|
Kết quả một cuộc thăm dò mới đây tại Hoa Kỳ cho
thấy có tới gần 40 triệu người đang dùng thêm sinh tố E
với nhiều mục đích khác nhau. Lý do chính cho đây là chất chống
sự oxy hóa, nguyên nhân đưa tới già nua, bệnh tật như ung thư,
bệnh tim, bệnh sa sút trí tuệ…và giảm khả năng tình dục.
Oxy hóa là tác dụng của khí oxygen trên vật thể.
Sự Oxy hóa- Chất chống oxy hóa
Oxygen là dưỡng khí cần thiết cho mọi
động vật, thảo mộc, ngoại trừ một số rất ít sinh vật kỵ khí.
Đối với loài người, ở một mức độ trung bình,
oxygen tham dự vào sự biến hóa căn bản trong cơ thể để tạo ra
năng lượng cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt của toàn bộ tế bào.
Không khí ta thở có 20% dưỡng khí, vừa đủ dùng
cho cơ thể và sức chịu đựng của phổi. Khi hít thở oxy nguyên
chất khoảng 6 giờ, ta thấy nặng ngực. Nếu tiếp tục thở lâu hơn
nữa, phế nang sẽ bị tổn thương.
Oxygen phản ứng trên vật chất và gây nhiều thay
đổi cho các phân tử này.
Để ra ngoài không khí trong khoảng thời gian lâu,
một miếng thịt tươi đỏ sẽ chuyển sang mầu thâm, miếng táo cắt
đôi trở mầu nâu, cây đinh sắt sét rỉ, cục bơ thơm trở mùi ôi
khét. Chúng đã bị oxy hóa và công dụng của chúng giảm, đôi khi
trở thành có hại. Trong cơ thể, phản ứng oxy hóa tạo ra những gốc tự do (free
radicals) là những chất gây ra tổn thương cho tế bào. Nhưng may
mắn là cơ thể tạo ra được nhiều loại enzym có khả năng vô hiệu
hóa gốc tự do. Enzym hiện diện trong cơ thể trước khi có phản
ứng tạo ra gốc tự do, cho nên kịp thời đối phó với những phân tử
không thân thiện này.
Các enzym chính là superoxide dismutase (SOD),
catalase và glutathione. Mỗi enzym liên hệ vào từng phản ứng hóa
học riêng biệt
Ngoài ra, cơ thể có thể trung hòa gốc
tự do bằng cách dùng chất chống oxy hóa (antioxidant). Các chất
này chỉ mới được nhắc nhở nhiều trong dân chúng cũng như y giới
khoảng vài chục năm gần đây. Đã có nhiều khoa học gia để tâm
nghiên cứu về công dụng của chất chống oxy hóa và tây y học cũng
đã có thái độ thiện cảm hơn với các chất này.
Trong một cuộc hội thảo của các bác sĩ chuyên môn
về tim năm 1995 tại Hoa kỳ, 90 % tham dự viên nhận là mình có
uống chất chống oxy hoá nhưng chỉ có 75 % biên toa cho bệnh
nhân. Nhiều bác sĩ nói họ chưa có đủ dữ kiện xác đáng để khuyến
khích bệnh nhân dùng thêm các chất này.
Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo: Một chỉ
dẫn thận trọng và khoa học nhất về vấn đề này là dân chúng nên
ăn thực phẩm có nhiều chất chống oxy hóa trong rau, trái cây và
các loại hạt, thay vì uống thêm chất antioxidant.
Nhưng dân chúng “có bệnh thì vái tứ phương”, nên
nhiều khi cũng quên các lời khuyên này. Và họ vẫn dùng.
Theo kết quả một số nghiên cứu, chất này có khả
năng làm mất hoạt tính của gốc tự do tích tụ trong cơ thể, biến
chúng thành những phân tử vô hại, đồng thời cũng có khả năng duy
trì cấu trúc và chức năng của tế bào.
Antioxidant chính yếu, phổ thông nhất là sinh tố
C, beta-carotene và sinh tố E.
Sau đây là một số kiến thức về sinh tố E.
Sinh tố E
Sinh tố E được các khoa học gia tại Đại học
Berkeley, California khám phá ra cách nay hơn 80 năm. Trong
những thập niên vừa qua, sinh tố này đã là một trong những ngôi
sao sáng trong số các chất dinh dưỡng.
Có hai nhóm sinh tố E chính: nhóm tocopherols và
tocotrienol với 4 isomers.
Trong hai nhóm này, nhóm alpha-tocopherol isomer
có tác dụng mạnh nhất ở trong cơ thể. Cơ thể hấp thụ được cả
tocopherol thiên nhiên và nhân tạo nhưng loại thiên nhiên trong
thực phẩm có nhiều tác dụng tốt hơn.
Sinh tố E (tocopherol) có dạng dầu sền sệt, mầu
vàng nhạt, hòa tan trong chất béo hoặc cồn và không hòa tan
trong nước.
Sinh tố chịu đựng được sức nóng và acid nhưng bị
phân hủy bởi tia tử ngoại hoặc oxygen.
Đun nấu với nhiệt độ bình thường không làm mất
sinh tố E, nhưng khi chiên rán chìm trong chất béo hoặc đóng
hộp, sấy khô thì sinh tố E mất đi khá nhiều.
Vai trò của sinh tố E trong cơ thể
Trong cơ thể, vitamin E có vai trò quan trọng
trong việc chuyển hóa của các tế bào, bảo vệ sinh tố A và chất
béo khỏi bị oxy hóa, tạo hồng cầu, phòng ngừa sự hư hao của tế
bào và giúp cơ thể sử dụng sinh tố K.
Công dụng được đề nghị
Sinh tố E đã được đề nghị để phòng ngừa hoặc điều
trị một số vấn đề của sức khỏe do tác dụng chống oxy hóa của
chúng. Tuy nhiên, cho tới nay kết quả các nghiên cứu đều chưa
được thống nhất, chưa có tính cách kết luận hoặc mới có ý kiến
trung dung (neutral), đôi khi tiêu cực (negative)
Theo một số tác giả, sinh tố E là một
chất chống oxy hóa rất hữu hiệu. Sinh tố bảo vệ các mô, giúp chế
tạo và bảo vệ hồng huyết cầu; giúp cơ thể sử dụng sinh tố K.
Vì là chất chống oxy hóa, một số tác giả cho biết
sinh tố E có thể tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa các gốc tự do (free
radicals) do đó có thể giữ một vai trò nào đó trong sự phòng
ngừa ung thư và làm chậm tiến trình lão suy. Selenium và sinh tố
E có thể thay thế, hỗ trợ cho nhau trong công dụng này.
Nghiên cứu sơ khởi cho thấy sinh tố E có khả
năng ngăn ngừa các chứng bệnh tim mạch, kể cả những chứng nhồi
máu cơ tim hay tai biến động mạch não, vì nó làm giảm bớt sự kết
tụ của cholesterol xấu LDL (low density lipoprotein) ở trong
mạch máu.
Một số nghiên cứu khác cho thấy sinh tố E có thể
làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn
thương, do đó sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm trùng
mạnh hơn. Đặc tính này có lẽ cũng giúp trì hoãn các triệu chứng
của bệnh sa sút trí tuệ.
Sinh tố E còn làm giảm nguy cơ bệnh
cườm mắt (cataract) nhờ khả năng chống oxy hóa.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy sự sinh đẻ của
chuột khả quan hơn khi cho dùng sinh tố E.
Trái với tin tưởng của nhiều người, sinh tố này
không có vai trò gì trong việc làm đời sống tình dục người nam
mạnh hơn.
Nguồn cung cấp
Nguồn cung cấp chính sinh tố E là thực phẩm gốc
thực vật như dầu đậu nành, dầu hột bông gòn (cotton seed oil),
dầu hướng dương (sunflower oil), dầu bắp, phó sản của các dầu
vừa kể như margarine; trong mầm lúa mì (wheat germ); trong bắp,
các loại hạt có vỏ cứng, hạt dưa (seed), quả ô liu, măng tây và
các loại rau có lá màu lục.
Thực phẩm gốc động vật có rất ít sinh tố E.
Sinh tố E được hấp thụ ở ruột non với sự hỗ trợ
của mật và chất béo.
Sinh tố E lưu chuyển trong máu và được dự trữ
trong tế bào mỡ, gan, bắp thịt, phần dư thừa được bài tiết qua
phân.
Không giống như sinh tố A và D, sinh tố E không
gây ra triệu chứng ngộ độc khi ta dùng một số lượng cao.
Tuy nhiên, đang uống thuốc Coumadin chống loãng
máu nên cẩn thận, vì sinh tố E cao quá có thể làm xuất huyết
nhiều hơn.
Nhu cầu
Nhu cầu sinh tố E thay đổi tùy theo tuổi tác, nam
hoặc nữ, tình trạng sức khỏe và số lượng chất béo bão hòa mà
người đó tiêu thụ. Chất béo bão hòa dễ bị oxy hóa, vì thế cần
tăng sinh tố E nếu ăn nhiều chất này.
Liều (dose) sinh tố được ghi theo đơn vị
milligram hoặc IU (International units). 1mg alpha-tocopherol
tương đương với 1.5 IU.
Tại Hoa Kỳ, giới chức y tế dinh dưỡng đề nghị
(Recommended Daily Allowance- RDA) là:
-Nam nữ trên 14 tuổi và phụ nữ có thai ở mọi tuổi
cần 15mg (hoặc 22.5IU),
- Phụ nữ cho con bú sữa mẹ cần 19mg (hoặc 28.5IU)
sinh tố E mỗi ngày.
Số lượng này đều có trong phần ăn hàng ngày nếu
ta tiêu thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng trong thực phẩm.
Với trẻ em sơ sinh, không có RDA
nhưng có đề nghị:
-Các em khỏe mạnh bú sữa mẹ từ lúc sanh tới 6
tháng cần 4mg/ngày (6IU/ngày);
Từ 7-12 tháng cần 5mg/ngày (7.5 IU/ngày).
RDA cho trẻ em
-Từ 1-3 tuổi: 6mg/ngày (7.5 IU);
-Từ 4-8 tuổi: 7mg/ngày (10.5 IU)
- Trẻ em từ 9-13 tuổi: 11mg/ngày (16 IU/ngày).
Thiếu sinh tố E
Thiếu sinh tố E rất ít khi xảy ra và có thể thấy
trong bệnh nhân kém hấp thụ chất béo ở ruột như bệnh Crohn, sau
giải phẫu), khi kém dinh dưỡng, khi tiêu thụ rất ít sinh tố E
hoặc trong vài bệnh di truyền đặc biệt.
Thiếu sinh tố trong thời gian lâu có thể đưa tới
không vững trong việc đi đứng và không có phối hợp giữa các cơ
bắp, yếu cơ bắp, giảm phản xạ (reflex). Thiếu kinh niên có thể
đưa tới mù lòa, sa sút trí tuệ, thay đổi nhịp tim.
Điều trị khi thiếu sinh tố E cần được bác sĩ xác
định và theo dõi vì có nhiều chứng minh khoa học cho hay, dùng
thêm sinh tố E có thể gây hậu quả không tốt cho cơ thể.
An
toàn của sinh tố E
Cho
tới nay, chưa có chứng minh khoa học về sự công hiệu của sinh tố
E khi dùng quá liều đã được cơ quan y tế đưa ra (RDA). Do đó,
cần cân nhắc lợi hại trước khi quyết định dùng thêm sinh tố E.
Dùng
thêm trong thời gian ngắn với liều tối đa 1000mg/ ngày (tương
đương với 1100 IU) được coi như tương đối an toàn và có thể có
ích lợi.
Ảnh hưởng lâu dài khi dùng nhiều sinh tố E vẫn
chưa được làm rõ, nên các giới chức y tế khuyên không nên dùng
quá nhiều sinh tố này.
Quá nhiều sinh tố E có thể đưa tới viêm da, đau
bụng, tiêu chẩy, ói mửa, tăng rủi ro xuất huyết, chóng mặt, mệt
mỏi, nhức đầu, mờ mắt
Kết
luận
Nếu tiêu thụ cân bằng và đa đang các loại thực
phẩm, cơ thể đã có đủ số lượng sinh tố E cần thiết cho nhu cầu.
Thiếu sinh tố E thường chỉ thấy ở loài vật chứ
hiếm khi thấy ở con người. Lý do là thực phẩm dùng hàng ngày có
nhiều sinh tố nảy. Hơn nữa, cơ thể có thể dự trữ được sinh tố E,
không sợ thiếu hụt.
Vì chưa có đủ chứng minh hỗ trợ cho nên chưa có
đề nghị nào của các cơ quan khoa học về việc dùng thêm sinh tố
E. Không nên dùng liều lớn cao hơn 1000 mg/ngày vì có rủi ro gây
ra xuất huyết.
Nếu muốn dủng thêm với một mục đích nào đó, nên
hỏi ý kiến bác sĩ điều trị để tránh tương tác với các thuốc
khác.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ.
Trở về Trang Chính |