|
Tòa soạn một tuần báo thân hữu có chuyển cho
người viết lá thư như sau của độc giả Trần Hữu hỏi về vấn đề sảy
thai và loại máu không tương hợp.
“Hamilton, Oct. 12, 2007
Tôi có đứa cháu ở Việt Nam, lập gia đình lâu rồi,
nhưng hễ mỗi lần người vợ mang thai trong vài tháng là sẩy thai,
đã nhiều lần như vậy. Các cháu cũng đi bác sĩ khám bệnh, nhưng
tình trạng vẫn không chút khả quan.
Trước đây trên 40 năm, lúc còn ở Việt Nam, tôi có
đọc sách y khoa của hai Bác sĩ Lương Phán và Nguyễn Thị Lợi, có
đề cập đến đề tài "con ranh con lộn" và giải thích qua các loại
máu và Rhesus + / -. Tôi nhớ đại khái là người vợ và chồng nếu
hai người mang Rhesus tương phản nhau thì bào thai sẽ bị phản
ứng và bị hư hoặc có sanh ra thì cũng "chết" mà thai nhi thường
sẫm màu. Bác sĩ cũng nói là nhiều lần mang thai như vậy, kháng
nguyên người mẹ phải chống với bào thai nên cũng có thể mất mạng
sau nhiều lần mang thai.
Tôi chỉ nhớ đại khái như trên, không hiểu có phần
nào đúng không, mong sự giải thích cặn kẽ, hầu tôi sẽ gởi bài
của quý vị về vợ chồng đứa cháu tôi ở Việt Nam để chúng tham
khảo và theo phương hướng điều trị.
Trong khi chờ đợi bài giải thích, xin quý vị cùng
ban biên tập tòa soạn Thời Báo nhận nơi đây lòng thành kính biết
ơn của tôi.
Kính,
Trần
Hữu”
Vì không có đủ dữ kiện về việc “liên tục sảy thai” của người
cháu, nên chúng tôi chỉ xin gửi tới ông Hữu và độc giả một chút
hiểu biết về loại máu và sự không tương hợp giữa các loại máu.
Máu
Máu là
một mô lỏng, lưu hành khắp cơ thể trong các động mạch, tĩnh mạch
và là một phương tiện chuyên chở nhiều chất khác nhau giữa mô và
các cơ quan.
Máu gồm nhiều loại tế bào máu trong một môi
trường lỏng gọi là huyết tương. Mỗi người nam trưởng thành có
khoảng 6 lít máu, người nữ ít hơn: 4- 5 lít.
Máu có nhiều nhiệm vụ quan trọng:
-Máu mang oxy vào cơ thể và loại khí CO2 ra ngoài
-Máu là một dung dịch cần thiết cho sự tăng
trưởng của cơ thể, vì máu chuyên chở các chất dinh dưỡng từ sự
tiêu hóa và các hormon do các tuyến nội tiết sản xuất.
-Máu là dung dịch của sức khỏe, chuyên chở các
chất phòng chống bệnh tới các tế bào và chất phế thải tới thận
để loại ra ngoài cơ thể.
-Máu cũng giúp điều hòa thân nhiệt, chứa những
chất ngăn sự xuất huyết từ các vết thương, cân bằng dung dịch
chất lỏng trong các tế bào.
Máu có những tế bào sống như hồng huyết cầu,
bạch huyết cầu và tiểu cầu.
Hồng cầu và bạch cầu có nhiệm vụ nuôi dưỡng và
làm sạch cơ thể.
Tiểu cầu giúp máu ở trạng thái đặc. Thiếu tiểu
cầu, con người sẽ mất máu và chết.
Vì là tế bào sống, các tế bào máu cũng cần được
nuôi dưỡng với sinh tố, khoáng chất và các chất dinh dưỡng
chính.
Máu có 55% huyết tương, một chất lỏng trong mầu
vàng rơm.
Loại máu
Nhìn với mắt thường, máu mọi người nom mầu sắc
giống nhau. Nhưng dưới kính hiển vi, tế bào máu có nhiều nét
khác nhau, đặc biệt là ở hồng cầu.
Khoa học gia người Mỹ gốc Áo Karl Landsteiner
(1868-1943) đã tìm ra hai loại chất đạm riêng rẽ trên mặt hồng
cầu. Đó là các kháng nguyên A và B. Nhờ sự khám phá này, ông
được giải Nobel y học vào năm 1930.
Nếu hồng cầu chỉ có kháng nguyên A, máu đó thuộc
loại A. Nếu chỉ có kháng nguyên B thì là máu loại B. Có cả A và
B thì thuộc loại AB. Không có A hoặc B thì là máu loại O. Máu
của một loại này chứa các kháng thể trong huyết thanh chống lại
các hồng huyết cầu của loại khác. Khi hai loại máu trộn lẫn với
nhau, các hồng cầu có thể kết chùm lại và gây ra hậu quả chết
người được.
Do đó:
Người có máu loại A có thể truyền máu cho người
có loại A hoặc AB.
Người có loại B có thể sang máu cho người loại B
hoặc AB
Người có loại AB chỉ truyền máu cho người cùng
loại AB mà thôi
Người có máu loại O có thể cho máu cho bất cứ ai.
Cũng vậy:
Người có loại A có thể nhận máu loại A và O
Người có loại B có thể nhận máu từ loại B và O
Người có loại AB có thể nhận máu của bất cứ ai
Người có loại O chỉ nhận được máu từ người có
loại O.
Loại máu do di truyền quyết định và tỷ lệ loại
máu trong dân chúng thay đổi tùy theo chủng tộc. Chẳng hạn 45%
người da trắng tại Hoa Kỳ có loại máu 0.
Đúng ra là có tới hơn 30 hệ thống phân loại nhóm
máu, nhưng hệ thống ABO quan trọng hơn cả.
Đến năm 1940 các nhà khoa học Kart Landsteiner và
Alexander Wiener lại tìm ra một chất đạm khác trên mặt của hồng
cầu gọi là yếu tố Rhesus (Rh). Rhesus là một loại khỉ nhỏ có
nhiều ở miền Bắc Ấn Độ, được dùng thường xuyên trong các cuộc
thí nghiệm sinh học. Cũng từ loại khỉ Rhesus này mà kháng nguyên
Rh được khám phá lần đầu.
Người có yếu tố này được gọi là Rh +, nếu không
có sẽ là Rh-. Đa số dân chúng (85%) có Rh+.
Yếu tố Rh liên hệ với loại máu. Vì thế nếu người
loại A có Rh sẽ được ghi là A+; nếu không có Rh sẽ được ghi là
A-.
Người có Rh- tiếp nhận máu Rh+ sẽ tạo ra kháng
thể chống lại hồng cầu Rh+. Trong các lần nhận máu sau đó, kháng
thể này sẽ hủy hoại các hồng cầu nào có Rh+. Đó là sự không-
tương- hợp Rh (Rh Incompatibility).
Sự không tương hợp chỉ xảy ra khi mẹ Rh âm và con
Rh dương; không xảy ra khi mẹ Rh +, con Rh – hoặc khi cả mẹ và
con đều âm hoặc dương Rh.
Nhắc lại là trong khi mang thai, các chất dinh
dưỡng và kháng thể từ máu của mẹ chuyển sang con qua nhau thai,
nhưng hồng cầu không qua được, ngoại trừ khi nhau thai bị rách.
Trong suốt thời gian mang thai lần đầu không có
vấn đề gì xảy ra vì máu con không xâm nhập máu mẹ. Nhưng khi
sanh, một chút máu Rh+ của con có thể vào cơ thể mẹ. Mẹ sẽ sản
xuất ra kháng thể chống lại với kháng nguyên Rh+ này.
Tới các lần có thai kế tiếp, nếu thai nhi Rh+,
kháng thể trong máu mẹ sẽ nhận ra và sẽ tiêu hủy các hồng cầu
mang Rh+. Hậu quả là thai nhi sẽ bị thiếu máu, vàng da… vì tan
huyết. Đó là chứng loạn nguyên- hồng-cầu sơ-sinh
(Erythroblastosis fetalis). Phương thức trị liệu hữu hiệu là
truyền cho con một số lượng lớn máu Rh+ đồng thời rút máu con ra
để loại bỏ hết kháng thể Rh+.
Sự không tương-hợp Rh ở người mẹ có thể tránh
được bằng cách chích cho mẹ globulin miễn dịch Rh (Rho-GAM) khi
có thai lần đầu và các lần sau đó.
Thuốc được chích làm hai lần. Lần thứ nhất vào
tuần lễ thứ 28 của thai kỳ và lần thứ hai chích trong vòng 72
giờ sau khi sanh.
Thuốc tác động như một vaccin, loại bỏ kháng
nguyên Rh+ trong máu mẹ và ngăn chận sự tạo ra kháng thể đối
nghịch với Rh+ của con.
Sảy thai
Về sảy thai, có nhiều nguyên do khác nhau, như
là:
a-Bất bình thường ở các nhiễm thể của thai nhi:
Đây là rủi ro sảy thai thường thấy, nhất là trong 13 tuần lễ đầu
của thai kỳ.
b-Bệnh của mẹ như tiểu đường không kiểm soát, cao
huyết áp, ban đỏ lupus, một vài bệnh truyền nhiễm như ban đào
(rubella), nhiễm virus herpes simplex, vi khuẩn Clamydia.
c-Mất thăng bằng hormon trong cơ thể,
như thiếu hormon nữ progesteron để sửa soạn niêm mạc thích hợp
nuôi dưỡng thai nhi.
d-Bất bình thường trong cấu trúc của
dạ con và cổ tử cung như u xơ từ cung, cổ tử cung yếu, có thai
ngoài tử cung.
đ-Rối loạn hệ miễn dịch khiến cho cơ
thể không bảo vệ nuôi dưỡng được thai nhi.
e-Lối sống không lành mạnh như hút
thuốc lá, nghiện rượu- thuốc, thiếu dinh dưỡng, tiếp xúc với hóa
chất, phóng xạ.
Ngoài ra, tuổi tác cũng là một yếu tố. Trong đa
số các trường hợp, phụ nữ khỏe mạnh có tỷ lệ sảy thai từ 15-20%.
Tỷ lệ tăng với tuổi cao: Dưới 35 tuổi, khoảng 35%. Trên 45 tuổi,
50% có nguy cơ sảy thai.
Quý bà mẹ dễ dàng bị sảy thai cần
được bác sĩ chuyên về sản phụ khoa khám và thử nghiệm để tìm ra
nguyên nhân rồi điều trị.
Ngoại trừ một số rủi ro di truyền, tuổi tác, các
rủi ro khác có thể phòng tránh được.
Trước khi sẵn sàng để có thai, nên chăm sóc để có
một cơ thể khỏe mạnh với dinh dưỡng đầy đủ, vận động đều đặn,
giữ cân nặng trung bình, không hút thuốc lá, uống thêm folic
acit và giảm thiểu căng thẳng tinh thần.
Khi đã được xác định là có thai, cần tiếp tục nếp
sống lành mạnh cộng thêm không uống rượu, đừng tiếp cận với khói
thuốc là, giới hạn hoặc đừng uống nước có nhiều caffeine, tránh
va chạm tổn thương tới bụng mang dạ chửa, tránh các sinh hoạt
quá mạnh và luôn luôn yêu đời, vui với con trong lòng mẹ.
Chín tháng mười ngày “mang nặng” sẽ qua rất mau,
tới ngày “đẻ đau”, khai hoa nở nhụy để làm mẹ, với “hòn máu”
thân yêu của mình.
Cả nhà đều hân hoan mừng vui khi thấy ánh mắt
sáng ngời của con.
Bác sỹ Nguyễn Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ
Trở về Trang Chính |