|
LTS:
Nguồn Gốc Việt Tộc của Quốc việt Phạm Trần Anh là một quyển sử
giá trị. Khoahoc.net sẽ lần lượt trích đăng để cống hiến độc giả
xa gần. Qua nhiều dữ kiện tài liệu tham khảo phong phú sẽ cho
chúng ta và con cháu chúng ta tìm về gốc tích một dòng giống
Việt Nam oai hùng khí khái, tạo vững mạnh trong ta và hun đúc
giữ gìn tình đồng bào nghĩa nhân lọai…
*
* *
Sử
quan phương Đông mà một số học giả phương Tây thường gọi là của
Trung Hoa được đánh giá cao. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ và
nhất là sống trong cái gọi là “nền thái bình Trung Hoa” chúng ta
mới thấy được thực chất “Đại Hán bành trướng” của đế chế phong
kiến Trung Quốc. Thật vậy, bắt đầu từ Khổng Tử, người được xem
là Triết gia và sử gia đầu tiên của Trung Quốc cũng để lộ ra cái
Gene Đại Hán khi đề cao tôn chỉ “Tôn Chu nhượng Di” và “Dĩ Hạ
biến Di” để “Đại nhất thống thiên haï” nghĩa là đánh dẹp Di
địch, tôn phù nhà Chu, lấy cái văn minh Hoa Hạ để cải biến man
di thành Hán để Hán tộc thống trị các nước. Đó chính là chủ
trương Hán hoá, một hình thái thực dân nô dịch văn hoá các dân
tộc ở Trung Nguyên để đồng hoá họ thành người Hán ngay từ thời
cổ đại. Điều này đã được chính các bậc thức giả Trung Quốc nhìn
nhận trong bộ:“Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc”(4) như sau
“Nguyên uỷ của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán khởi từ
thời cổ đại mà đến ngày nay, các sử gia học giả Trung Quốc vẫn
coi bộ Xuân Thu của Khổng Tử như kinh điển truyền thống của họ.
Tôn chỉ mà Khổng Tử khi viết bộ Xuân Thu là Tôn Chu nhượng Di,
Đó là tư tưởng đại nhất thống bằng mọi cách chinh phục các dân
tộc khác qui về một mối, bên trong là dân tộc Hoa Hạ (tức Đại
Hán) bên ngoài là Di địch” (5). Điều này cũng dễ hiểu vì Khổng
Tử là hậu duệ của Thành Thang vua triều Thương-Ân là triều đại
đã diệt nhà Hạ và chủ trương xâm chiếm tiêu diệt Việt tộc.
Sử sách Trung Quốc ngày nay vẫn tự hào về dòng dõi gọi là Hán
tộc của họ.Tầm nguyên từ Hán(6)có nghĩa là to lớn, chữ này ghép
theo bộ Thủy ý nói những người xới đất trồng tỉa sinh sống ở ven
sông nhưng sở dĩ gọi là Hán vì triều đại Hán là triều đại rực rỡ
nhất của Hán tộc. Lịch sử Trung Quốc chỉ khởi đầu từ triều
Thương nhưng Thương chỉ là một tộc người(7) du mục ở Tây Bắc sau
tiến công xuống lưu vực Hoàng Hà diệt nhà Hạ, chiếm cứ địa bàn
gồm phía Đông tỉnh Sơn Tây, phía Tây tỉnh Sơn Đông, phía Nam
tỉnh Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Hà Nam. Cổ sử chép thời đó có tới
cả ngàn chư hầu nhưng trên thực tế là những bộ lạc gần kinh đô
mới chịu sự thống trị của triều Thương mà thôi. Đến đời Tần, sau
khi đã đánh thắng các nước trở thành bá chủ Trung Nguyên, Tần
Thủy Hoàng tổ chức guồng máy thống trị, thống nhất văn tự, diệt
Nho đốt sách, thống nhất đơn vị đo lường(8),xây Vạn Lý Trường
Thành chống Hung nô phương Bắc, sai Đồ Thư đem 10 vạn quân đánh
Bách Việt ở phương Nam.
