|
Nhân thể mới nói về sự an toàn khi dùng dược
phẩm, xin tìm hiểu thêm về liên hệ giữa hai thứ Phẩm: thực phẩm
và dược phẩm. Vì nếu thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của cơ thể
thì dược phẩm cũng có vai trò rất quan trọng cho cơ thể đó, nhất
là khi bịnh hoạn đau ốm cần điều trị bằng thuốc men.
Hai nhu cầu đều có dụng ý tốt, nhưng dùng chung
với nhau đôi khi sẽ có những hậu quả không hay. Ảnh hưởng này đã
được nghiên cứu rộng rãi, vì trong những thập niên vừa qua, việc
tiêu thụ dược phẩm gia tăng và tai nạn do trị liệu bằng các hóa
chất này cũng thường xẩy ra.
Dược phẩm là những hóa chất hoặc thảo
mộc được dùng để chữa dứt hoặc làm giảm các triệu chứng của
bệnh. Dược phẩm cũng được dùng để ngăn ngừa sự xuất hiện của một
số bệnh.
Trong cơ thể, dược phẩm được sử dụng qua ba giai
đoạn:
a-thuốc sẽ được hòa tan trong bộ máy tiêu hóa;
b-rồi được máu hấp thụ, chuyển vào
các tế bào; và
c-sẽ có những đáp ứng của cơ thể với tác dụng của
dược phẩm.
Dược phẩm được phân phối nhiều nhất vào các cơ
quan như tim, gan, thận, não bộ; một số nhỏ vào thịt, da, mỡ.
Dược phẩm có thể làm tăng hoặc giảm sự dinh
dưỡng. Ngược lại, tình trạng dinh dưỡng của người bệnh có thể
làm giảm tác dụng hoặc làm tăng độc tính của dược phẩm.
Thực phẩm có thể làm trì hoãn hoặc gây khó khăn
cho sự hấp thụ dược phẩm, làm sự chuyển hóa mau hoặc chậm, ngăn
chặn tác dụng của dược phẩm.
Ngược lại, dược phẩm có thể làm giảm khẩu vị, làm
thực phẩm trở nên khó tiêu, khó hấp thụ hoặc làm thất thoát sinh
tố, muối khoáng qua sự bài tiết phân và nước tiểu. Hậu quả là
tình trạng suy dinh dưỡng của cơ thể.
A- Tương tác của Dược Phẩm vào Dinh Dưỡng
1-Ảnh hưởng vào sự ăn uống.
Rất nhiều dược phẩm có thể làm giảm
khẩu vị, mất sự ngon miệng. Tác dụng này trở nên có ích khi ta
muốn giảm cân vì quá mập phì. Nhưng đối với nhiều người thì tác
dụng lại không tốt và đưa tới thiếu dinh dưỡng.
Sau đây là một số thuốc làm giảm sự ăn ngon:
Sulfasalazine trị bệnh thấp khớp; Colchicine chữa thống phong;
Diabenese chữa tiểu đường; thuốc hạ huyết áp Furosemide,
Hydralazine, Hydrochlorothiazide; thuốc trị suy tim Digitalis;
thuốc an thần Temazepam; thuốc trị kinh phong Tegretol. Đặc biệt
là các hóa chất trị ung thư khiến người bệnh buồn nôn, giảm vị
giác, thấy thức ăn không còn hấp dẫn.
Các thuốc làm giảm hoặc thay đổi vị giác thì rất
nhiều. Xin kể một vài thứ thường dùng: thuốc ngủ an thần
Meprobamate, Dalmane, Triazolam; thuốc trầm cảm Lithium; kinh
phong Phenytoin; kháng nấm Griseofulvin.
Thuốc làm tăng sự thèm ăn như Cyproheptadine (
Periactin) giúp ăn ngon hơn và tăng sức nặng cho cơ thể. Ngược
lại, thuốc Amphetamine lại làm giảm sự thèm ăn, nên được người
mập dùng để có eo.
Các thuốc vừa kể đều có tác dụng phụ nên cần được
dùng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.
2-Ảnh hưởng vào sự hấp thụ Thực Phẩm.
