|
Cũng như nhiều học giả ngoại quốc khi nghiên cứu về lịch sử Việt
Nam, nữ sĩ Blaga Dimitrova đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán
phục dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực
đan quyện hoà lẫn với nhau đến nỗi khó có thể phân biệt đâu là
huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Mỗi dân tộc đều có những
truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân
tộc mang tính sử thi của mình. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên
về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại
tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống
nhân đạo Việt Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào
của nòi giống Việt. Đã là người Việt Nam thì từ em bé thơ ngây
đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân
suốt đời chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ
tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong chúng ta mà không biết về
nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của “Bố Lạc Mẹ Âu” mở đầu
thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt.
Kể từ khi Ngô Sĩ Liên dẫn truyện họ Hồng Bàng trong “Lĩnh Nam
Trích Quái” để chép kỷ Hồng Bàng trong bộ Đại Việt sử ký Toàn
Thư, thì lần đầu tiên huyền thoại Rồng Tiên, nguồn gốc của dân
tộc Việt được ghi trong chính sử nước ta. Gần đây, công trình
nghiên cứu về “Lục Độ Tập Kinh” của học giả Lê Mạnh Thát cho
chúng ta biết thêm là chính Khương Tăng Hội thông qua Lục Độ Tập
Kinh là người đầu tiên bảo lưu truyền thuyết “trăm trứng” của
dân tộc ta. Năm 251 Khương Tăng Hội dịch Lục Độ tập Kinh sang
chữ Hán có truyện trăm trứng mà nguyên bản chữ Phạn là “trăm cục
thịt” của truyền thống Phạn Văn mà bản dịch tiếng Trung Quốc đã
lưu hành khắp Trung Nguyên. Lục Độ Tập kinh đã bảo lưu cho thế
hệ Việt Nam chúng ta, về nguồn gốc dân tộc qua câu chuyện trăm
trứng trong kinh Phật mãi tới ngày nay.
Truyền thuyết Việt Nam không mang tính huyền thoại hoang đường
của chủ nghĩa duy thần cuồng tín hoặc duy nhân thái quá, đề cao
con người thái quá khiến con người bị nhấc bổng lên trên không,
để từ đó sinh ra tự mãn cho rằng chỉ có con người làm nên tất
cả, chỉ có cái ta duy lý đó dẫn tới quan niệm độc tôn, độc đoán,
độc tài … của phương Tây. Truyền thuyết Việt Nam không mang tính
huyền thoại ly kỳ như truyền thuyết về tình yêu của những anh
hùng không thực và giai nhân tuyệt sắc của Ấn Độ.
Truyền thuyết Việt Nam cũng không thiên về sức mạnh của vật
chất, của bắp thịt siêu nhiên kiểu Samson, Hercule, Héraclès.
Truyền thuyết Việt Nam cũng không tôn thờ những thần thánh “thế
tục hơn cả thế tục” kiểu thần Ouranos loạn luân vô đạo, thần tửu
sắc Baccus, nữ thần sắc đẹp Vénus dâm dục, thần quan thầy thương
mại Mercure tay cầm túi tiền, tay cầm dùi đục như thần thoại La
Hy phương Tây và những nước cận Đông khác.
Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn đó là truyền kỳ lịch sử Việt
Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất lại đề
cao con người với ý nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết
Việt Nam biểu trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những
thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy tình
đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “ Bọc điều trăm trứng
nở trăm con”. Từ ý niệm đồng bào dẫn đến lòng yêu nước, thương
nòi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý
truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam.
Gạt sang một bên những hư cấu hoang đường quen thuộc của huyền
thoại để cố gắng tìm hiểu những ẩn ý sâu xa hàm tàng trong
truyền thuyết, đã gợi cho chúng ta chìa khoá để giải mã bức
thông điệp Rồng Tiên từ ngàn xưa gửi cho cháu con đời sau. Tự
thân huyền thoại Rồng Tiên đã chiếu giải trung thực ý nghĩa của
những sự kiện lịch sử sau:
VIỆT
TỘC LÀ HẬU DUỆ CHÍNH THỐNG CỦA ĐẾ THẦN NÔNG:
Truyền thuyết đã được xác nhận bởi nguồn tịch cổ là dòng Thần
Nông phương Bắc định cư ở Bắc lưu vực Hoàng Hà, truyền đến đời
Du Võng tràn xuống phương Nam giao chiến với Li Vưu (Xuy Vưu)
cuối cùng bị Hoàng Đế đánh đuổi và chết ở Lạc Ấp. Dòng Thần
Nông phương Nam do Kinh Dương Vương, thủ lĩnh của liên minh bộ
lạc ở Châu Kinh và Châu Dương ở vùng lưu vực sông Dương Tử hình
thành nhà nước Xích Qui(5) ban sơ của Việt tộc.
Truyền thuyết cho ta biết là các chi tộc Việt vẫn chung sống hài
hoà, điều này được thể hiện qua việc Lạc Long Quân con của Kinh
Dương Vương, dòng Thần Nông phương Nam lấy công chúa Âu Cơ con
của Đế Lai dòng Thần Nông phương Bắc. Lịch sử lại hợp nhất 2
dòng Thần Nông Bắc và Nam lưu vực Hoàng Hà để truyền lưu mãi tới
ngày nay. Đây chính là cốt lõi của vấn đề chứ không như một số
người hẹp hòi đặt vấn đề theo cách nhìn thiển cận của họ là Lạc
Long Quân lấy cháu họ Âu Cơ. Xin lưu ý một điều là thời đó là
chế độ mẫu hệ nên vì thế không đặt thành vấn đề “loạn luân” theo
quan điểm chúng ta ngày nay. Mặt khác, ý nghĩa cao cả của việc
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ chính là để nói lên sự hợp nhất của 2
dòng Thần Nông Bắc và Nam mà người xưa muốn nhắn gửi cho đời sau
mà thôi.
Truyện cổ tích họ Hồng Bàng kể lại rằng:“Lạc Long Quân thay cha
trị nước, dạy dân cày cấy, ăn mặc. Trong nước từ đấy mới có thứ
tự quần thần, tôn ti trật tự, xã hội mới có luân thường đạo lý
giữa cha con, vợ chồng”. Thư tịch cổ cũng ghi rõ: “ Lạc Long
Quân giáo dân canh giá y thực, thủy hữu quần thần, tôn ti chi
tự, phụ tử, phu phụ chi luân. Việt nhân hô phụ viết bố, hô quân
viết vương” có nghĩa là Bố Lạc dạy dân cách cày cấy ăn mặc, vua
tôi vợ chồng có luân thường đạo lý. Người Việt gọi phụ (cha) là
Bố, gọi vương (vua) là Quân. Thực tế này chứng tỏ Việt tộc ngay
từ thời đó đó có một nền văn minh đạo đức góp phần hình thành
truyền thống văn hiến Việt.
Truyền thuyết cũng cho biết rằng Việt tộc là hậu duệ của Viêm đế
Thần Nông mà hình tượng là Totem phức thể “Đầu người, thân trâu”
là ông Tổ của nghề nông. Truyền thuyết kể lại rằng Thần Nông uốn
gỗ làm “lỗi” đẽo gỗ làm “trĩ”, những dụng cụ này dùng sức kéo để
vạch thành luống đất, dạy dân cày cấy. Theo“Bách Việt Ngọc phả
Truyền thư” thì chỉ có nhị hoàng chứ không có tam hoàng như sách
sử Trung Quốc chép thêm Nữ Oa từ trước đến giờ. Phục Hi còn gọi
là Đế Thiên (2698-2599 TDL), họ Hiên Viên có tên thụy là Thái
Hạo thờ rồng. Truyền thuyết dân gian kể rằng bà Hoa Lư đạp nhân
khi đi qua đầm Lôi Trạch, dẫm lên vết chân khổng lồ của Lôi
Thần, vị thần Rồng cảm ứng mà sinh ra Phục Hi. Đây chính là thụ
thai theo lối “dã hợp”, bản sắc riêng biệt của người Việt cổ.
Là
con của Thần Rồng nên Phục Hi mang hình tượng đầu và mình là
người, phần dưới là thân Rồng. Em gái song sinh của Phục Hi là
Nữ Oa cũng nửa người nửa Rồng. Giới khảo cổ đã tìm được một bức
phù điêu chạm nổi hình hai anh em, đuôi quấn lấy nhau, tay Phục
Hi cầm tượng mặt trời, tay Nữ Oa cầm tượng mặt trăng. Phục Hi
truyền ngôi cho con là Thần Nông tức Đế Thần, họ Khương tên
thuỵ là Thiếu Hạo thờ chim. Sách “Đế vương Thế kỷ” chép về Thần
Nông như sau:“ Đế Viêm Thần Nông họ Khương, mẹ là Nhiệm Tợ con
gái của họ Hữu Kiều tên là Nữ Đang, làm chánh phi cho Thiếu
Diễm. Nhân dịp đi chơi phía Nam Hoa Sơn gặp Thần Long, cảm Nữ
Đang ở Thương Dương mà sinh Đế Viêm. Đế Viêm “đầu người thân
trâu”, lớn lên ở sông Khương nên lấy họ Khương. Đế Viêm đóng đô
ở Trần thuộc tỉnh Hà Nam, Đế Viêm chế ra đàn cầm 5 dây, bắt đầu
dạy thiên hạ trồng lúa nên dân gian gọi là Thần Nông. Thần Nông
vốn nổi lên từ Liệt Sơn nên còn gọi họ là Liệt Sơn, còn một họ
nữa là Đẩu Khôi ấy là Nông Hoàng. Dân gian truyền tụng rằng vào
thời Đế Viêm, chư hầu họ Túc Sa làm phản, không chịu vâng lời.
Cơ Văn can gián bị Túc Sa giết chết. Đế Viêm rút về Tu Đức. Dân
Túc Sa nổi giận giết vua rồi về theo Đế Viêm. Đế Viêm từ nước
Trần dòi đô về Khúc Phụ ở Lỗ, lập lại số 8 quẻ tức 8 lần 8 là 64
quẻ, ở ngôi 120 năm mới băng hà, mộ táng ở Trường Sa. Đế Viêm
lấy con gái họ Bôn Thuỷ tên là Thính Yểu, sinh ra Đế Lâm, Đế Lâm
sinh Đế Khôi, Đế Khôi sinh Đế Thừa .. Đế Minh, Đế Trực, Đế Ly,
Đế Du Võng phàm 8 đời trị vì 530 năm”.(6)
Lưu An trong tác phẩm “ Hoài Nam tử” chép lại thời thái bình
thịnh trị của Thần Nông như sau:“Xưa khi Thần Nông trị thiên hạ,
tinh thần không xuôi ngược trong lòng, trí óc không rong ruổi
ngoài 4 cõi. Người ta mang lòng nhân, mưa ngọt tuôn rơi, ngũ cốc
tốt tươi. Xuân sinh, Hạ lớn, Thu gặt, Đông cất. Tháng rảnh ngày
thơi, cuối năm dâng cúng, đúng thời thường khoản, cùng ở “Minh
Đường”. Chế độ “Minh Đường” tuy có mà không. Bốn phương mưa gió
thuận hoà, thời tiết ấm áp ôn hoà. Thần Nông nuôi dân lấy công
bằng là chính, dân tình chất phác ngay thẳng, không tranh đua
giành giật mà dư của ăn của để, không nhọc nhằn thân xác mà vẫn
xong việc, cùng sống hoà đồng nên được trời đất giúp đỡ. Do thế,
có uy mà không giết, ra hình mà không dùng, pháp luật bớt đi
không phiền ai cả. Vì vậy sự cải hoá của “ Người” giống như
thần. Đất của Người, Nam tới Giao Chỉ không ai là không nghe
vậy. Vào thời ấy, luật ít hình nhẹ, lao tù trống trơn mà thiên
hạ một tục, chẳng ai mang lòng gian trá …”.(7)
Truyền thuyết cho chúng ta biết rằng Việt tộc là hậu duệ của Đế
Viêm Thần Nông mà từ xưa đến nay chúng ta cứ cho là của Hán tộc.
Truyền thuyết cũng nói tới dòng Thần Nông phương Bắc, dòng Thần
Nông phương Nam nên một số người nghĩ rằng Tàu là dòng Thần Nông
phương Bắc, ta là dòng Thần Nông phương Nam nên cho rằng ta với
Tàu là cùng một gốc. Thậm chí một tiến sĩ sử học còn ngộ nhận
cho ta là từ người Tàu mà ra. Đó là điều đáng buồn đáng hổ thẹn
cho dòng giống con Rồng cháu tiên của chúng ta.Thế nên việc tìm
hiểu về cội nguồn dân tộc từ truyền thuyết, từ những mảnh vụn
của lịch sử để phục hồi sự thật, tìm về cội nguồn dân tộc. Chân
lý khách quan của lịch sử sẽ sáng tỏ, trả lại những gì sự thật
lịch sử cho lịch sử chính là ước vọng ngàn đời của tất cả chúng
ta, những con dân đất Việt hôm nay. Vấn đề đặt ra là tại sao
truyền thuyết lại bắt đầu từ Đế Minh, cháu 3 đời của Đế Viêm
Thần Nông chứ không phải từ Thần Nông? Làm sáng tỏ vấn nan này
chính là để khẳng định Đế Viêm chính là ông Tổ của Việt tộc,
đồng thời minh xác Việt tộc là hậu duệ chính thống của Phục Hi,
Thần Nông kế thừa Am dương Dịch biến luận, tinh hoa của triết
thuyết phương Đông. Tư Mã Thiên, tác giả bộ Sử ký nổi tiếng được
xem là đại biểu cho sử quan chính thống của Hán tộc đã viết
Hoàng Đế, thủ lĩnh của liên minh bộ lạc trung nguyên là người mở
đầu lịch sử Trung Quốc mà không hề nhắc gì tới Phục Hi, Thần
Nông.
Ngày nay, các nhà Trung Hoa học đều thống nhất quan điểm là
trước khi Hán tộc tràn xuống chiếm lĩnh trung nguyên thì tộc
người mà cổ sử Trung Quốc gọi là“Di Việt” đã làm chủ trung
nguyên từ xa xưa. Lịch sử Trung Quốc chỉ thực sự bắt đầu từ
triều Thương, Chu mà thôi. Ngay các học giả uyên bác của Trung
Quốc như V.K.Tinh, Wang Kwo Vu đều xác định là tất cả huyền
thoại về các vị vua cổ xưa đều không thấy ghi chép gì trong “
Giáp cốt” đời Thương. Nếu Hoàng Đế là người khai mở lịch sử TQ
thì chắc chắn phải ghi rõ trong giáp cốt nên không cần phải bàn
cãi nhiều về nhân vật này. Sự tích tên tuổi của các nhân vật
huyền sử Phục Hi, Thần Nông mới được nhắc tới trong sách vở vào
thời Xuân thu Chiến quốc là thời kỳ nở rộ của Bách Việt. Nhóm
Tân học“Nghi cổ phái” do nhà văn Quách Mạt Nhược chủ xướng đã
chính thức bãi bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc.
Chính Lương Khải Siêu, nhà chính trị nổi tiếng một thời của Hán
tộc cũng phải thừa nhận là lịch sử Trung Quốc mới chỉ có khoảng
4 ngàn năm nay mà thôi.
Thời
Xuân Thu là thời kỳ phục hưng của Việt tộc với sự trổi dậy của
các quốc gia Bách Việt, hết Ngô đến Việt xưng “Bá” rồi tới Sở
lãnh đạo liên minh 6 nước trung nguyên chống Tần giành quyền
thống lĩnh trung nguyên. Chính vì vậy, thời kỳ này mới xuất hiện
các nhân vật huyền sử Việt từ Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông, Đế
Hoàng (Hoàng Đế) tới Nghiêu Thuấn, Vũ nhà Hạ của Việt tộc. Chính
Khổng Tử, người được xem là“Vạn thế Sư biểu” của Trung quốc cũng
biết rõ điều này nên chưa hề nhắc tới nhân vật Hoàng Đế mặc dù
Khổng Tử đã xác nhận rõ là theo triều Chu “ Ngô tòng Chu ..!”.
Trong tác phẩm “Cổ sử Khảo” của Tiều Chu (199-270),“Tam ngũ
lịch” của Từ Chỉnh (200-260),“Đông kỷ” của Vỹ Chiếu
(204-273),“Đế vương Thế kỷ” của Hoàng Phủ Mật (215-282) thì tất
cả các sử gia Trung Quốc này đều khẳng định rằng Thần Nông có
liên quan huyết thống với Việt tộc. Nói cách khác, Việt tộc là
hậu duệ của Thần Nông. Cổ thư Trung quốc chép lại sự kiện là đời
Nghiêu Thuấn đánh dẹp họ Cộng Công (của Hán tộc) vì đã tranh
ngôi với Chúc Dung (2690TDL) là hậu duệ của Đế Viêm Thần Nông.
Vua các nước Trịnh và hoàng tộc một số nước ở bán đảo Sơn Đông
như Tề, Lỗ, Trần đều nhận họ là con cháu Thần Thái Sơn và lấy họ
Khương là họ của Thần Nông. Gần đây, học giả Eberhard một nhà
Trung Hoa học nổi tiếng đã công bố một sự thật là vào khoảng năm
450 TDL, một người viết sử đã đưa Hoàng Đế nguyên là một vị thần
nhỏ trong địa phận Sơn Đông lên làm vị vua đầu tiên của Hán tộc.
Sơn Đông là địa bàn cư trú của Lạc bộ Trĩ của Việt tộc mà cổ sử
TQ gọi là rợ Đông Di nên vị thần Đế Hoàng chính là người Việt cổ
nhưng Hán tộc nhận là thuỷ tổ nên viết lại là Hoàng Đế theo cú
pháp Hán tự của họ. Nếu Hoàng Đế là một nhân vật có thật thì Đế
Hoàng phải là người Việt cổ, hậu duệ của Thần Nông nhưng thuộc
dòng Thần Nông phương Bắc. Cổ sử ghi lại là năm thứ sáu đời Chu
Thành Vương 1100 TDL, Việt Thường cử sứ giả đến triều Chu biếu
một con chim Bạch Trĩ, quan Trủng Tể Chu Công Đán nhớ lời Hoàng
Đế có lời thề rằng “ Giao Chỉ ở ngoài phương xa, không được xâm
phạm ..”. Nguồn sử liệu trên cũng hé mở cho chúng ta thấy là
Hoàng Đế có liên hệ huyết thống với Việt tộc.
Theo
Từ Hải thì Hoàng Đế, Li Vưu đều là những thị tộc trưởng nên sở
dĩ có chiến tranh là để giành ngôi vị thủ lĩnh mà thôi. Truyền
thuyết xưa cũng kể rằng Thần Nông và Hoàng Đế có cùng một ông Tổ
là Thiếu Điển. (8) Tất cả các chứng cứ trên đã góp
phần làm sáng tỏ sự thật lịch sử, phục hồi chân lý khách quan
của lịch sử đó là nhân vật Đế Hoàng là người Việt cổ chứ không
phải thuỷ tổ của Hán tộc như Tư Mã Thiên đã viết. Như vậy, thời
đại “Tam Hoàng, Ngũ Đế” của họ chính là của Việt tộc. Tam Hoàng
gồm Toại Nhân được xem là thuỷ tổ của loài người, kế đến là Phục
Hy họ Thái Hạo thờ Rồng và Thần Nông họ Thiếu Hạo thờ chim.
Một vấn đề khác cũng phải đặt ra là sau thời đại Tam Hoàng là
tới Ngũ Đế gồm Đế Hoàng, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế
Thuấn đều là người Việt cổ. Công trình nghiên cứu của Nguyễn
Nguyên về Hán ngữ và các phương ngữ Bách Việt ở Trung nguyên đã
nhận xét chỉ có người Hakka (Hẹ) là Lạc bộ Trĩ ở vùng sông Bộc
và bán đảo Sơn Đông có phát âm tương tự với Hán Việt và tiếng
nôm của Việt tộc [Ngieu] còn Quan thoại và các phương ngữ khác
đọc khác. Sự kiện này chứng tỏ thêm rõ là Đế Nghiêu là người
Việt cổ.(9) Cổ sử Trung quốc cũng cho biết họ Đào
Đường tức Đế Nghiêu đóng đô ở Bình Dương thuộc Sơn Tây. Đế
Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn đóng đô ở Bồ Bản cũng thuộc Sơn
Tây. Thuấn truyền ngôi cho Vũ lập ra nhà Hạ. Mạnh Tử xác nhận
vua Thuấn là người Đông Di và từ điển Từ Hải cũng xác định là tổ
tiên và con cháu Thuấn đều được phong ở đất Đông Di. Thế mà Tư
Mã Thiên, sử quan chính thống Đại Hán lại bao biện cho rằng
Thuấn bị xem là người Đông Di vì thói quen hồi đó gọi là như
thế. Luận điệu này không có tính cách thuyết phục nếu không muốn
nói là khôi hài. Tại sao lại có thói quen gọi một người đồng
chủng nhất là một vị vua là rợ Đông Di? Chính bản thân Tư Mã
Thiên chỉ vì là bạn Lý Lăng mà đã bị tội phải “cung hình”, cắt
bỏ bộ phận sinh dục huống chi gọi vua là man di mọi rợ, chắc
chắn phải bị tru di cửu tộc chứ không phải là tam tộc nữa!
Trong khi chính cổ thư Trung quốc chép là vua Thuấn lấy vợ Việt
và về ở ở rể tại nhà vợ. Sách Lễ Ký viết rõ hơn:“ Đế Thuấn là
một nông dân Việt ở Lôi Trạch đã phát minh ra đàn huyền 5 dây để
ca bài Nam Phong và ông Qui chế ra nhạc để thưởng chư hầu”. Theo
Mã Đoan Lâm trong sách “Văn hiến Thông khảo” thì lúc đầu Tam
Miêu không chịu phục nên vua Thuấn đã sai Vũ đi đánh cũng không
được nên Thuấn chế ra đàn huyền 5 dây để hát bài Nam Phong. Cổ
thư chép là cả Vua Thuấn và ông Vũ đều mặc áo “lông chim” rồi
cầm khiên múa điệu vũ Li Vưu. Sau 3 năm là con số linh của Việt
tộc thì Tam Miêu mới chịu phục vì nhận ra Thuấn, Vũ có cùng một
nền văn hoá, cùng một chủng tộc. Theo Đổng Trọng Thư thì Li Vưu
là cổ thiên tử, là vua phương Nam trước là viên quan xem thiên
văn có cánh mà không bay được hàm ý chỉ người thuộc chi Au Việt
thờ chim. Tương truyền Li Vưu được thần thoại hoá là rồng vàng
cao cả, là người có 4 mắt, 6 tay với 2 phụ tá là thần gió và
thần mưa. Công trình nghiên cứu của Kim Định cho biết Li Vưu
cũng là tên một bài múa gồm nhiều vũ nhân nhất 9.9=81. Li Vưu
cũng chỉ lá cờ hay xuất hiện trên bầu trời như hình sao chổi
đuôi cong, nền cờ màu đỏ ở giữa có hình tròn màu vàng mà sau này
Hoàng Đế Quang Trung cũng chọn lá cờ của thánh tổ Li Vưu thời cổ
đại.(10)
Theo nhà nghiên cứu Vũ Bình người Trung quốc thì khi giải mã chữ
“Vũ” cổ đã cho rằng đó là dáng múa của cư dân nông nghiệp khi
cầu mưa. Vũ nhạc có quan hệ mật thiết với lễ dâng hương của
truyền thống thờ cúng thần mặt trời, thờ cúng tổ tiên của cư dân
nông nghiệp. Vấn đề gốc tích vua Vũ lại sáng tỏ khi cổ sử Trung
quốc còn ghi rõ là năm Quí Tỵ (2.198 TDL), vua Đại Vũ nhà Hạ hội
chư hầu ở Cối Kê thuộc U Việt. Năm Quí Mão 2.085 TDL, vua Thiếu
Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư chép
vua Vũ được ban cho “Cửu Trù” cũng là “ Cửu Đỉnh” nên chia nước
ra 9 châu. Kim Định trích dẫn Danses kể lại truyền thuyết về vua
Vũ khi đi trị thuỷ, đào sâu xuống lòng sông thì gặp mả của Phục
Hi, khi mở ra thấy Phục Hy đang quấn đuôi Nữ Oa. Vua Đại Vũ được
ban cho sách “Lạc thư” cũng trên dòng sông Lạc. Miền Trung và Hạ
lưu sông Hoàng Hà có 2 con sông cùng có tên là sông Lạc. Một ở
ngã ba Tam Giang Bắc của người Việt cổ chi Lạc bộ Chuy ở vùng
Thiểm Tây, Sơn Tây và một ở Bắc tỉnh Hà Nam cũng gọi là sông Lạc
nhưng viết với bộ Thuỷ. Hai thuỷ danh gắn liền với tộc danh đã
chứng tỏ vua Đại Vũ là người Việt vì chỉ có ông Vũ mới được
thiên duyên là rùa thần nổi lên trên sông Lạc, đội quyển sách
“Lạc thư” có ghi 9 điều khoản để trị nước.
Nói
cách khác, huyền sử cho chúng ta thấy rằng quyển sách đó là tinh
hoa Việt bao gồm “Hồng phạm Cửu trù” với Lạc thư để vua Vũ lập
ra nhà Hạ của Việt tộc. Sử sách còn ghi lại là vua Thuấn tuần du
phương Nam rồi chết ở núi Thương Ngô. Núi Thương Ngô trước tên
là núi Cửu Nghi ở miền Bắc tỉnh Hồ Nam là địa bàn cư trú của
Bách Việt. Hai bà vợ đi theo buồn đau than khóc rồi chết bên bờ
sông Tương nên dân gian lập đền thờ hai bà gọi là “Tương phi”.
Sông Tương bắt nguồn từ Long Uyên chảy vào hồ Động Đình và ăn
lên tới vùng Ba Thục là đất Bách Việt (Bai-Yue). Dân gian còn
lập đền thờ Sương Quân là con gái vua Nghiêu ngay bên hồ Động
Đình.
Cổ
thư Trung Hoa chép lại rằng vua các nước Ngô Việt đều tự hào là
con cháu Hoàng Đế và vua Đại Vũ nhà Hạ. Chính Tư Mã Thiên trong
“Sử ký” cũng tự mâu thuẫn khi chép rằng tổ tiên của Câu Tiễn,
vua nước Việt thời Xuân Thu là dòng dõi vua Vũ. Hiện ở núi Cối
Kê tỉnh Triết Giang Trung quốc bây giờ vẫn còn đền thờ vua Vũ,
nơi mà ngày xưa vua Vũ đã đến hội chư hầu tại đây. “Sử Ký” cũng
chép rằng vua nước Sở nhận rằng là hậu duệ của Hoàng đế Hiên
Viên. Hùng Dịch người được triều Chu phong cho ở đất Sở là cháu
vua Kinh Man là Chuyên Húc (còn gọi là Xuyên Húc) ông tổ của nhà
Hạ. Cổ thư ghi rõ Chuyên Húc thuộc dòng họ Cao Tân Cao Dương của
Việt tộc còn lưu lại dấu ấn trong sự tích trầu cau. Đế Cốc kế
tiếp Đế Chuyên Húc lại là cháu của vua Thiếu Hạo, dòng Thần Nông
thờ chim là vật biểu chính là chi Au Việt (Bái điểu tộc) của
Việt tộc. Đế Nghiêu họ Đào Đường là con thứ của Đế Cốc, em Đế
Chí nhưng vì Đế Chí nhu nhược nên chư hầu tôn Nghiêu lên làm vua
lấy hiệu là Đường Nghiêu. Sự thật lịch sử này sẽ làm đảo lộn tất
cả những sử sách kinh điển của Hán tộc viết theo lý của kẻ mạnh
để “Lộng giả thành chân” khiến mọi người tin theo bao đời nay.
Trở về Trang Chính
|