Năm 221 TDI, Tần mới hoàn toàn làm chủ Trung nguyên. Chỉ trong
thời gian ngắn chưa tới 15 năm mà Tần Thuỷ Hoàng đã thành lập
một đế quốc lớn vào bậc nhất thế giới nên các sử gia phương Tây
ca tụng là vĩ nhân kim cổ. Người phương Tây biết đến Tần nhờ các
thương nhân chở lụa, hương liệu nên gọi Trung Quốc là Tần (Cin)
phiên âm là CINA bắt đầu từ đó(9). Sau Tần đến Hán là triều đại
mà lãnh thổ của đế chế Đại Hán rộng lớn nhất vì thế ngay cả Tư
Mã Thiên, người được xem là sử gia nổi tiếng đã dám phê phán Lưu
Bang tức Hán Cao Tổ và vợ là Lữ Hậu nhưng vì muốn nhận Hoàng Đế
và triều Hạ là lịch sử mở đầu của Trung Quốc nên đã bao biện
giải thích là vua Thuấn bị gọi là Đông Di vì thói quen chứ thực
ra vua Thuấn là người Hán. Lý luận này không thể chấp nhận được
vì không thể do thói quen mà gọi vua của mình là người nước khác
được nhất là Đông Di dưới con mắt Đại Hán, lại là man di thì
chắc chắn phải tru di tam tộc. Tư Mã Thiên mới chỉ can ngăn vua
hỏi tội Lý Lăng mà đã bị cung hình (cắt bỏ bộ phận sinh dục) vì
tội xem thường vua chứ đừng nói tới tội nhạo báng dám gọi vua là
man di mọi rợ. Chính vì tư tưởng chủ quan “ Đại Nhất Thống” của
Đại Hán nên Tư Mã Thiên, một sử gia nổi tiếng không những của
Trung Quốc mà còn của cả nhân loại nữa cũng đã đánh mất tính
ngay thẳng trung trực của một sử gia .
Trong khi hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có một thời gian
dài thanh bình nên hình thành những tác phẩm văn học lịch sử bất
hủ, xây dựng được những công trình kiến trúc nguy nga độc đáo,
thì lịch sử của dân tộc Việt là lịch sử của cuộc trường kỳ kháng
chiến chống ngoại xâm ngay từ những ngày đầu dựng nước. Nếu mỗi
dân tộc đều có một định mệnh riêng thì không có một dân tộc nào
trên thế giới lại có nhiều thăng trầm dâu bể như dân tộc Việt
Nam. Lịch sử Việt tộc đầy rẫy những thương đau mất mát, chia lìa
đứt đoạn suốt cả ngàn năm mất nước chịu sự nô lệ của giặc Tàu,
một trăm năm đô hộ của giặc Tây. Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng
danh nghĩa đấu tranh giành độc lập dân tộc để bành trướng chủ
nghĩa cộng sản dẫn đến cuộc chiến tranh ý thức hệ tư bản cộng
sản kéo dài gần ¼ thế kỷ khiến mấy triệu đồng bào vô tội đã phải
hi sinh cho cuộc chiến vô nghĩa.
Ngay từ thời lập quốc, đế chế phong kiến“Đại Hán” phương Bắc đã
ra sức tiêu diệt Việt tộc, triệt tiêu văn hoá, xoá bỏ văn tự đến
nỗi ngày nay chúng ta không còn dấu vết nào để tìm về cội nguồn
dân tộc. Bộ Đại Việt Sử Lược của một tác giả khuyết danh vào thế
kỷ XIV (khoảng từ 1377-1388) được coi là bộ sử xưa nhất của nước
ta thì bản duy nhất còn sót lại trong Tứ Khố toàn thư đã bị Tiền
Hy Tộ sử quan triều Thanh sửa chữa, hiệu đính cho phù hợp với
chủ trương Đại Hán cố hữu của họ. Tiền Hy Tộ đã đổi tên bộ sách
từ Đại Việt Sử Lược thành Việt Sử Lược, cũng như nội dung đã bị
xuyên tạc bóp méo một cách trắng trợn, lộ liễu. Niên đại thành
lập quốc gia Văn Lang được kéo lùi lại để tạo một nghi vấn về sự
đứt đoạn không liên tục từ nhà nước Việt Thường và Xích Qui sơ
khai đến quốc gia Văn Lang của Việt tộc sau này. Niên đại thành
lập Văn Lang được sửa đổi nên hoàn toàn khác biệt với truyền
thuyết, kể cả một số thư tịch cổ Trung Quốc, hòng xoá nhoà dấu
vết cội nguồn Việt tộc(10). Mãi đến đời Trần Thánh Tôn
(1258-1278) Lê Văn Hưu mới biên soạn bộ Đại Sử Việt gồm 30 quyển
chép từ đời Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Vua Trần cũng sai
văn thần chép công trạng của các tướng sĩ đã góp công tạo nên kỳ
tích oai hùng hiển hách ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông trong
quyển“Trung Hưng thực lục”. Sau đó, Hồ Tông Thốc cuối đời Trần
soạn bộ Việt Sử Thế Chí và Việt Sử Cương Mục. Tất cả những bộ
sách sử này đã bị quân Mông tịch thu đem về Kim Lăng tiêu huỷ .
Đến đời nhà Lê, Ngô Sĩ Liên soạn bộ sử nổi tiếng “Đại Việt Sử Ký
toàn thư”. Nhận định về bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu (12) và
Phan Phu Tiên tục biên, sử gia Ngô Sỹ Liên nhận định “ Lê văn
Hưu là tay bút lớn đời Trần. Phu Tiên là bậc lão thành Triều
Thánh đều vâng chiếu chép về sử của nước mình (13). Về “ Việt Sử
Cương Mục” của Hồ Tông Thốc theo Ngô Sĩ Liên thì “ chép việc
thận trọng mà có phép, bình việc thiết đáng mà không thừa, có lẽ
cũng đã khá… Thế nhưng, sau cơn binh lửa sách ấy thất truyền…”.
Vào thời này nhiều tác phẩm sử học giá trị được biên soạn như
“Đại Việt Thông giám Tổng luận” cuả Lê Tung, “Việt Sử toàn thư”
của Phạm Công Trứ, “Quốc sử thực lục” của Nguyễn Quý Đức, “Đại
Việt Thông Sử” của nhà bác học Lê Quý Đôn. Thời Nguyễn, bộ “Sử
học Bị khảo” của Đặng Xuân Bảng, bộ “Khâm định Việt Sử Cương
mục” Thông giám Thực lục, “Đại Nam lịêt truyện” của Quốc sử quán
và bộ “Lịch Triều hiến chương” của Phan Huy Chú.
Thế nhưng các sử gia ta hầu hết chép từ thư tịch cổ Trung Quốc
trong đĩ các bộ: Sử ký và Tiền Hán Thư, Hậu Hán Thư được coi là
quan niệm sử chính thống của Hán tộc. Những bộ sử này hiển nhiên
là thiếu khách quan trung thực, chưa nĩi đến việc họ xuyên tạc
bĩp méo sự kiện lịch sử cho phù hợp với ý đồ “ bành trướng Đại
Hán” của họ. Bên cạnh Sử ký và Tiền Hán Thư cịn cĩ một số sách
sử khác khơng liệt vào quan điểm chính thống của Hán tộc nhưng
lại cung cấp cho chúng ta một số dữ kiện lịch sử cĩ giá trị. Đĩ
là các bộ “Giao Châu Ngoại Vực Ký” (10), “Quảng Châu Ký” (11).
“Nam Vịêt Chí”(12), “Nhật Nam Truyện” (13), “Thuỷ Kinh Chú”
(14), “Lộ sử” tức sử Lạc Việt của La Tất đời Tống .. Với các
nguồn sử sách này, lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta lần đầu
tiên được xuất hiện cũng như một số sử liệu về thời Hùng Vương
trong khi Sử ký và Tiền Hán thư khơng đề cập tới một cách chủ ý.
Chính vì thế khi tìm hiểu về nguồn cội dân tộc, chúng ta đứng
trước một mớ sử liệu mập mờ, bí hiểm và đôi khi trái ngược nhau.
Đó chính là ý đồ thâm độc của Hán tộc nhằm xoá bỏ vết tích nguồn
cội dân tộc sau khi đã “ diệt nho đốt sách, triệt tiêu văn tự
Việt cổ” của dân tộc ta. Tính trung thực của sách sử Trung Quốc
cũng đã được đặt ra bởi chính các sử gia Trung Quốc thì làm sao
chúng ta có thể tin được một Sử ký, một Tiền Hán thư và Hậu Hán
Thư. Thật vậy, Mạnh Tử đọc Thiên Vũ Thành trong Chu thư là bộ Sử
chính thống của triều Chu chỉ thấy vài câu là đáng tin cậy, còn
toàn là hư cấu nguỵ tạo. Vì vậy, Mạnh Tử đã cảnh giác môn sinh
đừng quá tin vào kinh điển. Mạnh Tử nói:“ Tận Tín thư bất như vô
thư” vì nếu nhắm mắt tin vào sách vở thì chẳng thà không có sách
còn hơn. Cách đây gần 1600 năm Bùi Tùng Chi (372-451) khi chú
thích Ngụy Chí đã viết: “Thần, Tùng Chi cho rằng sử ghi việc
phần lớn đã bị nhuận sắc, nên điều thật chép trước có chỗ chẳng
thực. Các tác giả sau sinh ý cải sửa, nên thất thiệt càng xa.
Tôn Thạch viết sách, phần lớn dùng họ Tả đổi lấy văn xưa, như
vậy chẳng phải một lần. Than ôi! Học giả về sau lấy gì làm tin
ư? ” Gần đây hơn là Đổng Phân khi viết bạt cho Thế Thuyết Tân
ngữ cũng nhận xét: “Người sử thần viết sách, đem ý đồ lén đổi,
phần lớn chẳng phải lời xưa!”.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề tìm về nguồn cội dân
tộc, các sĩ phu Việt Nam yêu nước như Trần Thế Pháp, Lý Tế
Xuyên đã ghi chép biên soạn lại những truyền khẩu dân gian về
truyền kỳ lịch sử nên lần đầu tiên những truyền thuyết huyền
thoại dưới dạng cổ tích được sưu tập lại chép thành văn bản. Năm
1329, Lý Tế Xuyên viết “Việt Điện U Linh” dựa trên sách sử xưa
mà nay không còn nữa như Giao Chỉ Ký, Báo cực truyện, Giao Châu
Ký của Triệu Công và Tăng Cổn thế kỷ IX, là người Trung Quốc đã
từng sang Việt Nam biên soạn và “Ngoại sử ký” của Đỗ Thiện đời
Lý(thế kỷXII) soạn dựa trên những mẩu truyện linh thiêng của dân
gian ở nước ta từ thời U-Việt ở Cối Kê tỉnh Triết Giang thuộc
Trung Nguyên.
Trần Thế Pháp hiệu là Thức Chi mở đầu:“Lĩnh Nam Trích Quái liệt
truyện” đã viết “Lịch sử Việt Nam kể từ thời xa xưa đến giờ đã
bị thất truyền quá nhiều nên sưu tập những truyện nào còn sót
lại để truyền miệng trong dân gian nhằm bảo lưu nguồn gốc giống
dòng, vì tuy là truyện dân gian truyền khẩu nhưng phải chăng
chính là sử trong truyện xưa tích cũ vậy”. Trong bộ sử nổi
tiếng “Đại Việt Sử Ký toàn thư ”, sử gia Ngô Sĩ Liên cùng với
các sử thần triều Lê mới chính thức đưa truyền thuyết khởi
nguyên của dân tộc vào chính sử. Sử gia Ngô Sĩ Liên đã dành
riêng một kỷ đặt tên là “KỶ HỒNG BÀNG”. Bắt đầu từ thời Kinh
Dương Vương lên ngôi năm 2879 TDL truyền thừa 18 đời Hùng Vương
đến Hùng Duệ Vương là vị vua cuối cùng coi như chấm dứt thời đại
Hùng Vương vào năm 258 TDL. Tính ra tổng cộng 18 đời Hùng Vương
kéo dài 2622 năm. Tuy lần đầu tiên Ngô Sĩ Liên đưa Kỷ Hồng Bàng
vào chính sử, phần ngoại kỷ nhưng Ngô Sĩ Liên cũng xác định là “
Những việc chép trong ngoại kỷ đều gốc ở dã sử, việc nào quái lạ
quá thì bớt không chép ”. Chính vì thế, một số sử gia cho rằng
truyền thuyết trăm trứng Rồng Tiên và thậm chí cả thời đại Hùng
Vương chỉ là thần thoại hoang đường huyền hoặc, một cái nhìn sai
lầm thiển cận hết sức đáng tiếc.
Trong suốt dòng sử Việt, tất cả các vua chúa Việt Nam đều không
những tin tưởng mà còn tự hào với truyền thuyết con Rồng cháu
Tiên của Việt Tộc, duy chỉ có Tự Đức tự cho mình là có học, có
cái nhìn khác người nên Tự Đức đã phê trong Khâm Định Việt Sử
thông giám cương mục như sau: “ Kinh thi nói. Đấy trăm con đó ấy
là để ca ngợi chuyện có nhiều con trai. Khảo e sự thật đó thì
cũng chưa đến như vậy. Huống nữa là truyện trăm trứng sao? Nếu
quả nhiên là sinh ra từ trăm trứng, thì lấy gì mà phân biệt với
cầm thú để còn có thể làm người ư? Tuy một trứng chim đen, đạp
lấy dấu chân người khổng lồ, những chuyện ấy cũng chưa quái đản
như chuyện đây. Nó cùng với chuyện thân rắn đầu người, thân
người đầu trâu cũng một loại hoang đường không thể khảo sát
được…”!
Chúng ta không ngạc nhiên gì về những nhận định phiến diện của
Tự Đức một ông vua có đầu óc hẹp hòi thiển cận. Với Tự Đức,
chúng ta có thể hiểu và thông cảm phần nào nhưng một số người
gọi là sử gia thì không thể chấp nhận được. Các sử thần thời Tự
Đức cũng viết về thời đại Hùng Vương trong Khâm Định Việt sử
Thông giám cương mục như sau:“Họ Hồng Bàng làm vua cả thảy là
hai ngàn sáu trăm hai mươi hai năm (2879-258 TCN) không biết
lấy bằng cứ ở đâu ?”. Sau đó Trần Trọng Kim cũng nhận định “ Đấy
cũng là điều nói phỏng chứ không có lấy gì làm đích xác được
..”. Đây cũng là điều dễ hiểu vì phần lớn trong số họ chịu ảnh
hưởng của văn hoá Hán Nho. Tuy nhiên gần đây, một số người chịu
ảnh hưởng của “Tây học” nên quá lệ thuộc vào sách sử, học vị
cùng với đầu óc duy lý đã dẫn tới những nhận định phiến diện sai
lầm như trường hợp Tiến sĩ sử học Nguyễn Phương trong quyển
“Việt Nam thời khai sinh”. Họ lần mò trong những thư tịch cổ mà
họ gọi là chính sử Trung quốc thì làm sao có thể tìm thấy những
sử liệu minh văn một khi kẻ thù “Đại Hán” quiû quyệt đã xuyên
tạc, bóp méo thậm chí sửa đổi sự thật lịch sử cho phù hợp với ý
đồ thâm độc của chúng? Đã không có một cái nhìn tổng thể xuyên
suốt toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc, lại bị ràng buộc
bởi những giáo điều kinh điển ngoại lai nên không dám đặt vấn đề
nguồn cội dân tộc, mà lại còn phủ nhận giá trị truyền thuyết
khởi nguyên của dân tộc để kéo lùi niên đại thành lập quốc gia
Văn Lang cho phù hợp với sử quan Đại Hán, với quan hệ hữu nghị
hợp tác Trung-Việt một thời.
Chính nguồn sử liệu mù mờ, huyền hoặc đôi khi mâu thuẫn của các
sử gia Đại Hán cùng với tinh thần vọng ngoại, nô dịch của một số
hủ nho cũng như một số “ sử gia mất gốc” ngày nay nhân danh khoa
học lịch sử hiên đại lại xem sự nô dịch của phong kiến thực dân,
đế quốc, siêu đế quốc là khai sáng, là khai hoá giải phóng rồi
nghi ngờ phủ nhận truyền thuyết khởi nguyên dân tộc khiến cho
lớp mây mù huyền thoại ngày càng dầy đặc phủ kín hiện thực sống
động của lịch sử Việt tộc.
Tìm về nguồn cội dân tộc chúng ta không thể căn cứ hoàn toàn vào
cái gọi là“ Chính sử Trung Quốc” mà trái lại, phải tìm kiếm sử
liệu ở những sách vở mà Tàu gọi là“Ngoại thư”. Thực tế đây là
những sử liệu mang tính trung thực nhất do những người tuy gọi
là Tàu nhưng gốc Việt cổ vẫn còn tấm lòng đối với dòng giống
Việt cổ nên đã thu thập sử liệu để truyền lưu cho đời sau về
nguồn cội dân tộc. Nếu không có “An Nam Chí” của Cao Trùng Hưng
thì làm sao chúng ta biết được “đất Giao Chỉ khi chưa có quận
huyện (nghĩa là chưa bị Hán đô hộ), có ruộng Lạc do nước triều
lên xuống. Khẩn ruộng ấy là những Lạc dân, cai trị dân ấy là Lạc
Vương. Giúp việc Lạc vương là Lạc tướng, đều có ấn đồng thao
xanh, gọi là nước VĂN-LANG”, không có “Lộ sử” của La Tất thì
làm sao chúng ta biết rõ sử của Lạc Việt. Cũng như không có một
“Nam Việt Chí” của Thẩm Hoài Viễn thì chúng ta cũng không biết
gì về thời đại Hùng Vương trong khi chính sử Hán tộc như Sử Ký,
Tiền Hán thư, Hậu Hán thư đều không đề cập đến một cách có chủ
đích. Đó là chủ trương nhất quán của “Đại Hán bành trướng” suốt
dòng lịch sử khởi từ triều Thương cho tới mãi ngày nay. Vì thế,
trong những lần xâm lăng nước ta, Hán triều đều ra lệnh cho đội
quân xâm lược triệt tiêu văn tự, đốt bỏ sách vở, đập phá các văn
bia đình chùa, đền đài miếu mạo. Chúng ra lệnh thiêu huỷ tại chỗ
không cần mang về vì sợ bị lấy lại hoặc thất lạc. Triều đình
Trung Quốc ra lệnh cấm quan chức các địa hạt nơi có sứ đoàn ta
đi qua không được nhận quà sợ bị mua chuộc, mặt khác họ lại cấm
các nhân viên sứ đoàn không được phép mua khí giới hoặc thuốc
súng và nhất là sách sử. Sự thật lịch sử không chối cãi được này
đã chứng tỏ Hán tộc luôn chủ trương một mặt triệt tiêu văn tự,
đốt bỏ sách sử của ta, mặt khác chúng lại bưng bít các nguồn sử
liệu để để cội nguồn dân tộc chìm vào quên lãng.
Vì vậy, bên cạnh các nguồn thư tịch cổ chúng ta phải tìm hiểu về
huyền sử dân tộc qua các huyền thoại, truyền thuyết dân gian.
Nhờ vậy, chúng ta mới hiểu được người xưa đã gửi gấm những ý
nghĩa trung thực về một thời kỳ lịch sử được che giấu dưới lớp
vỏ hư cấu huyền hoặc của truyền thuyết cho chúng ta. Đó chính là
thần trí Việt, bức thông điệp ngàn xưa của tiền nhân đòi hỏi
chúng ta phải giải mã vì “Truyền thuyết thần thoại hàm chứa
những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất”. Huyền thoại Rồng Tiên
của Việt tộc với những nhân vật thần thoại từ Phục Hi, Nữ Oa,
Thần Nông rồi Bố Rồng, Mẹ Tiên là những hình tượng nguyên sơ
mang tính tâm linh “chính là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư
của thời đại tạo dựng độc sáng chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn
từ minh nhiên lý luận” như triết gia Jung đã nhận
định.
Ngày nay, Sử học tuy vẫn dạy ở Văn khoa nhưng được xem là khoa
học nhân văn nên không thể thuần tuý dựa trên các nguồn sử liệu
mà phải được bổ sung bởi khoa Dân tộc học và Ngôn ngữ học. Lịch
sử nếu chỉ dựa trên các nguồn sử liệu minh văn chưa đủ, phải
được kiểm chứng bởi khảo cổ học với các di chỉ là bằng cớ sống
động sẽ phục hồi sự thật lịch sư ûcho dù nó được ngụy tạo, bị
xuyên tạc bóp méo hàng ngàn năm. Chủng tộc học với chỉ số đo sọ
và dung lượng sọ, tính cách sọ sẽ xác định chủng tộc trên cơ sở
khoa học hết sức chính xác. Khoa Khảo tiền sử sẽ đối chiếu chỉ
số sọ các chủng tộc, xác định địa bàn cư trú, con đường thiên di
của mỗi tộc người dựa trên tầng lớp của sọ được tìm thấy theo
thứ tự thời gian. Cuối cùng, kết quả của Chủng tộc học, Khảo cổ
học và Khảo Tiền sử còn được bổ sung bởi phương pháp đối chiếu
ngôn ngữ của các dân tộc vùng Đông Nam Á cùng với kết quả phân
tích hệ thống cấu trúc Gène di truyền của phân tử DNA, tất cả sẽ
cho chúng ta một nhận định đúng đắn về các dân tộc “đồng văn,
đồng chủng” này.
Nghiên cứu tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt chúng ta cũng
không thể không xét qua lịch sử Trung Nguyên thời cổ đại là nơi
định cư của Việt tộc sau khi biển lùi nhưng cuối cùng, Hán tộc
đã xâm lăng và làm chủ Trung Nguyên. Chúng ta cũng sẽ hiểu rõ
hơn về ngọn nguồn của cái gọi là “nền văn minh Trung Hoa” cũng
như công cuộc đấu tranh kiên cường đề kháng của Việt tộc trước
kẻ thù phương Bắc. Tất cả sẽ góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc của
Việt tộc.
NGUỒN GỐC VIỆT TỘC Đọan 3
UYÊN HẠNH phụ trách phần
tuyển đọan trích đăng
Đã đăng:
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 1)
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 2)
Trở về Trang Chính
|