|
Máu là một mô lỏng chứa nhiều chất khác nhau lưu
thông khắp cơ thể qua động mạch và tĩnh mạch rồi tới mô và các
cơ quan. Máu có rất nhiều tế bào lơ lửng trong một dung dịch gọi
là huyết tương. Mỗi người trưởng thành trung bình có 5 lít máu.
Hai nhiệm vụ chính của Máu là: a)hô hấp để lấy
dưỡng khí cho cơ thể, thải thán khí ra ngoài; và b)mang chất
dinh dưỡng từ hệ tiêu hóa tới tế bào.
Huyết tương chứa chất bổ dưỡng để nuôi cơ thể và
các yếu tố chống máu đóng cục.
Đa số tế bào trong máu được sản xuất từ tủy xương
và có nhiều nhóm với nhiệm vụ khác nhau:
-Hồng huyết cầu chứa huyết cầu tố để chuyên trở
dưỡng khí và thán khí.
-Bạch huyết cầu với nhiều loại và nhiệm vụ riêng
biệt như bạch cầu trung tính (neutrophils) chống xâm nhập của vi
khuẩn; lymphô bào (lymphocytes) tạo ra tính miễn dịch cho cơ
thể; bạch cầu đơn nhân và đại thực bào (monocytes, macrophages)
tiêu diệt vi khuẩn; tiểu cầu (platelet) tạo nút bít chỗ hở ở
mạch máu và khích động sự tạo máu cục để ngăn băng huyết.
Huyết tương có thể có nhiều chất béo, sẽ đưa tới
bệnh về mạch máu và bệnh về tim. Riêng về tế bào thì hồng huyết
cầu chịu nhiều ảnh hưởng của sự dinh dưỡng. Thiếu hoặc dư dinh
dưỡng đều gây ra nhiều rối loạn cho cả tế bào máu lẫn huyết
tương.
Thiếu máu (anemia) là một bệnh thường xẩy ra.
Thiếu Máu Dinh Dưỡng.
Thiếu máu là bệnh trong đó có sự giảm
về kích thước và số lượng của hồng huyết cầu hoặc giảm số lượng
huyết cầu tố trong hồng cầu. Hậu quả của thiếu máu là: a) giới
hạn sự trao đổi dưỡng khí và thán khí giữa máu và các tế bào cơ
thể và b) giảm dinh dưỡng cho các mô bào.
Có nhiều loại thiếu máu:
-Thiếu máu có liên hệ tới vấn đề dinh dưỡng như
thiếu sinh tố B12, Folic acid, khoáng chất Sắt.
-Thiếu máu không do dinh dưỡng như băng huyết,
các bệnh hủy hoại máu, trong bệnh ung thư bạch cầu, trong một số
bệnh nhiễm, do ký sinh trùng, tác dụng của dược phẩm, hóa chất,
bệnh bẩm sinh, bệnh kinh niên...
Theo tiêu chuẩn của Cơ Quan Y Tế Thế Giới, thiếu
máu xẩy ra khi lượng huyết cầu tố ở dưới 11 mg /100ml máu cho
trẻ em từ 6 tháng tới 6 tuổi; dưới 12 mg cho tuổi từ 6 đến 14;
nam giới 13 mg; nữ giới trưởng thành không có thai dưới 12 mg;
còn có thai thì dưới 11 mg.
Trẻ em và phụ nữ trong thời kỳ sanh đẻ thường hay
mắc bệnh thiếu máu liên hệ tới dinh dưỡng. Ở Việt Nam có tới 60%
trẻ em tuổi từ 6-24 tháng và 30-40% phụ nữ có thai bị thiếu máu
dinh dưỡng. Trong khi đó thì trên thế giới tỷ lệ dân chúng bị
thiếu máu dinh dưỡng cũng khá cao: 30%.
Thiếu máu Dinh Dưỡng đưa tới giảm khả năng làm
việc bằng chân tay; giảm phát triển trí tuệ và khả năng học hỏi,
tập trung của học sinh; tăng các rủi ro sanh non, tăng tử vong
của cả mẹ lẫn con; tăng xuất huyết và nhiễm trùng sau khi người
mẹ lâm bồn.
Xin tìm hiểu về ba bệnh Thiếu Máu Dinh Dưỡng
thường thấy.
1-Thiếu máu vì không đủ Sắt.
Thiếu sắt là hậu quả chính của kém dinh dưỡng.
Sắt là một khoáng chất có rất nhiều trong thực phẩm.
Mặc dù cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, vậy mà
thiếu khoáng này là chuyện thường xẩy ra trong vấn đề ăn uống và
đưa tới nhiều hậu quả đáng kể.
Sắt giúp huyết cầu tố chuyên trở
dưỡng khí đi nuôi tế bào vào giúp loại bỏ thán khí khỏi cơ thể.
Sắt cũng là một thành phần của nhiều diêu tố (enzyme) trong hệ
thống miễn dịch để chống nhiễm vi khuẩn. Sắt còn giúp chuyển hóa
beta-carotene thành sinh tố A, tạo ra chất collagene để liên kết
các tế bào với nhau. Cơ thể hấp thụ sắt nhiều hơn khi kho dự trữ
xuống thấp và ít hơn khi kho có đầy đủ.
Trong thực phẩm có hai loại sắt: heme iron có
nhiều trong thịt đỏ, thịt gà, cá; và nonheme iron có nhiều trong
thực vật và lòng đỏ trứng.
Heme iron được hấp thụ mau hơn và nhiều hơn là
nonheme iron. Nhưng khi ăn chung thực phẩm thực vật với thịt cá
hoặc dùng thêm sinh tố C thì sự hấp thụ nonheme iron khá hơn.
Thí dụ ăn sáng với trứng tráng mà có thêm thịt “ham” giúp hấp
thụ sắt; thịt gà giúp hấp thụ iron ở gạo ; thịt heo giúp hấp thụ
iron trong đậu, strawberry ở oatmeal. Gan bò có nhiều iron hơn
thịt bò, thịt gà, thịt heo, cá.
Trong thiếu máu vì không đủ sắt, hồng cầu thường
nhỏ và lượng huyết cầu tố cũng ít. Đây là bệnh thiếu dinh dưỡng
thông thường nhất trên thế giới và cũng là bệnh thiếu máu thường
thấy ở phụ nữ vào tuổi có thai và ở trẻ em. Bên Việt Nam, theo
Bộ Y Tế, lượng sắt trong thực phẩm của dân chúng chỉ có từ
30-40% nhu cầu nhất là ở nông thôn. Thiếu mắu do thiếu sắt là
điều thường thấy ở các vùng này. Vì thế, giới chức y tế nơi đấy
đã tăng cường khoáng Sắt trong nước mắm để chấn chỉnh tình trạng
thiếu máu vì dinh dưỡng. Nước mắm là món ăn hàng ngày của mọi
người.
Nhu cầu sắt.
Nhu cầu cao khi trẻ sanh thiếu tháng: 1mg sắt /
ngày. Trẻ sanh bình thường chỉ cần một phần ba số lượng đó. Tới
hai tuổi cần 1mg; tăng lên 2mg ở tuổi đang lớn để rồi trở lại
mức trung bình mỗi ngày là 1.2mg.
Phụ nữ trong tuổi sanh đẻ thì cần khoảng 2mg để
bù lại số sắt thất thoát vào mỗi kinh kỳ. Khi có thai, nhu cầu
tăng gấp đôi vào khoảng 6 tháng, gấp ba vào 9 tháng để cung ứng
đủ máu cho thai nhi và cho tử cung lớn rộng.
Nguyên nhân
Nguyên nhân đưa tới thiếu máu vì
thiếu sắt gồm có:
1-Không dùng đủ sắt vì phần ăn thiếu. Chẳng hạn
ăn nhiều thực phẩm thực vật, không có loại heme sắt.
2- Không hấp thụ được vì các bệnh tiêu hóa như
tiêu chẩy, không có acid trong bao tử, bệnh ruột, cắt bỏ bao tử,
dưới tác dụng của dược phẩm. Các thuốc chữa loét bao tử tagamet,
zantac, thuốc tetracycline giảm dịch vị acid trong bao tử.
3- Không sử dụng được sắt như trong trường hợp
mắc bệnh bao tử kinh niên.
4- Tăng nhu cầu sắt để tăng khối lượng máu như ở
tuổi đang tăng trưởng, có thai, nuôi con sữa mẹ.
5- Tăng thất thoát như băng huyết vì thương tích,
loét bao tử, bệnh trĩ, ung thư ruột, ký sinh trùng ruột, khi có
kinh nguyệt.
Triệu chứng
Bệnh nhân thường có một số triệu chứng như lơ
đễnh, chia trí, mệt mỏi, kém ăn, làm việc mau hụt hơi. Một triệu
chứng đặc biệt chưa có giải thích là bệnh nhân thích ăn những
món bất thường như đất sét, nước đá cục, mảnh vụn sơn tường. Ăn
như vậy có thể đưa tới tổn thương niêm mạc bao tử, ruột.
Ở giai đoạn trầm trọng, da bệnh nhân tái nhợt;
niêm mi mắt trắng lạt thay vì đỏ tươi; móng tay mỏng và phẳng;
lưỡi viêm chơn bóng như bôi sáp; bao tử không còn chất chua. Trẻ
em thiếu máu có thể chậm học hỏi, kém tăng trưởng.
Định bệnh
Thường thường, xét nghiệm kích thước, hình dáng
và mầu của hồng huyết cầu cũng cho ta khái niệm đại cương về
loại thiếu máu.
Để chính xác hơn, có thể đo lượng Ferritin trong
huyết tương để biết kho dự trữ sắt thiếu hay không; đo lượng
transferritin được chuyển cho hồng cầu; đo lượng free
erythrocyte protoporphyrin, một chất mà khi hợp với sắt sẽ trở
thành huyết tồ. Nếu chất này có nhiều trong máu là dấu hiệu của
thiếu sắt.
Thành ra, không phải cứ thấy sắt trong máu thấp
là uống sắt, mà phải căn cứ vào mức độ Ferririn và
Transferritin.
Điều trị
Điều trị căn cứ vào việc xác định nguyên nhân gây
bịnh và trị nguyên nhân. Ngoài ra, cũng cần bổ khuyết cho kho dự
trữ sắt. Việc này được thực hiện bằng cách cho người bệnh dùng
sắt dưới dạng ferrous sulfate từ 200- 300 mg/ba lần mỗi ngày. Có
loại thuốc viên và thuốc nước.
Sắt được hấp thụ dễ dàng khi bụng đói, nhưng lại
gây ra kích thích niêm mạc. Để tránh khó chịu bao tử và táo bón,
có thể uống khi no bụng. Khi không uống được sắt như là rối loạn
tiêu hóa thì có thể chích dung dịch thuốc bổ có sắt.
Về thực phẩm thì thịt bò, cá, gà, gan, trứng,
đậu, sữa, đều có nhiều sắt. Sắt trong thực phẩm động vật ( heme
iron) được hấp thụ nhiều hơn sắt trong thực vật (nonheme iron).
Sinh tố C, đường lactose trong sữa, acid
hydrochloric làm tăng hấp thụ nonheme iron. Chất rượu cũng giúp
hấp thụ sắt cho nên các thuốc bổ máu đều có một chút alcohol.
Ngoài ra, nấu thực phẩm với nồi bằng sắt cũng
tăng khoáng này trong thức ăn. Vì thế tại nhiều quốc gia người
ta thay thế nồi sắt bằng nồi nhôm, thép không rỉ hoặc các hợp
kim khác.
Calcium, phosphate, lòng đỏ trứng, trà, chất xơ,
đậu nành sống làm giảm hấp thụ nonheme iron. Các thuốc chống
acid bao tử, thuốc cimetidine, tetracycline, zantac làm giảm hấp
thụ sắt.
Cũng nên lưu ý là khi tiêu thụ quá nhiều sắt thì
có thể bị bệnh Nhiễm Sắc Tố Sắt Haemochromatosis trong đó sắt sẽ
tích tụ ở gan, lá lách, tủy sống, tế bào tim dưới dạng ferritin
và hemosiderin. Sự kiện này xẩy ra khi chẳng may thực phẩm có
nhiều sắt hoặc ở một số quốc gia dùng nồi bằng sắt nấu thức ăn.
Dùng thêm chất sắt đúng theo hướng dẫn của bác sĩ thì ít khi xẩy
ra bệnh này.
Bệnh nhân có các triệu chứng như mỏi
mệt, đau bụng, nhức mỏi xương khớp, kinh kỳ không đều, loạn
cương dương. Khi trầm trọng, gan sưng to, da thâm mầu đồng đen,
đái đường, tim suy và bệnh nhân có thể chết.
Bệnh thường được chữa bằng lọc máu để loại bớt
sắt dư thừa đi.
2-Thiếu máu vì thiếu sinh tố B 12
B 12 đứng hàng thứ tám của nhóm sinh tố B được
khám phá vào năm 1948 trong gan súc vật. Sinh tố này rất cần cho
sự phân bào.
Thực phẩm động vật đều có sinh tố B 12, ngược lại
mọi sinh vật mọc từ dưới đất lên đều không có sinh tố B 12 hoặc
là có rất ít.
Thiếu sinh tố này thường là do:
a-Không ăn đầy đủ thực phẩm có B12 như thịt, pho
mát, trứng sữa bò, sữa chua hoặc chỉ ăn rau trái. Bệnh thường
thấy ở người ăn chay thuần túy, trẻ em bú sữa mẹ ăn chay, áp
dụng chế độ dinh dưỡng theo sở thích riêng (fad diet) và đôi khi
ở người nghiện rượu kinh niên. Điều nên nhớ là lá gan của ta dự
trữ nhiều B 12 cho nên bệnh chỉ xẩy ra sau dăm năm không ăn thực
phẩm chứa sinh tố này.
b-Không hấp thụ được B 12 là nguy cơ chính của
bệnh. Sự hấp thụ này diễn ra ở đoạn cuối của ruột tràng (ileum)
với sự hiện diện của một nhân tố nội tại (intrinsic factor) do
bao tử tiết ra. B12 bám vào nhân tố này để được hấp thụ vào
ruột. Bệnh xẩy ra trước khi kho sự trữ cạn sinh tố này.
Những lý do đưa tới kém hấp thụ là: bệnh bao tử
tiết ra không đủ nhân tố nội tại; cắt bỏ một phần bao tử; bệnh ở
hồi tràng (ileum) như trong bệnh Crohn; ký sinh trùng trong ruột
ăn hết B12. Hấp thụ cũng giảm dần với tuổi cao vì ở tuổi này,
dịch vị bao tử ít đi. Vì thế sau 60 tuổi, nên đo mức độ B 12
hàng năm để coi có thiếu và có cần chích B 12 hay không.
c-Không sử dụng được B12 trong các bệnh thận,
gan, suy dinh dưỡng, ung thư
Diễn tiến của bệnh rất âm thầm. Người bệnh ăn mất
ngon, đại tiện khi bón khi lỏng, đau ngầm ở bụng dưới, lưỡi đỏ
rát, mất kí, rối loạn chức năng dây thần kinh ngoại vi.
Khi bệnh đã được chẩn đoán thì bệnh nhân cần được
chích B 12. Ban đầu thì chích mỗi tuần cho tới khi hồng cầu trở
lại bình thường rồi sau đó mỗi tháng một lần trong nhiều năm để
tránh tổn thương thần kinh.
3- Thiếu máu vì thiếu Folic acid
Folic acid có trong mọi loại thực phẩm thiên
nhiên như rau, trái cây, gan động vật và trong cereal tăng cường
folate. Folic rất dễ bị nhiệt tiêu hủy khi nấu thực phẩm quá kỹ.
Vì thế, nếu mỗi ngày đều ăn thực phẩm nấu vừa phải thì không thể
thiếu sinh tố này.
Thiếu folate có thể vì thực phẩm không có, bị hủy
hoại trong khi nấu hoặc không được ruột hấp thụ. Các dược phẩm
chống kinh phong và thuốc ngừa thai cũng làm giảm sự hấp thụ
folate.
Điểm đặc biệt là dân nghèo lại hay thiếu vì họ
thường nấu thực phẩm rất kỹ. Người ghiền rượu là đặc biệt hay bị
thiếu folate. Bệnh do thiếu folate xẩy ra rất mau, chừng vài
tháng.
Mỗi ngày cơ thể cần khoảng 50microgram; khi có
thai hoặc cho con bú sữa thì người mẹ cần hai ba lần nhiều hơn
để ngừa thai nhi bị tật Nứt Ðốt Sống Spina Bifida, Khuyết Tật
Ống Thần Kinh.
Triệu chứng bệnh thiếu máu vì thiếu folate và B
12 giống nhau ngoại trừ tổn thất về thần kinh và tâm trí chỉ có
trong trường hợp thiếu B 12.
Ngoài ra, thiếu sinh tố B6 làm giảm
sự tổng hợp huyết cầu tố; thiếu sinh tố E làm màng hồng cầu mỏng
manh dễ bị tiêu huyết; thiếu sinh tố C đưa tới bệnh scurvy với
chẩy máu nướu răng, dưới da. Các sinh tố này đều có rất nhiều
trong thực phẩm ta dùng hàng ngày.
Kết luận
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất quan
trọng đối với các bệnh thiếu máu. Nhưng nếu áp dụng một chế độ
dinh dưỡng cân bằng, đa dạng và đầy đủ thì ta có thể tránh được
các bệnh này.
Danh từ Thiếu Máu Anemia được y học
dùng để chỉ bệnh trong đó có sự thay đổi về số lượng và phẩm
chất của hồng huyết cầu. Ðôi khi người mình cũng dùng danh từ
này để nói về huyết áp thấp và dễ gây ngộ nhận. Với bệnh về áp
suất của động mạch blood pressure thì nên có thói quen dùng danh
từ Cao hoặc Thấp Huyết Áp, cho chính xác hơn.
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas- Hoa Kỳ
Ý Kiến xin gửi về :
bsnguyenyduc@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |