|
LTS:
Nguồn Gốc Việt Tộc của Quốc việt Phạm Trần Anh là một quyển sử
giá trị. Khoahoc.net sẽ lần lượt trích đăng để cống hiến độc giả
xa gần. Qua nhiều dữ kiện tài liệu tham khảo phong phú sẽ cho
chúng ta và con cháu chúng ta tìm về gốc tích một dòng giống
Việt Nam oai hùng khí khái, tạo vững mạnh trong ta và hun đúc
giữ gìn tình đồng bào nghĩa nhân lọai…
*
* *
Thật vậy, cuối năm 1988, cuộc khủng hoảng bắt đầu nổ ra
ở Ba Lan, sau đó lan sang Hungari, Tiệp Khắc, Cộng Hòa Dân chủ
Đức, Rumani, Bungari, Nam Tư, Anbani như một dòng thác cách
mạng. Đảng Cộng sản và nhà nước các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông
âu lần lượt buộc phải chấp nhận xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của
đảng Cộng sản, thực hiện chế độ đa nguyên và tiến hành tổng
tuyển cử tự do. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản ở các
nước Đông âu đã dẫn tới những biến đổi lịch sử : Ba Lan,
Hungari, Tiệp Khắc quay trở lại theo con đường Tư bản chủ nghĩa.
Cộng Hòa Dân chủ Đức sát nhập vào Cộng Hòa Liên bang Đức. Trong
khi đó, ngày 21-8 đảng Cộng sản Liên xô bị đình chỉ hoạt động
trong toàn liên bang, chính phủ Xô viết bị giải thể. Mười một
nước cộng hòa tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Liên bang Xô Viết.
Một làn sóng chống đảng Cộng sản và chống Xã hội chủ nghĩa dâng
khắp mọi nơi. Ngày 21-12-1991 chính thức thành lập các quốc gia
độc lập SNG buộc Tổng thống Liên Xô M Gorbachev phải từ chức và
cùng ngày đó, ngày 25-12-1991 lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện
Cẩm Linh (Kremlin) sau 74 năm bị hạ xuống. Đây là một thất bại
nặng nề của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, dẫn
đến hệ thống thế giới của chủ nghĩa Cộng sản trên thực tế không
còn tồn tại nữa.(1) Thật vậy, nếu K Marx còn sống dưới thời
Lenin, Stalin thì hẳn là K Marx đã chết trong các trại cải tạo
ngút ngàn ở Sibérie rồi và ông ta cũng không thấy được nhân loại
vui mừng thế nào khi vứt bỏ chủ nghĩa CS vào giỏ rác lịch sử:
Liên Xô và các nước Đông Aâu xụp đổ vào cuối thế kỷ
XX..!
Ngày nay, với sự tiến bộ của nhân loại, quan niệm lịch sử thần
bí không có tính thuyết phục và phản khoa học, đi ngược lại thực
tế sinh động đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày. Mặt khác,
nếu cho rằng lịch sử do ý thức của một người, một lớp người, với
điều kiện hoàn cảnh xã hội tác động một cách biện chứng có thể
đúng với từng sự kiện, từng thời kỳ lịch sử nhưng lại không lý
giải được toàn bộ tiến trình của lịch sử. Thực tế, lịch sử đã
cho chúng ta thấy rằng, trong suốt tiến trình lịch sử của một
dân tộc, tuy có những thời kỳ rời rạc thậm chí ngắt quãng nhưng
thực ra dòng lịch sử vẫn vận động tiến triển theo một chiều
hướng riêng biệt mà người ta thường gọi là định mệnh của một dân
tộc. Hướng đi lịch sử như một sợi dây vô hình xuyên suốt tiến
trình lịch sử một dân tộc, gắn liền các sự kiện, các biến cố
lịch sử theo một chu kỳ vận động từ suy vong cùng cực tới tột
đỉnh vinh quang rồi lại từ trên đỉnh cao hưng thịnh, xã hội tự
nó nảy sinh những mâu thuẫn nội tại phá vỡ thế ổn định để rồi
trở lại thời kỳ suy vong theo quy luật muôn đời thường hằng bất
biến của chu kỳ Âm dương biến dịch.
Lịch sử nhân loại chứng kiến biết bao hưng phế, thăng trầm của
các dân tộc với những đỉnh cao vinh quang của nền văn minh rực
rỡ để rồi lại tàn lụi theo thời gian kéo theo sự suy vong của cả
một dân tộc. Tiến trình hưng vong của một dân tộc tùy thuộc vào
tư tưởng chủ đạo, bản sắc văn hoá tạo thành sức sống của dân tộc
đó. Chính bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện dân tộc tính với
những tư tưởng chủ đạo nhân ái hoà bình mang tính truyền thống
xuyên suốt toàn bộ dòng vận động lịch sử đã tập đại thành nền
văn minh đạo đức Việt tồn tại mãi với thời gian. Ngược lại,
những tư tưởng phi nhân từ quân chủ phong kiến chuyên chế, đến
thực dân, đến độc tài phát xít, đế quốc rồi siêu đế quốc nhằm nô
dịch con người, tước đoạt quyền sống căn bản tối thiểu của một
con người, dù che đậy dưới những danh từ hoa mỹ như lý tưởng
khai hoá giải phóng, xây dựng xã hội công bằng văn minh này,
thiên đường Xã Hội chủ nghĩa nọ sớm muộn cũng sẽ cáo chung. Bài
học lịch sử đã cho thấy một chế độ độc tài dù thống trị kềm kẹp
dân chúng đến đâu cũng sẽ tiêu vong bởi chính ý chí của nhân dân
một khi họ đã ý thức được thế nào là dân chủ chính thống, dân
chủ tự do thực sự, thế nào là dân chủ giả hiệu, lừa bịp mị dân…
Nhà sử học lừng danh Arnold Toynbee trong tác phẩm nổi tiếng“
Nghiên cứu lịch sử” (A study of history) đã nhận định:“Nếu thiếu
những sự thử thách tức là thiếu những yêu cầu cấp thiết bức bách
đòi hỏi phải biết vận dụng một cách vượt bực khả năng xoay
chuyển tình thế thì không có điều kiện để một cộng đồng người
thể hiện được hết sức mạnh và sự sáng tạo của họ. Chính những sự
đáp ứng thích hợp trước những sự thử thách, sự vận dụng một
cách vượt bậc khả năng xoay chuyển tình thế đã đưa tới những
thành tựu văn hoá lớn, đã tạo nên bản lĩnh của các dân tộc và có
thể nói rằng lịch sử hình thành một nền văn minh lớn không bao
giờ diễn ra trên một con đường bằng phẳng với những bước đi bình
thản. Lịch sử luôn luôn tiến lên phía trước dù cho có sự lập lại
trong hiện tại với những dạng thức nào đó, của những hiện tượng
nào đó trong quá khứ thì lịch sử nói chung không bao giờ lập lại
”.
Vấn đề của thời đại chúng ta là phải phục hồi tính khách quan
trung thực của sự thực lịch sử. Lịch sử đúng nghĩa không phải là
để ca tụng, thần thoại hoá kẻ cầm quyền. Lịch sử cũng không phải
để ghi chép những yêu cầu chính trị giai đoạn mà lịch sử phải
trung thực khách quan để hậu thế quyền phán xét cuối cùng. Chúng
ta không thể chấp nhận những chiêu bài giả nhân giả nghĩa là “
Khai hoá giải phóng các dân tộc nhược tiểu” nhưng thực chất là
để tuyên truyền biện minh cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc, siêu
đế quốc Cộng sản để nô dịch văn hoá, xoá bỏ dân tộc, tước đoạt
quyền sống căn bản của con người và thân phận con người nô lệ
trở lại thời Trung cổ!
Chính vì thế, chúng ta không thể chấp nhận một loại sử quan
chính trị luôn luôn tô hồng chế độ, thần thánh hoá lãnh tụ vĩ
đại như một Stalin, một Mao Chủ tịch (2) một Hồ chí Minh như một
siêu nhân có những phẩm chất siêu thực như một vị thần thánh.
Siêu nhân này cái gì cũng biết, cái gì cũng thấy, lãnh tụ suy
nghĩ thay cho mọi người, cái gì cũng làm được và không bao giờ
phạm sai lầm. Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên xô Ng. Kroutchev
báo cáo trước Đại hội 20 Đảng CS Liên Xô rằng:“ Đã đến lúc
chúng ta phải xem xét lại toàn bộ sách giáo khoa lịch sử xã hội
Liên xô, các sách về lịch sử nội chiến và cuộc chiến tranh vệ
quốc vĩ đại thời Stalin với toàn bộ tính khách quan khoa học”.
Chính vì ý đồ xấu của chính trị, lịch sử đã bị lợi dụng cho mục
đích phục vụ cá nhân lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu chính trị nên
không phản ánh trung thực sự kiện thực tế nên đã đánh mất niềm
tin của quần chúng. “Lịch sử sẽ chẳng còn là lịch sử nữa khi
người ta viết sử theo nghị quyết, theo khuôn mẫu đúc sẵn một
chiều” như giáo sư Phan Huy Lê Viện trưởng Viện Sử học của nhà
nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã phải lên tiếng và
chính sử gia Đào Duy Anh cũng đã phải chua chát thốt lên rằng:“
Có biết tôi cũng chỉ ở lịch sử dân tộc mà có buộc tội tôi cũng
chỉ ở lịch sử dân tộc ..!”. (2bis)
Sử học thời đại mới bước sang thiên niên kỷ thứ III phải đạt tới
mẫu mực soi rọi ánh sáng của sự thật và phê phán con người, chế
độ. Phục hồi khách quan tính, bằng cách sắp xếp cấu trúc lại sự
kiện một cách hợp lý để khôi phục tính trung thực của lịch sử
trong toàn thể dòng vận động lịch sử. Sử học ngày nay đã phục
hồi giá trị chân lý của lịch sử. Sử gia chân chính phải tôn
trọng sự thật lịch sử với tính khách quan trung thực cho dù phải
trả giá bằng chính mạng sống của mình. Tôn trọng sự thật, phục
hồi chân lý khách quan lịch sử của thời quá khứ, phê phán các
sự kiện, các biến cố lịch sử một cách khách quan để vượt lên
trên biên kiến hẹp hòi của dân tộc, tôn giáo, ý hệ. Sử gia chân
chính phải tìm hiểu cặn kẽ các sự kiện lịch sử của quá khứ, sắp
xếp lại theo quá trình biện chứng một cách thống quán xuyên suốt
toàn bộ dòng vận động lịch sử của mỗi dân tộc nói riêng và cả
nhân loại nói chung.
Will Durant với công trình vĩ đại: “Lịch sử văn minh nhân loại”
đã viết: “ Viết sử mà có đầu óc hẹp hòi, theo truyền thống cũ
bắt đầu bằng sử Hy Lạp, chỉ chép vài hàng về sử Châu Á thì là
thiển cận, thiếu hiểu biết, hậu quả có thể tai hại. Tương lai ở
phía Thái Bình Dương và chúng ta phải hướng cặp mắt và trí óc về
phía đó”. Thật vậy, người ta thường nói: “Trung Hoa là thiên
đường của các sử gia. Trong mấy ngàn năm đất nước này đã có
những viên Thái sử ghi chép tất cả những điều xảy ra và nhiều
điều khác nữa”. Burton Walson cho rằng “ Không có dân tộc nào
ham viết sử và ham đọc sử như dân tộc Trung Hoa. Đời Chu cách
đây 3000 năm họ đã đặt ra chức sử quan chép lại những Điển, Mô,
Huấn, Cáo của vua tôi thời Nghiêu (2357-2256 TDL), vua Thuấn
(2255-2206 TDL), nghĩa là chép lại những sự việc quan trọng hàng
ngàn năm trước. Nhờ vậy ngày nay chúng ta hiểu về thời cổ đại
hơn là cổ sử La Hy của phương Tây”.
Lịch sử một dân tộc là quyển “Quốc phả” truyền lưu từ đời này
sang đời khác những sự kiện, những biến cố thăng trầm suy vong
của dân tộc nên sử gia, người chép sử giữ một vai trò quan trọng
không những ở hiện tại mà còn cả ở tương lai do hậu thế phán
xét. Sử gia phải là những người thông kim bác cổ, có kiến thức
của một nhà bác học và văn chương như một nhà văn mà còn luận cổ
suy kim như một triết gia nữa. Tuy nhiên, hậu thế nhận định các
sử gia không chỉ ở tài năng mà quan trọng hơn là đức tính dám
viết sự thật, không khuất phục quyền uy bạo lực để bẻ cong ngòi
bút của mình. Ngày nay hậu thế cũng không ngớt lời ca tụng bốn
anh em Thái sử nước Tề đời chiến quốc đã “ uy vũ bất năng khuất”
không sợ bạo chúa, cường quyền hy sinh tính mạng của mình để
viết lên sự thật:“Thôi Trữ giết vua”. Truyện kể vào thời Chiến
Quốc vua Tề gian dâm với nàng Thị Khương là vợ của Tể tướng Thôi
Trữ, nên bị Thôi Trữ giết. Quan Thái Sử Bá ghi: “Vua Tề gian dâm
với Thị Khương nên bị Thôi Trữ giết Vua cướp ngôi”. Thôi Trữ bắt
Thái Sử Bá sửa lại nhưng Bá vẫn giữ nguyên nên bị chém đầu.
Người em thứ hai Thái Sử Trọng lên thay cũng viết y như anh nên
bị Thôi Trữ chém, người em thứ ba là Thái Sử Thúc lên thay anh
vẫn giữ nguyên sự thật như hai người anh nên cũng bị Thôi Trữ
chém chết. Người em thứ tư Thái Sử Quý lên thay chức vẫn hiên
ngang chấp nhận cái chết chứ không bẻ cong ngòi bút, viết sai sự
thật. Sự ngay thẳng, khí tiết của bốn anh em Thái Sử nước Tề
khiến Thôi Trữ hồi tâm tha chết và để cho Thái Sử Quý viết hết
sự thật vì sự thật là sự thật, sớm muộn gì cũng bị phanh phui ..
nguyền rủa. Truyện kể bạn của Quý là Nam Sử Thị ở nước láng
giềng cũng qua chấp nhận cái chết để nói lên sự thật vì nghĩ thế
nào Quý cũng bị giết không còn ai can đảm nói lên sự thật. Điều
này chứng tỏ sức mạnh của quần chúng nhân dân: “ Đại nghĩa thắng
hung tàn”, dù độc tài bạo ngược đến đâu thì sớm muộn gì cũng sụp
đổ tiêu vong.
Khổng Tử là sử gia đầu tiên ở Trung Hoa, ông đã có công san định
Kinh Thư và soạn bộ Xuân Thu là bộ biên niên ghi chép chuyện
nước Lỗ từ Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công ( từ 722 đến 491 TDL).
Trong Kinh Xuân Thu chép lại chính sự triều Chu và các nước chư
hầu. Giá trị của kinh Xuân Thu ở chỗ: “Ngụ bạo biếm, biệt thiện
ác” tức khen chê việc làm của vua chúa để phân biệt đúng sai,
thiện ác. Kinh Xuân Thu là loại kinh điển hàm chứa triết lý
chính trị:“Chính danh định phận”. Vua phải ra vua, tôi phải ra
tôi. Mỗi người phải hành xử đúng đắn với danh phận của mình thì
danh phận mới đúng đắn. Chính Khổng Tử đã ca ngợi:“Sở Ngư là sử
gia trung thực ngay thẳng”(trực tai sở ngư). Sau Khổng Tử, bộ
“Sử ký” của Tư Mã Thiên được Lỗ Tấn ca ngợi là:“Tuyệt xướng của
sử gia” là “Ly tao không vần”(3). Ban Cố trong bài Tư Mã Thiên
truyện tán cũng viết: “ Văn của ông thẳng suốt, việc của ông ghi
chép chắc chắn, không tô điểm cho đẹp, không giấu cái xấu cho
nên có thể coi là “ thực lục” nghĩa là chép đúng sự thực”. Bộ sử
ký viết dưới thời Hán mà Tư Mã Thiên vẫn phê phán ngay cả Hán
Cao Tổ với những thói xấu như ham mê tửu sắc, bài bạc, ghen
ghét các công thần. Ngay như Lữ Hậu, vợ Hán Cao Tổ thì ông chép
lại hành vi ghen tuông ghê tởm của bà ta đối với một ái phi của
Lưu Bang là Thích phu nhân. Khi Cao Tổ chết, Lữ Hậu cho khoét
mắt, chặt cụt chân tay rồi nhốt vào cầu tiêu gọi là “heo người”
(nhân trệ) khiến Huệ Đế trông thấy ghê sợ một năm mới hết.
Trong lời mở đầu cho tác phẩm “Việt Nam Thông sử”, nhà bác học
Lê Quí Đôn viết: “Những đức hạnh tốt và những lời nói hay, những
mưu sâu và kế lớn của các bậc vua Thánh, tôi hiền đã có công gây
dựng cơ đồ, nếu cứ để lu mờ hoặc bị che lấp, khiến cho không thể
nào nổi bật lên, thì nhất định là gian ngoan và tham quan ô lại
sẽ nhờ đó mà được giấu mặt, đáng trách lắm thay !”. Chính vì vậy
Lê Quí Đôn đã nhấn mạnh đến việc tôn trọng sự thật như một tôn
chỉ của người chép sử “ Việc soạn sử phải lấy việc dùng người
làm trọng. Người có văn học nhưng không biết cách chép sử thì
không thể cho dự vào sử quán. Người có văn học biết cách chép sử
nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự..”. Vấn đề cốt lõi là
lương tâm của người chép sử. Người viết sử phải tôn trọng sự
thật, chân lý khách quan của lịch sử, đồng thời phải nắm vững
phương pháp sử học, tuân thủ trình tự là trước hết phải biết
chọn lựa rồi căn cứ vào nguồn sử liệu trung thực để từ cơ sở đó
khôi phục lại sự kiện lịch sử, giải thích và đánh giá những sự
kiện lịch sử một cách hết sức khách quan trung thực. Người viết
sử phải nghiên cứu mỗi sự kiện lịch sử trong tiến trình xuyên
suốt toàn bộ lịch sử một dân tộc. Mỗi sự kiện và toàn bộ dòng
vận động lịch sử thường chịu ảnh hưởng của những điều kiện chủ
quan và khách quan tác động theo nguyên lý tương tác nhân quả để
tạo thành những biến chuyển lịch sử.
Bên cạnh nền văn minh Trung Hoa là nền văn minh Lưỡng Hà của
Phương Đông, Bộ thế giới sử của Abl-Er Rahmanibn Khaldoun người
Ả Rập tiêu biểu cho nền văn minh Lưỡng Hà. Tác phẩm đồ sộ nổi
tiếng này phải mất 50 năm mới hoàn thành với giá trị độc đáo đến
nổi sử gia nổi tiếng Toynbee phải lên tiếng ca ngợi là “ tác
phẩm lớn nhất trong loại đó ở bất kỳ thời đại nào và trong bất
cứ dân tộc nào”.
Trên đây chúng ta vừa phân tách sử quan phương Tây và quan niệm
sử của phương Đông cũng như nhận xét về nhân cách của sử gia qua
các thời đại để có một nhận thức đúng đắn về lịch sự hiện đại.
Sử quan thời hiện đại với tinh thần duy lý của triết học phương
Tây đã dẫn đến hai quan niệm sử đối kháng: Duy tâm và Duy vật.
Sử quan của hai hệ thống ý thức, hai hệ tư tưởng đấu tranh quyết
liệt đưa nhân loại vào thế đối đầu một thời tưởng như không lối
thoát có thể tiêu diệt cả nhân loại. Trong quá khứ, nhân loại
cũng đã khốn khổ chứng kiến cuộc chiến tranh tôn giáo kéo dài
hàng thế kỷ, giết chết biết bao sinh mạng con người một cách phi
lý. Thế rồi, nhân loại cũng đã vượt thoát thời kỳ tối tăm xuẩn
động đó để tìm ra một triết lý làm phong phú cho đời sống tâm
linh sâu thẳm của con người. Đến nay, cái gọi là “thời chiến
tranh lạnh” giữa hai siêu cường đứng đầu hai hệ thống ý thức xem
như đã chấm dứt với sự sụp đổ của Liên Xô và sự xét lại tự điều
chỉnh của chủ nghĩa Tư bản. Từ một thế giới đối đầu, lưỡng cực
về chính trị và quân sự chuyển sang một thế giới đa cực, đa
nguyên về tư tưởng và chính trị, thể hiện tính tất yếu tự do tư
tưởng của con người trước thiên niên kỷ thứ III. Thế nhưng, nhân
loại lại quay trở lại quan niệm cực đoan về dân tộc và tôn giáo,
người ta dễ bị kích động để sẵn sàng hi sinh mạng sống để vừa là
“anh hùng dân tộc” vừa là “Thánh tử đạo”. Quan niệm cực đoan này
dẫn đến những cuộc chiến tranh mang màu sắc chủng tộc và tôn
giáo đang đe doạ sự tồn vong của cả nhân loại.
NGUỒN GỐC VIỆT TỘC Đọan 2
UYÊN HẠNH phụ trách phần
tuyển đọan trích đăng
Đã đăng:
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 1)
Trở về Trang Chính
|