|
Não là trung tâm điều khiển tất cả các chức năng
của cơ thể, từ những hoạt động nhìn thấy được như sự chớp mắt,
hắt hơi, đi đứng chạy nhẩy, ăn uống...tới những sinh hoạt vô
hình như mơ màng, mộng mị, suy
nghĩ, buồn rầu, chán nản...
Ðể hoàn tất các công việc này, trí não cần năng
lượng cung cấp từ thực phẩm và dưỡng khí có sẵn trong không gian
thiên nhiên.
Với trọng lượng bằng 1/50 sức nặng
của cơ thể, nhưng mỗi ngày não cần tới 400 Calori, tương đương
với 1/5 tổng số năng lượng mà người bình thường cần trong một
ngày.
Coi vậy thì sự dinh dưỡng có vai trò
quan trọng đối với cấu trúc và
các chức năng của não.
Về phương diện cấu trúc, tế bào não
gồm có chất đạm, nước và nhiều hóa chất khác.
Với chất đạm thực phẩm, tế bào não
sản xuất cả trăm hóa chất dẫn truyền thần kinh. Các chất dinh
dưỡng khác như chất béo, carbohydrat, sinh tố, khoáng chất và
nước cũng đều quan trọng.
Não không tích trữ oxy nên cần có sự
liên tục cung cấp từ mạch máu. Chỉ cần gián đoạn oxy khoảng mười
giây là con người đã bất tỉnh.
Mỗi phút, gần một lít máu có oxy và các chất dinh
dưỡng được đưa lên não.
Ăn uống lành mạnh, đầy đủ chất dinh
dưỡng sẽ bảo vệ và tăng cường sức mạnh trí não.
Chất dinh dưỡng nào cũng tốt, cũng cần thiết. Tuy
nhiên, như cổ nhân ta thường nói “ăn gì bổ nấy”, có một số chất
dinh đưỡng đặc biệt bổ dưỡng cho trí não, nhất là
về phương diện tinh thần.
Các nhà dinh dưỡng đề nghị ba nguyên
tắc để nuôi dưỡng não hợp lý:
-Giảm thiểu hoặc loại bỏ những chất
có hại cho não như transfatty acid, rượu, nicotin
-Tăng cường tiêu thụ các chất dinh
dưỡng thiết yếu cho não bằng cách ăn chung với nhau các thực
phẩm mà não cần.
-Cân bằng giữa ba chất dinh dưỡng
chính là carbohydrat, chất béo và chất đạm để não có thể làm
việc hữu hiệu ban ngày và nghỉ ngơi thoải mái ban đêm.
1-
Chất béo Omega-3.
Não bộ có 60% chất béo, đặc biệt là các acid béo
cần thiết. Trong số này, DHA là chất quan trọng nhất cho sự học
và cho trí nhớ.
Cá vẫn được coi như “thực phẩm của trí não” từ
nhiều ngàn năm. Cá có chất béo omega-3 với thành phần chính yếu
cho sự phát triển não bộ thai nhi là chất docosahexaenoic acid
(DHA). Chất này có trong máu của người mẹ và được nhau
(placenta) chuyển tới thai nhi.
Theo bác sĩ Russel L. Blaylock, tác giả sách dinh
dưỡng Health and Nuitrition Secrets, khi thai nhi nhận được
nhiều chất béo này thì hoạt động của não tốt hơn và khi lớn lên,
các em có chỉ số IQ cao hơn. Trong khi đó, các em nhận được ít
DHA có khó khăn trong sự học và khả nặng nhìn của mắt cũng kém.
Bác sĩ Ray Sahelia, tác giả sách Mind Boosters,
cho biết omega-3 có giá trị cao vì chúng cung cấp độ lỏng cho
màng tế bào và tăng sự liên lạc giữa các tế bào thần kinh.
Omega-3 cũng giảm sự kết tụ của tiểu cầu, do đó giảm rủi ro cơn
suy tim và tai biến não.
Theo Jean Carper, tác giả sách Miracle Cures:
“Không cung cấp đầy đủ chất béo đặc biệt mà màng tế bào não cần
sẽ đưa tới rối loạn về tâm tính, trí nhớ, sự tập trung và hành
vi”
Kết quả nghiên cứu công bố trong Archives of
Neurology tháng 11 năm 2006 cho hay người có lượng DHA cao trong
máu đều ít bị rối loạn nhận thức vì tuổi già tới 47%, so với
người có ít DHA.
Nghiên cứu mới nhất công bố trong Journal of
Neuroscience số tháng 4, 2007 cho hay ăn nhiều omega-3 có thể
giảm thiểu rủi ro bệnh Alzheimer ở tuổi già. Các nhà khoa học
của Ðại học California-Irvine nghiên cứu ba nhóm chuột. Nhóm
được nuôi dưỡng với omega-3 có ít một loại chất đạm được coi như
gây ra tổn thương cho tế bào não và đưa tới bệnh sa sút trí tuệ.
Dùng bao nhiêu cho vừa.
Chất béo omega- 3 có tự nhiên ở nhiều loại cá
nước lạnh như cá thu, cá hồi, cá trích, cá cơm, cá ngừ và trong
một số thực vật như dầu canola, đậu nành, hạt lành (flax
seed)...
Để được hưởng những ích lợi của dầu mỡ cá Omega
3, ta không cần phải tiêu thụ một lượng cá lớn như người Eskimo.
Theo các cuộc nghiên cứu kéo dài 20 năm ở Hòa Lan
thì chỉ cần ăn cá 2 lần trong một tuần lễ là đã giảm đến phân
nửa các vụ tai biến về tim mạch so với người không ăn một chút
cá nào.
Theo Giáo sư William E. Connor của Viện Khoa học
Sức Khỏe ở tiểu bang Oregon, mỗi tuần chỉ cần ăn chừng 180 gr cá
đã đủ để có được tác dụng phòng bệnh của Omega 3.
Tổ Chức Sức Khỏe ở Canada và Cơ quan Dinh Dưỡng ở
Anh khuyên mọi người nên ăn khoảng 0, 5% tổng số nhu cầu năng
lượng mỗi ngày dưới hình thức chất béo omega- 3.
Với những người không thích ăn cá thì omega-3
cũng có trong một vài thực phẩm gốc thực vật, như hạt lanh
(flaxseed), quả óc chó (walnut), hạt cây bồ đào (butternut), dầu
mầm lúa mì, rong biển, nhưng không được tốt bằng trong cá.
Omega-3 cũng được bán trên thị trường dưới dạng
viên. Theo kinh nghiệm của người đã dùng, chỉ cần một hoặc hai
viên mỗi ngày là đủ.
Ngoài ra, cần được sự hướng dẫn của bác sĩ để
phòng ngừa tác dụng phụ, dùng quá nhiều cũng như tương tác với
các dược phẩm khác. Sự an toàn, công hiệu, phân lượng của viên
dầu cá chưa được kiểm chứng, xác định và các nhà nghiên cứu đều
khuyên là không nên thay thế cá trong thực phẩm bằng dầu cá.
Dùng quá nhiều dầu cá, nhất là loại viên dầu, có
nguy cơ băng huyết trầm trọng vì tác dụng loãng máu của dầu;
nguy cơ khó chịu cơ quan tiêu hóa, thiếu hồng huyết cầu hoặc tai
biến động mạch não.
Những ai đang uống thuốc aspirin hoặc thuốc chống
đau nhức cũng nên cẩn thận khi dùng dầu cá vì thuốc và dầu cá
đều làm máu loãng. Bệnh nhân dùng thuốc suy tim nhóm Digitalis
cũng phải cẩn thận vì dầu cá có thể làm tăng tác dụng của các
thuốc này.
Cá càng lớn, lượng omega-3 càng nhiều. Nhưng cẩn
thận với cá sông lạch vì sợ bị ô nhiễm. Cá biển tương đối an
toàn hơn. Hóa chất độc thường tích tụ trong mỡ, nên dầu cá cô
đọng có thể nhiễm nhiều hóa chất này.
Cũng cần phân biệt dầu mỡ cá với dầu gan cá như
Dầu gan cá thu Cod-Liver oil, dầu gan cá mập. Các dầu này được
dùng trong việc trị bệnh từ thuở xa xưa, khi sinh tố D chưa được
khám phá.
2-
Ðường trái cây
Thực phẩm có nhiều loại đường như glucose,
dextrose, sucrose, fructose. Các đường này có tác động khác nhau
lên tế bào nói chung và não, nói riêng.
Ðường glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính
của não.
Mức độ chuyển vào máu nhanh hoặc chậm của đường
trong một loại thực phẩm nào đó gọi là chỉ số đường huyết
(glycemic index).
Thực phẩm có đường huyết cao sẽ kích thích tụy
tạng tiết ra nhiều insulin. Hậu quả là đường glucose trong máu
lên xuống rất nhanh và ảnh hưởng tới hành vi của con người.
Thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp không thúc
đẩy tụy tạng sản xuất nhiều insulin, cho nên đường huyết ổn định
hơn, giúp cho trí óc làm việc đều hòa.
Ðường fructose trong trái cây như trái táo, bưởi
chua (grapefruit), anh đào (cherries), cam, nho có chỉ số đường
huyết thấp đều tốt cho não. Trái cây còn có chất xơ có tác dụng
làm sự chuyển đường vào máu và các tế bào chậm hơn, do đó không
gây thay đổi đột ngột của đường huyết. Vì thế ăn nguyên trái có
nhiều lợi điểm hơn là uống nước vắt trái cây không còn bã tép.
Rau như các loại đậu nành, đậu lentil...có chỉ số
đường huyết thấp trong khi đó khoai tây, cà rốt lại có chỉ số
đường huyết cao hơn.
Kết quả nghiên cứu công bố trong American Journal
of Medicine số tháng 11 năm 2006 cho biết các tham dự viên uống
nước rau, trái cây vài lần trong một tuần lễ sẽ có ít rủi ro bị
sa sút trí tuệ tới 76% , so với những người chỉ uống dưới một ly
mỗi ngày.
Ngoài đường fructose, trong vỏ, da của rau trái
cây còn có chất tự nhiên polyphenol là chất rất tốt cho não để
bảo vệ trí tuệ.
3-Amino acid
Acid amin là đơn vị cấu tạo của chất đạm thực
phẩm,
Não bộ cần acid amin để chế tạo các chất dẫn
truyền thần kinh và cung cấp năng lượng.
Các chất dẫn truyền mang tín hiệu từ tế bào thần
kinh này sang tế bào thần kinh khác, giống như người giao liên,
truyền tin tức qua nhiều nhà kế tiếp. Nếu được nuôi dưỡng kỹ
càng, người giao liên sẽ làm việc hữu hiệu hơn.
Hai loại acid amin quan trọng cho trí não là
tryptophan và tyrosine.
Tryptophan là tiền thân của chất làm dịu thần
kinh serotonin. Cơ thể không tạo ra tryptophan được nên cần thực
phẩm cung cấp
Tyroxine cần để sản xuất các chất dẫn truyền hưng
phấn trí não là dopamine, epinephrine và norepinephrine. Cơ thể
tạo ra được tyroxine nếu trong thực phẩm không có đầy đủ.
Chất đạm có trong thịt động vật và trong các thực
phẩm thực vật. Nhu cầu của cơ thể với chất đạm thay đổi tùy theo
tuổi tác, giai đoạn tăng trưởng và hiện trạng cơ thể. Theo các
nhà dinh đưỡng, mỗi ngày cơ thể cần từ 45-50 gr chất đạm trong
các loại thực phẩm khác nhau.
4-
Chọn lựa chất béo tốt cho não
Chất béo cần thiết cho não bộ từ khi mới sanh cho
tới tuổi già.
Não tăng trưởng mạnh nhất trong năm đầu của đời
sống với kích thước gấp đôi vào lúc sinh nhật một năm tuổi. Chất
béo là thành phần quan trọng của màng tế bào não và các màng bao
bọc quanh sợi thần kinh. Do đó, cơ thể em bé cần nhiều chất béo
trong giai đoạn này. Và Tạo hóa đã đáp ứng nhu cầu đó bằng sữa
người mẹ có rất nhiều chất béo.
Khi lớn lên, não vẫn tiếp tục cần chất béo, nhưng
phải là loại không gây ảnh hưởng xấu cho cơ thể.
Chất béo có cả trong thực phẩm gốc động vật lẫn
thực vật và đều tốt cho não, nếu dùng ở mức độ vừa phải. Chất
béo gốc thực vật có lợi điểm là hầu như không có cholesterol,
một loại chất béo cần thiết nhưng nhiều quá sẽ gây ra ảnh hưởng
xấu.
5- Sinh tố, khoáng chất
Não cần hầu hết các loại sinh tố khoáng chất để
có thể hoàn thành các chức năng của mình.
-Sinh tố nhóm B có vai trò quan trọng để tránh sự
thoái hóa chức năng não bộ do tuổi già.
Kết quả nghiên cứu của đại học Harvard vào năm
2004 cho biết, phụ nữ ở tuổi trung niên ăn nhiều rau có lá mầu
xanh đều duy trì khả năng suy nghĩ tốt hơn cho tới tuổi thất
tuần, so với những người không ăn rau xanh. Rau lá xanh có nhiều
sinh tố B.
-Sinh tố B6 cần cho sự duy trì các chức năng bình
thường của não bộ, điều hòa sự sản xuất chất dẫn truyền thần
kinh kiểm soát sự ngủ nghỉ, cảm xúc. Sinh tố này có nhiều trong
thịt, cá, gan, quả hạch, đậu, chuối, trái bơ, lúa mì.
-Sinh tố B12 duy trì sự hoạt động của tế bào thần
kinh, cần thiết cho vỏ bọc các sợi thần kinh. B12 có nhiều trong
thịt bò, thịt gà, cá, lòng đỏ trứng, pho mát.
-Sinh tố C giúp não sản xuất chất dẫn truyền thần
kinh. Não cũng có một cơ chế để rút sinh tố C về não nhiều hơn
khi có nhu cầu.
-Folic acid dường như có ảnh hưởng tới chúc năng
dẫn truyền tín hiệu thần kinh, và khi thiếu làm tâm tình buồn
chán.
Folic có nhiều trong các loại rau lá mầu lục, hạt
đậu, cám lúa mì, thịt heo, thịt gà, tôm cá cua, sò hến.
-Calci cần thiết cho sự tiếp nhận, dẫn truyền các
tín hiệu thần kinh.
Calci có nhiều trong sữa, sữa chua, pho mát, cá,
tôm trứng, đậu nành, hạt ngũ cốc.
-Potassium cần cho sự dẫn truyền tín hiệu thần
kinh và có nhiều trong cam, chuối, khoai tây, trái cây khô, sữa.
-Sắt cần thiết cho sự lành mạnh của các tế bào
thần kinh và cho sự dẫn truyền tín hiệu. Thiếu sắt, con người
trở nên bẳn tính, kém linh lợi.
Sắt có nhiều trong gan, thận, thịt heo, thị bò,
gà, cá, rau cải có lá mầu lục.
-Selen là một chất chống oxy hóa giúp cơ thể ngăn
chặn ung thư, trì hoãn tiến trình lão hóa. Nhiều nghiên cứu cho
thấy thiếu selen có thể là rủi ro đưa tới hội chứng chậm phát
triển trí não (Down Syndrome).
Selen có nhiều trong cá, sò, hến, thịt động vật,
ngũ cốc, trứng, tỏi, gan động vật. Rau và trái cây có rất ít
selen.
6-
Nước rất cần thiết cho cơ thể nói chung và não
bộ nói riêng. Mỗi ngày nên tiêu thụ ít nhất năm ly nước.
7-Thời gian ăn
Nhiều nghiên cứu cho hay, khi nào ăn cũng có ảnh
hưởng tới trí não.
Bỏ một bữa ăn hoặc ăn uống thất thường có thể có
ảnh hưởng ngắn hạn tới các chức năng của não. Khi não thiếu các
chất dinh dưỡng và năng lượng trong một thời gian ngắn, các chức
năng như trí nhớ, sự tập trung và ngay cả tính tình cũng thay
đổi. Kinh nghiệm cá nhân nhiều người cũng thấy như vậy. Khi bụng
đói thì khó mà tập trung làm việc, đầu óc mung lung choáng váng.
Do đó, để não làm việc tối đa, nên ăn đều đặn vào
cùng thời điểm mỗi ngày.
Ðồng thời, giữa các bữa ăn chính, nên ăn xen kẽ
một chút thực phẩm nhẹ như một miếng trái cây, một nắm hạt ngũ
cốc để liên tục cung cấp năng lượng cho trí não.
Nói tới đây, cũng xin nhấn mạnh ở bữa ăn sáng. Có
nhiều bằng chứng cho thấy điểm tâm có thể là bữa ăn quan trọng
nhất trong ngày cho não bộ. Nghiên cứu cho thấy, các sinh viên
học sinh ăn uống đầy đủ buổi sáng đều tập trung học hành tốt, có
điểm cao khi thi trắc nghiệm, có nhiều sáng kiến, nhớ lâu và đi
học đều đặn hơn.
Bữa ăn sáng khởi động sự chuyển hóa căn bản và
các chức năng của não để bắt đầu cho một ngày mới.
Nên điểm tâm với thực phẩm mang nhiều sức mạnh
cho trí não như thực phẩm có nhiều chất dinh dưỡng và chất xơ
như trái cây, các loại hạt còn vỏ và một ít chất đạm cần thiết.
8- Sức nặng của cơ thể
Kết quả nghiên cứu của đại học Thomas Jefferson ở
Philadelphia cho hay, mập phì có thể là rủi ro đưa tới sa sút
trí tuệ và bệnh Alzheimer.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chế độ dinh
dưỡng của dân chúng vùng Ðịa Trung Hải có thể phòng tránh được
bệnh sa sút trí tuệ tới 65%. Kết quả nghiên cứu đã được phổ biến
trên Archives of Neurology số tháng 12 năm 2006.
Chế độ dinh dưỡng này có nhiều rau, các loại hạt,
cá, trái cây, dầu ô liu, rất ít thịt động vật.
Dinh dưỡng như vậy cũng giảm thiểu rủi ro mắc các
bệnh tim mạch và vài loại ung thư.
Kết luận
Dinh dưỡng lành mạnh đều bảo vệ cơ thể không
những với các bệnh tim mạch, ung thư, tiểu đường mà còn bảo vệ
và tăng cường sức khỏe trí não.
Ăn uống với các chất dinh dưỡng cần thiết cho não
bộ có thể gia tăng các chức năng của trí não như sự suy nghĩ, sự
tập trung đồng thời cũng phòng tránh được sự suy sụp về nhận
thức gây ra do sự hóa già.
Nên tránh các thực phẩm không tốt cho não bộ như
rượu, các chất nhuộm mầu thực phẩm nhân tạo, nước uống quá nhiều
đường tinh chế, chất béo transfatty, nicotine thuốc lá, hạt ngũ
cốc không còn cám.
Ngoài ra, cũng nên thường xuyên dùng đến trí não
để tránh rủi ro bị sa sút trí tuệ.
Như là:
-
Kích thích tế bào não bằng các trò
chơi trí óc như tài bàn tổ tôm, mà chược, cờ tướng, ô chữ,
domino...
-
Luôn luôn giữ liên lạc giao tế với
bạn bè thân thuộc để tăng sự rung động tri thức, dồi dào tình
cảm
-
Vận động cơ thể đều đặn mỗi ngày để
tăng máu huyết lưu thông lên não.
Và đừng để cơ thể quá mập phì.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức
Texas-Hoa Kỳ
Trở về Trang Chính |