Hầu hết sự hấp thụ dược thực phẩm đều
diễn ra ở ruột non. Do đó, sự tương tác nếu có, sẽ là giảm khả
năng hấp thụ của màng niêm ruột và bao tử, giảm thời gian thực
phẩm nằm trong ruột.
Lấy một thí dụ là thuốc nhuận tràng
dầu khoáng chất (mineral oil). Thuốc này được bán tự do không
cần toa bác sĩ và nhiều người chúng ta thường dùng để thông đại
tiện. Sau khi uống, thuốc hòa lẫn với thực phẩm đã được tiêu
hóa, vào bao tử và ruột, làm lòng ruột trơn nhờn . Một số sinh
tố hòa tan trong chất béo như A,D,E,K có thể được hòa hợp vào
dầu thuốc, chạy khỏi ruột mà không được hấp thụ. Hậu quả là
thiếu sinh tố có thể xẩy ra nếu ta dùng dầu xổ này quá thường
xuyên.
Giảm hấp thụ thực phẩm cũng có thể do thuốc làm
giảm tác dụng của một vài diêu tố như là mật trong sự tiêu hóa
mỡ béo. Chất béo không được hấp thụ, thì các sinh tố hòa tan
trong mỡ sẽ mất đi. Thuốc hạ cholesterol trong máu và kháng sinh
neomycin đều ảnh hưởng tới mật và gây khó khăn cho sự tiêu hóa
cũng như hấp thụ chất béo.
Cimetidine chữa loét bao tử làm giảm
acid trong bộ máy tiêu hóa, đưa đến kém hấp thụ sinh tố B 12
bằng cách không cho sinh tố này tách ra khỏi thực phẩm.
Trường hợp thuốc chống đau nhức Aspirin và các
dược phẩm có chất chua acid cũng đáng nhớ. Các thuốc này làm hư
hao màng niêm bao tử và ruột khiến trở ngại sự hấp thụ thực phẩm
ở các bộ phận này, nhất là khoáng calcium và sắt.
Thuốc Neomycin thay đổi cấu trúc của niêm mạc làm
cho sự hấp thụ chất đạm, béo và các muối sodium, potassium bị
trở ngại. Nhưng may mắn là khi ngưng thuốc thì mọi sự trở lại
bình thường.
3-Ảnh hưởng tới sự chuyển hóa và phế thải thực
phẩm.
Sau khi hấp thu, chất dinh dưỡng sẽ
được chuyển hóa thành năng lượng và các phần tử căn bản để cấu
tạo tế bào.
Sự chuyển hóa chỉ xẩy ra dưới tác dụng của các
diêu tố (enzyme). Với số lượng rất nhỏ, diêu tố có thể thúc đẩy
một phản ứng sinh học mà không bị tiêu hao. Diêu tố được sản
xuất từ trong hoặc ngoài tế bào với sự hiện diện của vài phần tử
dinh dưỡng như sinh tố.
Một số dược phẩm ngăn chặn sự thành hình của diêu
tố bằng cách lấy đi vài hóa chất cần thiết cho việc sản xuất
diêu tố. Các thuốc Methrotrexate chữa ung thư máu, viêm thấp
khớp và thuốc Pyrimethamine chữa sốt rét ngã nước là hai loại
thuốc lấy đi folate acid trong DNA của diêu tố khiến nó vừa
không phân sinh vừa bị tiêu hủy.
Thực phẩm và dược phẩm có thể liên kết, tạo ra
một hợp chất mà cơ thể không dùng được. Thí dụ khi uống INH để
chữa hoặc ngừa bệnh lao, ta thường phải uống thêm sinh tố B 6 vì
INH kết hợp với Pyridoxine B 6 trong thực phẩm thành một hợp
chất mà cơ thể không dùng được. Các thuốc này được gọi là loại
chống sinh tố anti vitamins.
Một số dược phẩm làm tăng sự phế thải chất dinh
dưỡng. Thí dụ khi ta uống các thuốc lợi tiểu tiện thì thuốc cũng
làm thất thoát calcium, potassium, zinc theo nước tiểu và cơ thể
sẽ thiếu những khoáng này.
B-Ảnh hưởng của Thực phẩm vào Dược phẩm
1-Ảnh hưởng vào sự hấp thụ dược phẩm .
Hấp thụ dược phẩm là mang thuốc vào
mạch máu từ bao tử hoặc ruột vì đa số thuốc được uống dưới dạng
viên hoặc dung dịch. Sinh- hiện- hữu (bioavilability) là số
lượng thuốc sẵn sàng để có thể được hấp thụ vào máu sau khi uống
hoặc chích.
Sự hấp thụ tùy thuộc vào kích thước của các hạt
thuốc, lý hóa tính của thuốc, dạng thuốc và nồng độ thuốc.
Ngoài ra sự hấp thụ cũng chịu ảnh hưởng của mức độ acid/kiềm (
pH) của môi trường, sự co bóp của ruột, sự hiện diện của thức
ăn, khả năng hấp thụ của tế bào ruột và số lượng máu lưu thông ở
ruột.
Một số chất dinh dưỡng trong ruột có
thể làm giảm hoặc trì hoãn sự hấp thụ vài loại thuốc. Do đó
thuốc không đạt được mức độ tối thiểu trong máu để có hiệu quả.
Đôi khi sự hấp thụ chậm cũng kéo dài tác dụng của thuốc.
Như trường hợp của hầu hết thuốc kháng sinh, khi
uống chung với thức ăn thì tốc độ cũng như số lượng thuốc được
hấp thụ đều giảm. Vì thế, chỉ nên uống kháng sinh khi bao tử
không có thực phẩm, thí dụ hai giờ trước hoặc sau khi ăn.
Calcium trong thực phẩm ngăn sự hấp thụ thuốc
Tetracycline cho nên khi uống thuốc này thì không uống sữa có
nhiều calcium. Sữa cũng làm độ acid trong bao tử lên cao khiến
cho các viên thuốc bọc (enteric coated tablets) tan ra và làm
bao tử xót, do đó sự hấp thụ giảm đi rất nhiều.
Thuốc trị kinh phong Phenytoin sẽ bị giảm hấp thụ
nếu thực phẩm có nhiều chất đạm vì thuốc này sẽ bám chặt vào
chất đạm.
Thuốc nước thường ít bị ảnh hưởng của thực phẩm
vì nó không cần được làm hòa tan và có thể chuyển dễ dàng sang
máu.
Còn thực phẩm làm tăng sự hấp thụ của thuốc thì
phải kể tới trường hợp thuốc Griseofulvin. Thuốc này dùng để
chữa các bệnh về nấm ( fungal diseases). Khi dùng chung với thức
ăn nhất là có nhiều mỡ béo, thì sự hấp thụ của nó lại tăng lên
rất cao. Lý do là chất béo làm gan tăng sản
xuất mật. Thuốc hòa tan trong dầu mỡ cũng theo
mật để chuyển vào máu nhiều hơn.
Khi ăn no, thuốc nằm lâu trong bao tử, hòa tan
nhiều và được hấp thụ tốt hơn.
2-Làm giảm hiệu lực của thuốc.
Nếu là một thuốc có công hiệu rất mạnh, thì một
vài thực phẩm có thể làm giảm công dụng này và đưa tới hậu quả
không tốt cho bệnh nhân.
Một thí dụ là thuốc Warfarin (Coumadin) để chống
lại sự đóng cục của máu trong một vài bệnh. Tác dụng của
Coumadin tùy thuộc vào sự hiện diện của sinh tố K. Dược lực giảm
nếu người bệnh ăn thực phẩm có nhiều sinh tố K như gan, rau
xanh. Hậu quả là sự đóng cục của máu trở nên trầm trọng hơn.
Ngược lại, khi bệnh đang ổn định với một lượng Coumadin nào đó
mà bây giờ bệnh nhân giảm tiêu thụ thực phẩm có sinh tố K thì
tác dụng loãng máu của Coumadin sẽ gia tăng. Xin nhắc lại là
sinh tố K giúp máu đông đặc, không bị loãng và băng huyết.
3-Tăng và giảm độc tính của thuốc
Một vài chất dinh dưỡng có thể làm tăng độc tính
của thuốc.
Thí dụ thuốc chữa trầm cảm và cao huyết áp MAO (
monoamine oxidase). Khi uống thuốc này thì không được dùng thực
phẩm có chất Tyramine kẻo mà huyết áp sẽ vọt lên rất cao.
Tyramine có trong thực phẩm như pho mát, sữa
chua, chuối, dầu đậu nành, la de, rượu vang đặc biệt là tim động
vật.
Trái lại, vài chất dinh dưỡng lại làm giảm tác
dụng xấu của thuốc. Thí dụ, nếu uống thuốc trị nhiễm trùng
Nitrofurantoin lúc bụng đói thì thấy ruột cồn cào khó chịu, mà
uống chung với một ít sữa hoặc ăn một chút thực phẩm thì tránh
được khó chịu này.
4-Tác dụng trên sự chuyển hóa dược phẩm.
Chuyển hóa là sự thay đổi hóa chất của thuốc với
nhiều mục tiêu khác nhau: a)để phế thải sau khi thuốc được dùng;
b)với chuyển hóa, thuốc sẽ tăng hoặc mới có tác dụng và c)
chuyển hóa làm tăng dược tính của thuốc.
Sự chuyển hóa tùy thuộc phần lớn vào
số lượng các chất dinh dưỡng chính là chất đạm, chất béo và
carbohydrates. Đa số phản ứng chuyển hóa thuốc xẩy ra ở gan,
nhưng cũng có thể ở một số cơ quan khác.
Thuốc thường bám vào các chất dinh dưỡng. Phần
thuốc lưu hành tự do trong máu không bám vào thực phẩm mới có
công dụng trị bệnh. Chẳng hạn khi chất đạm albumin giảm vì suy
dinh dưỡng hay suy gan, thuốc không có chỗ bám, sẽ lưu hành
nhiều trong máu và dược tính của thuốc gia tăng. Thực phẩm nhiều
chất béo sẽ làm chất béo acit fatty acids trong máu gia tăng.
Fatty acids chiếm hết albumin, thuốc tự do có nhiều và tác dụng
thuốc mạnh hơn.
Nói chung, bất cứ chất gì có thể thay đổi tỷ lệ
bám/ không bám với dược phẩm đều có thể thay đổi dược lực.
Ngoài ra, sự chuyển hóa cũng tùy thuộc vào tốc độ
hấp thụ thuốc ở ruột chuyển sang gan; tùy theo tình trạng tốt
xấu các chức năng gan và tùy theo các bệnh của cơ thể cũng như
tình trạng dinh dưỡng.
5-Tác dụng trên sự phế thải của dược
phẩm.
Thuốc được thải theo nhiều đường dây: qua thận,
gan, hệ tiêu hóa và qua sữa mẹ. Các chất dinh dưỡng có ảnh hưởng
trên sự thải bỏ này bằng cách thay đổi độ acid của nước tiểu.
Thực phẩm làm nước tiểu kiềm sẽ tăng thải thuốc
có tính acid như phenobarbital; thực phẩm làm nước tiểu acid sẽ
tăng loại bỏ thuốc alkaline như amphetamine.Thực phẩm có nhiều
đạm sẽ tăng thải barbiturates, theophylline, phenytoin từ thận.
Thực phẩm có nhiều chất xơ tăng thải thuốc hòa tan trong chất
béo. Thiếu muối sodium sẽ tăng tái hấp thụ thuốc lithium làm
tăng độc tính thuốc này.
Rượu được xếp vào loại dược phẩm nhưng lại được
nhiều người uống như một thực phẩm. Khi dùng kinh niên, rượu có
thể tăng chuyển hóa thuốc, đưa đến giảm tác dụng của thuốc.
Ngược lại, khi uống nhiều mà chỉ uống một vài lần thì rượu lại
ngăn sự chuyển hóa thuốc, thuốc tăng công hiệu.
C-Giảm sự hấp thụ của cả thuốc và chất dinh dưỡng.
Một đôi khi, tương tác giữa thuốc và chất dinh
dưỡng đưa tới suy giảm hấp thụ của cả hai thứ phẩm vào máu.
Thí dụ kháng sinh Tetracycline là loại thuốc rất
thường dùng, có thể liên kết với các khoáng calcium, magnesium,
sắt thành ra hợp chất không hòa tan và không được hấp thụ. Thuốc
và chất dinh dưỡng bị phế thải hết. Thành ra, nên uống
tetracycline khi bụng đói. Mà khi bụng đói thì thuốc lại cồn cào
ruột. Muốn tránh, có thể uống một ly nước đầy.
Không nên uống sữa hoặc phó sản của sữa với
tetracycline, vì calcium trong các thực phẩm này và thuốc sẽ kết
hợp thành hợp chất không hòa tan và thuốc thành vô dụng.
D-Một số thuốc và thực phẩm gây tương tác.
Sau đây là một số thuốc và dược phẩm thường gây
tương tác.
1-Thuốc chống đau nhức. Nói chung các thuốc này
đều kích thích niêm mạc bao tử, vậy không nên dùng chung với
rượu hoặc nước trái cây mà có thể ăn một chút thực phẩm. Thuốc
chống đau thường dùng là Aspirin, Ibuprofen, Corticosteroids,
Indomethacin
2-Thuốc chữa cao huyết áp. Nên hạn chế muối để
thuốc công hiệu hơn.
3-Thuốc chống máu cục như Warfarin, Coumadin.
Không nên dùng nhiều thực phẩm có sinh tố K vì sinh tố này tạo
ra chất làm máu đông lại. Sinh tố K có trong rau spinach, khoai
tây, lòng đỏ trứng, dầu thảo mộc, cauliflower, bắp cải chồi (
brussel sprout).
4- Thuốc thông tiểu tiện như Lasix, Furosemide,
Esidrex, Hydrodiuril làm mất potassium nên thường phải dùng thêm
khoáng này. K có nhiều trong chuối, cam trái.
5- Thuốc chống dị ứng như Benadryl, Chlotrimeton,
Dimetane. Không dùng chung với rượu, vì cả hai loại đều làm tăng
ngất ngây, buồn ngủ, chậm phản ứng.
6-Thuốc suyễn làm mở cuống phổi như Theodur,
Aminophylline đều không nên dùng chung với thực phẩm nước uống
có nhiều caffeine, để tránh kích thích thần kinh.
7- Thuốc kháng sinh nhóm Penicillin như
Amoxicillin, Ampicillin, Penicillin G và V khi ăn no thường kém
hiệu nghiệm vì giảm hấp thụ. Sulfa khi dùng chung với rượu gây
ra buồn nôn; nên tránh uống kháng sinh tetracycline với sữa, sữa
chua, pho mát hoặc khi đang dùng thêm khoáng sắt , calcium
8- Thuốc ngủ hoặc thuốc trị bệnh tâm thần đều có
tương tác với rượu, gây ngây ngất, buồn ngủ, nên tránh dùng
chung. Đặc biệt thuốc trị trầm cảm Monoamine oxidase không được
dùng với thực phẩm có tyramine, vì huyết áp sẽ tăng rất cao.
Thực phẩm có nhiều tyramine là pho mát, súc cù là, gan gà và
heo, rượu vang.
9- Thuốc nhuận trường, mà đa số đều mua tự do
không cần toa bác sĩ, nếu dùng thường xuyên có thể làm mất sinh
tố và khoáng chất.
Kết luận.
Cả hai thứ thực phẩm và dược phẩm đều cần thiết
cho cơ thể nhưng đôi khi sự hòa lẫn hai thứ đưa tới vài khó
khăn.
Nguy cơ gây tương tác giữa thực phẩm và dược phẩm
tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe tổng quát của cơ thể, bệnh
hoạn kinh niên, chế độ kiêng khem, ăn uống, lạm dụng rượu, thuốc
gây ghiền, sử dụng nhiều loại dược phẩm.
Để tránh hậu quả tương tác, người bệnh cần thông
hiểu cái hay cái dở của thuốc; người thầy thuốc, nhân viên dược
phòng cũng dành thì giờ căn dặn, chỉ dẫn bệnh nhân cách dùng
thuốc.
Được như vây, thì ăn uống an toàn, thuốc men hiệu
quả, cuộc đời sẽ an lành hơn.
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas-Hoa Kỳ
(Trích từ sách Dinh Dưỡng và Thực Phẩm, đã xuất
bản)
Ý Kiến xin gửi về :
bsnguyenyduc@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |