|
Bà con ta đều không ngại đi khám bệnh, duyệt lại
tình trạng sức khỏe, nhưng tới màn thử máu thì một số lớn lại
rụt rè, “em chã”. Chẳng là tại cứ sợ đau, sợ mất nhiều máu, sợ
ngất sỉu. Có bà thì dẫy nẩy “xin đừng lấy máu tôi” khi bác sĩ
nói cần hút vài phân khối chất hồng đỏ này. Có cụ thì “ông mà
lấy máu là tôi đổi bác sĩ, không đến ông nữa đâu”.
Nhưng thưa quý thân hữu, thử nghiệm máu là điều
cần làm và là một phần trong cuộc đi viếng thăm ông bà lang y.
Cần thiết vì chúng là những lợi khí giúp bác sĩ tìm ra nguyên
nhân nhiều bệnh và để xác định bệnh. Ðến khi điều trị thì thử
nghiệm giúp bác sĩ theo dõi tình trạng bệnh thuyên giảm hay gia
tăng, để thuốc men được điều chỉnh thêm bớt, đổi thay. Có người
đã ví những thử nghiệm máu giống như chiếc kim la bàn, giúp bác
sĩ chăm sóc bệnh nhân một cách chính xác hơn.
Vậy thì Máu là gỉ?
Máu là một thành phần của hệ tuần hoàn chứa nhiều
loại tế bào, sinh hóa chất trong một dung dịch chất lỏng gọi là
huyết tương.
Môt người trưởng thành có khoảng từ 3.8- 4.9 lít
máu tức là 7% trọng lượng cơ thể. Máu lưu thông tới tất cả các
bộ phận để cung cấp dưỡng khí và chất dinh dưỡng cho trên 300 tỉ
tỉ tế bào. Máu cũng lấy đi các chất cặn bã, giúp điều hòa nhiệt
độ cơ thể, làm vết thương mau lành cũng như chống lại một số
bệnh tật.
Có ba loại tế bào máu: hồng huyết cầu, bạch huyết
cầu và tiểu bản.
Hông huyết cầu chuyên chở dưỡng khí từ phổi nuôi
tế bào và lấy khí carbon loại ra ngoài qua phổi.
Bạch huyết cầu gồm năm loại khác nhau nhưng đều
có chung nhiệm vụ là chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật gây
bệnh và giúp vết thương mau lành.
Tiểu bản điều hòa sự đông đặc của máu với tiếp
sức của thành mạch máu và các yếu tố đông máu..
Huyết tương có các chất dinh dưỡng như chất đạm,
chất béo, carbohydrates, sinh tố, khoáng chất, kích tố, yếu tố
đông máu, diêu tố, kháng nguyên và kháng thể. Khi có bệnh nhiễm
thì máu chứa thêm vi trùng, siêu vi.
Vì máu chứa các thành phẩn kể trên nên thử nghiệm
máu có thể ước lượng được sự lành hay bệnh của nhiều cơ quan bộ
phận trong cơ thể.
Cách lấy máu. Ở đâu, bao nhiêu, rủi ro.
Máu được hút ra từ động mạch hoặc tĩnh mạch,
thường thường là ở gần khuỷu tay hoặc trên mu bàn tay.
Ðiểm lấy máu được lau sạch bằng chất sát trùng
như alcohol. Một băng cao su co dãn được cột phía trên chỗ lấy
máu dể máu ứ lại. Kim nhỏ được chích vào mạch máu, máu được hút
vào một ống kín. Sau khi rút kim, một băng keo được dán lên trên
vết kim châm để ngăn máu chẩy và tránh vi khuẩn xâm nhập.
Nhiều người ngại đau khi kim chích vào, nhưng
thực ra chỉ nhói một chút, như gai bông hoa hồng đâm vào da hoặc
như kiến đốt. Còn rủi ro sau khi lấy máu thì cũng không có gì là
trầm trọng đến nỗi mình phải quá lo sợ. Chẳng hạn hãn hữu lắm
mới bị ổ tụ huyết dưới da nơi kim chích, nhiễm trùng hoặc máu
chẩy lâu.
Nhiều vị vì sợ đau, nên co người lại, mạch máu
chìm xuống, nên cô chuyên viên cứ phải chọc tới chọc lui, kiếm
nơi có mạch máu phồng. Có người nom thấy máu đỏ chẩy ra thì sanh
sao mày mặt, sỉu đi.
Thường thường số lượng máu lấy không nhiều,
khoảng 20 cc. Với phụ nữ còn kinh thì ít hơn là mỗi kỳ thấy
tháng. Còn nam giới thì giống như xuất huyết khi táo bón rặn
rách hậu môn vài lần mà thôi.
Ta cần nhịn ăn trước khi lấy máu vì sau khi ăn,
kết quả thay đổi. Chẳng hạn sau khi làm một tô bún bò Huế thì
đường huyết lên cao là điều trông thấy và sẽ không phản ảnh
tình trạng tự nhiên.
Các loại thử máu thông thường
Tùy theo triệu chứng và kết quả khám tổng quát
người bệnh mà bác sĩ cho làm một vài thử nghiệm nào đó.
Ta cứ tưởng cứ thử máu là biết hết bệnh trong
người. Ðiều đó không đúng lắm, vì mỗi bệnh tạo ra sự thay đổi
khác nhau trong các thành phần sinh hóa của máu. Chẳng hạn bị
bệnh tiểu đường thì đường huyết lên cao; ăn nhiều chất béo thì
cholesterol đậm đặc trong máu; thiếu dinh dưỡng, thiếu chất sắt
thì hồng huyết cầu vừa giảm số lương vừa thay đổi hình dạng...
Tuy nhiên, để có một ý niệm tổng quát về bệnh
trạng, bác sĩ thường cho thực hiện một số thử nghiệm chung cho
mỗi lần lấy máu. Chẳng hạn như tập hợp các thử nghiệm để biết
thành phần hóa học của máu, chức năng gan thận, các tế bào
máu...Gộp lại như vậy cũng tiện việc cho phòng thí nghiệm, khỏi
lấy máu nhiều lần cũng như không phí phạm máu người bệnh.
Nhiều thân hữu sau khi làm thí nghiệm được bác sĩ
trao cho một tờ giấy dài kết quả. Nhìn danh sách với các con số
rắc rối, ta cũng bỡ ngỡ xa lạ, chẳng biết mô tê ất giáp gì.
Nên chúng tôi xin ghi lại sau đây một số thử
nghiệm máu, để bà con tiện tham khảo khi cần. Các con số kết quả
là của người đàn ông trưởng thành. Kết quả ở nam nữ, trẻ già hơi
xê xích nhau một chút.
1-Ðếm tế bào máu.
Tiếng Anh gọi là Complete Blood Count (C.B.C).
Kết quả thử nghiệm này cho ta biết thiếu hoặc thừa tế bào máu,
ung thư máu, máu loãng hoặc đặc ..Ðây là thử nghiệm mà hầu như
mỗi lần khám bệnh là ta đều được làm.
C.B.C nhắm vào các tế bào sau đây:
a-Hồng Huyết cầu (R.B.C)- Hồng cầu được sản xuất
từ mô tạo máu của tủy sống. Vì không có nhân nên H.H.C không
phân bào được. Mỗi H.C. cần 6 ngày để thành hình và có tuổi thọ
khoảng 120 ngày. Ở người trưởng thành, mỗi giây đồng hồ có 3
triệu hồng cầu được sinh ra để thay thế HC già nua mệnh một.
H.C. chứa huyết cầu tố mà chức năng chính là
chuyên chở dưỡng khí nuôi tế bào và loại khí độc CO2 ra ngoài.
Bình thường người trưởng thành có khoảng từ 4 đến
5 triệu H.C./ 1 mm ³ máu. Phụ nữ hơi thấp hơn nam giới một chút
nhưng chẳng sao, quý tỷ muội nhỉ. Cho người ta hơn cái này thì
mình lấy cái khác nhiều hơn và da vưỡn trắng vưỡn hồng là được
rồi. Quàng thêm chuỗi ngọc trai trên cổ thì hồng cầu xuống tí ti
cũng gật đầu.
b-Bạch Huyết Cầu (W.B.C.)- B.H.C. có ba loại
chính là bạch cầu hạt, đơn bào và lymphô nhân.
Nhiệm vụ của B.H.C là chiến đấu chống lại sự xâm
nhập của vi sinh vật, bảo vệ cơ thể bằng cách “sơi tái” các phần
tử nguy hại lạ; sản xuất và chuyên trở kháng thể.
Khi ta bị đứt da tay, nhiễm trùng thì B.H.C.
được động viên kéo tới vết thương đề tòng quân diệt giặc. Xác
chết quân ta và địch lẫn với bạch cầu sống sót tạo thành chất
mủ.
Số lượng bình thường B.H.C. là 4000-5000/mm³.
B.H.C có đời sống ngắn ngủi hơn trong mạch máu, khoảng từ
6-8giờ, nhưng một số lớn vào trú ngụ tại các tế bào thì tồn tại
có khi cả năm.
c-Tiểu bản (Platelets)- Gọi là tiểu bản vì tế bào
này có hình dạng tròn dẹp khác nhau. Ðây là những tế bào nhỏ
nhất của máu, không có nhân hoặc DNA, được tạo ra từ tủy sống.
Mỗi mm³ máu có từ 150,000-450,000 tiểu cầu. Tuổi thọ trung bình
là 10 ngày.
Nhiệm vụ chính của tiểu bản là tạo sự đông máu.
Khi công chúa gọt quả soài tượng, chẳng may đứt da tay chẩy máu
thì tiểu bản chạy tới, kết tụ với nhau thành một cái nút lấp kín
mạch máu hở. Ngón tay công chúa hết chẩy máu, nàng tiếp tục
thưởng thức soài tượng chấm với muối ớt.
d- Huyết cầu tố (Hemoglobin)- Máu cần một số
lượng đầy đủ H.C.T. để chuyên trở dưõng khí.
Người trưởng thành có khoảng từ 14-17 g/ 100mL
máu. H.C.T. Thấp dưới mức này là dấu hiệu của thiếu máu
(anemia).
Ngoài ra còn các chỉ số khác như Thể Tích Huyết
Cầu Ðặc (Hematocrit ), MCH (mean Corpuscular Hemoglobin), MCV
(Mean Corpuscular Volume) và MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin
Concentration) với tỷ lệ hơi phức tạp, nên xin miễn trình bầy.
2-Chất điện phân
(Electrolytes) là những nguyên tử dẫn điện trong huyết tương như
Sodium; Potassium; Chloride; CO2; Calcium; Phosphore.
Khi nồng độ các chất này lên quá cao như trong
bệnh thận suy hoặc quá thấp như khi ói mửa, tiêu chẩy thì cơ thể
đều bị ảnh hưởng. Và ta phải lấy bớt ra hoặc tăng cường thêm.
Muối Sodium: trung bình là 140mmol/lít.
Potassium hoặc Kali: 4.5 mmol/lít
Choride: 103 mml/lít
Ba chất điện phân này cần cho sự cân bằng
acid/base và duy trì áp xuất thẩm thấu dung dịch chất lỏng trong
cơ thể; dẫn truyền tín hiệu thần kinh.
Calcium: 9.5 mg/dL. Calcium cần cho sự tạo xương,
hấp thụ chất đạm, chất béo; co cơ bắp, đông máu, dẫn kích thích
thần kinh và tim.
Phosphore: 3.5 mg/dL.
3-Chức năng gan-
Khi gan bị viêm hoặc tổn thương, một số men gan
sẽ thay đổi. Có mấy loại men gan chính sau đây cần tìm kiếm:
a-sGOT (AST) và sGPT (ALT) tăng khi tế bào gan,
tim, thận, tụy tạng, cơ bắp bị tổn thương.
Bình thường AST thay đổi từ 0- 42 IU/Lít; ALT từ
0- 48 IU/lít.
b-Alkaline phospatase lên cao khi hệ thống mật
bị tổn thương. Chỉ số bình thường từ 44 – 147 IU/lít.
c-Billirubin là sắc tố mật tạo ra do sự phân hủy
của huyết cầu tố. Bình thường: 0.2- 1.5 mg/ 100ml. Billirubin
tăng khi gan bị hư hao.
4-Chất protein.
a- Protein toàn phần là chất có nhiều nhất trong
máu với mức độ thay đổi từ 5.5 tới 9.0 g/100ml.
Protein giảm khi suy dinh dưỡng, bệnh gan, kém
hấp thụ thực phẩm; tăng khi có nhiễm trùng kinh niên, suy gan,
ghiền rượu, ung thư bạch cầu, lao phổi...
b-Albumin là thành phần lớn của protein trong máu
và do gan tổng hợp. Albumin giảm khi suy dinh dưỡng, bệnh gan,
tiêu chẩy, nóng sốt, nhiễm trùng, phỏng nặng, thiếu chất sắt.
Albumin cao khi cơ thể thiếu nước.
Mức độ bình thường từ 3.5 tới 5.0 5/100ml.
c-Globulin là nhóm chất đạm đơn giản trong máu.
Một số globulin có nhiệm vụ quan trọng như kháng thể, một số
khác chuyên chở các chất béo, sắt hoặc đồng
Globulin tăng khi gan bị đau, nhiễm trùng kinh
niên, thấp khớp; thấp khi suy dinh dưỡng, suy miễn dịch, bệnh
thận.
Chỉ số bình thường từ 2.0 tới 3.5 gr/100ml.
5-Chất béo-
Ðây là những chất mà bà con ta lưu tâm nhiều
nhất, quen thuộc nhất và cũng mang lại nhiều e ngại, thắc mắc.
Và y giới cũng dành nhiều công sức để nghiên cứu các chất béo
này vì khi quá cao trong máu, chúng có thể gây ra nhiều rủi ro
bệnh hoạn.
Thử nghiệm máu nhắm vào mấy loại chất béo chính
Cholesterol, Triglyceride, LDL, HDL.
a-Cholesterol. Cholesterol có nhiều vai trò quan
trọng trong cơ thể. Nó là thành phần cấu tạo màng bao che các tế
bào, mô thần kinh não bộ; cần thiết cho sự tổng hợp kích tố
steroids, mật; sinh tố D.
Hầu hết cholesterol được gan tạo ra nên nhiều khi
ta không phải ăn thêm thực phẩm có chất này.
Cholesterol có nhiều trong chất béo động vậy và
hầu như không có trong thực vật.
Trong máu, cholesterol được chất đạm protein
chuyên chở, nên có tên gọi là lipoprotein.
Mức độ Cholestretrol Toàn Phần lý tưởng là dưới
200 mg/ 100ml;
từ 200 -240 mg/ 100ml thì tạm chấp nhận được
nhưng cần giảm tiêu thụ chất béo, vận động cơ thể;
trên 240 mg/ml thì đến lương y ngay để khám
nghiệm thêm rồi điều trị, dinh dưỡng đúng cách ngõ hầu mang con
số trở lại bình thường.
b- LDL- LDL viết tắt của chữ Low Density
Lipoprotein, một thứ cholesterol do protein cõng với tỷ trọng
rất thấp. Thấp nhưng lại hay gây bệnh hoạn cho cơ thể nhất là
bệnh tim mạch khi mức độ trong máu lên cao.
Dưới 100 mg/100ml máu là tốt, trên số này là
hổng có được, phải giảm tiêu thụ mỡ, uống thuốc.
c-HDL viết tắt của High Density Lipoprotein là
cholesterol tỷ trọng cao, được coi như lành tính có ích cho cơ
thể.
Dưới 35 mg/100 ml là không tốt mà càng cao là
càng tốt.
d- Triglycerides dưới 200 mg/100 ml là bình
thường mà trên số này là có rủi ro gây bệnh tim.
6-Ðường huyết.
Glucose là đường lưu hành trong máu do tự tiêu
hóa thực phẩm carbohydrates mà ra.
Mức độ trung bình của đường huyết là từ 64- 109
mg/100 ml, đo khi đói. Mức độ này được duy trì nhờ chất insulin
của tụy tạng, kích thích tố tuyến giáp, diêu tố của gan và kích
tố của nang thượng thận.
Khi vì lý do nào đó mà insulin thiếu hoặc không
còn tác dụng thì đường huyết lên cao, ta bị bệnh tiểu đường.
Ðường huyết cũng lên khi bị bệnh gan, mập phì,
viêm tụy tạng, căng thẳng tâm thần.
Ðường huyết thấp trong bệnh gan, thiểu năng tuyến
giáp, ghiền rượu.
7-Khoáng sắt
Iron cần cho sự tạo hồng huyết cầu, chuyên trở dưỡng khí.
Mức cần có là từ 30- 170 ug/100 ml máu. Thiếu
sắt ta bị thiếu máu (anemia).
8-Thử nghiệm tuyến giáp
để coi chức năng của tuyến này.
Kích tố tuyến giáp (thyroid) rất cần thiết cho sự
chuyển hóa căn bản và sự phát triển tâm trí, cơ thể.
Thiếu thì bị chứng đần độn ở trẻ em, phù niêm ở
người trưởng thành.
Tăng tuyến giáp thì tim đập nhanh, đổ mồ hôi, tay
chân run rẩy, lo âu, thèm ăn mà lại sút cân và không chịu đựng
được sức nóng.
Thử nghiệm tuyến giáp thường đo là:
-mức đô Thyroxine (T4) bình thường là từ 4- 12
ug/100 ml;
-T3-Uptake =27- 47%;
-T4 tự do (T7) = 4- 12 và
-TSH=0.5- 6IU/L.
9-Hóa chất bã của sự tiêu hóa chất đạm
cần được loại ra khỏi cơ thể qua thận. Các chất này ứ đọng trong
máu là chỉ dấu của nhiều bệnh khác nhau như bệnh suy thận, thoái
hóa cơ thịt, ăn nhiều thịt, tác dụng vài loại dược phẩm, uống ít
nước.
Có ba chất thường được thử nghiệm trong máu là
-B.U.N. (Blood Urea Nitrogen) bình thường từ 7-
25 mg/100ml;
-Creatinine =0.7- 1.4 mg/100ml và ,
-Uric acid dưới 3.5- 7.5. Uric acid lên cao trong
bệnh thống phong (Gout).
Kết luận.
Coi vậy thì ta thấy thử máu là chuyện nên làm, để
biết sức khỏe lành bệnh ở đâu. Cũng giống như khi nấu món canh
chua cá lóc ta cũng phải nếm thử coi mặn nhạt chua cay ra sao mà
thêm bớt gia vị; thương yêu một người cũng phải dò đường thử ướm
đôi lời coi đáp ứng nồng nhạt thế nào. Chứ cứ nhắm mắt làm tới
thì đâu biết món ăn ngon hay không, tình cảm thuận lợi hay bất
lợi.
Phải không thưa quý thân hữu độc giả.
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas- Hoa Kỳ.
Ý Kiến xin gửi về :
bsnguyenyduc@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |