đang ngủ yên, bừng tỉnh, tái hoạt
động và gây bệnh.
-Giảm hồng cầu trong máu.
-Người đang có bệnh kinh niên, sốt làm bệnh trầm
trọng hơn.
-Sốt vừa phải tăng tính miễn dịch, tăng khả năng
thực bào, sự di chuyển của các bạch cầu đa nhân, tăng sản xuất
kháng thể, giảm sự tăng trưởng của vi khuẩn. Nhưng sốt quá cao
và kéo dài quá lâu lại làm suy nhược cơ chế miễn dịch.
Ðiều trị Sốt
Đa số các bác sĩ đều có chung ý kiến
là, để giảm sốt phải điều trị nguyên nhân gây ra sốt, chẳng hạn
như dùng kháng sinh với các bệnh do vi khuẩn gây ra.
Với trẻ em, theo Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ, sốt dưới
38.9°C (102°F) không cần điều trị, trừ khi các em cảm thấy khó
chịu hoặc đã bị kinh phong trong quá khứ.
Cần theo dõi tình trạng bệnh. Nếu em bé vẫn tỉnh
táo, tươi cười, da dẻ hồng hào, ăn uống, chơi đùa, ngủ nghỉ như
thường, thì không cần cho uống thuốc giảm nhiệt. Ngược lại khi
sốt cao và gây khó chịu cho bé, có thể cho uống thuốc hạ nhiệt
độ hoặc chườm lạnh.
a-Thuốc chống sốt
Thuốc giảm sốt đều rất công hiệu nhưng cũng có
nhiều tác dụng phụ và không nên dùng cho mọi loại sốt mà phải
căn cứ vào tùy trường hợp, đặc biệt là ở trẻ em. Sốt có thể có
vài ích lợi cho người bệnh. Theo nhiều nhà chuyên môn y học,
chữa sốt khi nào bệnh nhân cảm thấy khó chịu và để tránh kinh
phong, khô nước, rối loạn tuần hoàn, hô hấp.
Aspirin và acetaminophen là thuốc giảm sốt thường
dùng nhất. Tuy nhiên, aspirin không được dùng cho trẻ em dưới 18
tuổi hoặc khi bị nhiễm virus, để tránh Hội chứng Reye. H.C.Reye
là rối loạn trầm trọng, có thể chết người, thường ảnh hưởng tới
gan và tế bào não. Ngoài ra cũng có thể dùng Ibuprofen.
Theo ý kiến chung của y giới, acetaminophen vẫn
là thuốc an toàn và ưa thích hơn cả để trị nóng sốt.
Liều lượng phải căn cứ vào sức nặng cơ thể chứ
không theo tuổi. Nên hỏi bác sĩ hoặc đọc kỹ hướng dẫn trên chai
thuốc.
b-Chườm nước ấm.
Ðể em bé ngồi trong chậu nước ấm cao độ 4 phân.
Thấm nước ấm với một cái khăn, lau nhẹ lên thân mình và chân
tay. Nước sẽ làm nhiệt độ trong cơ thể giảm xuống qua sự bốc
hơi. Tiếp tục làm như vậy cho tới khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống
(khoảng nửa giờ).
Đừng chườm nước lạnh hoặc túi nước đá vì có thể
làm bệnh nhân run và tăng nhiệt độ. Không thoa dầu nóng hoặc cồn
để tránh ngấm qua da, gây ngộ độc.
c-Giữ nhiệt độ trong nhà mát dịu
d-Không nên mặc quá nhiều quần áo.
đ-Cho uống nhiều nước (nước lã hoặc nước trái
cây).
e-Ðể em bé chơi tự nhiên chứ đừng ép nằm trên
giường.
g-Ăn uống tùy theo sự chịu đựng của người bệnh,
nhưng không nhiều chất béo, khó tiêu hóa.
Thông báo cho bác sĩ nếu em bé dưới 3 tháng sốt
tới 38°C (100.4°F) hoặc em bé lớn hơn với nhiệt độ trên 40°C
(104°F), đồng thời không chịu ăn uống, bị tiêu chẩy, ói mửa, cơ
thể có dấu hiệu khô nước, kêu đau nhức cuống họng, tai…
Với người lớn, đối phó với sốt cũng tương tự như
ở trẻ em. Ðiều quan hệ là quan sát phản ứng của cơ thể đối với
sốt.
Nếu trong người thấy rất khó chịu, mệt mỏi thì
uống vài viên thuốc chống sốt rồi nghỉ ngơi, uống nhiều nước.
Giới hạn nước uống có caffeine vì chất này tăng nhiệt độ cơ thể
và chặn tác dụng hạ nhiệt của thuốc chống sốt.
Ở cả người lớn lẫn trẻ em, nên tới bác sĩ để khám
bệnh, chữa trị khi:
a-Sốt với nhức đầu, cứng cổ, mệt lả, mất định
hướng, lên cơn co giựt
b-Sốt trên 40ºC (104ºF) không thuyên giảm với
chăm sóc tại nhà
c-Sốt kéo dài quá ba ngày
d-Sốt vừa phải nhưng kéo dài cả hai ba tuần lễ.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ
Trở về Trang Chính |