NGUỒN GỐC VIỆT TỘC

(phần 3)


 

Quốc Việt Phạm Trần Anh

15 tháng 11 năm 2007

LTS: Nguồn Gốc Việt Tộc của Quốc việt Phạm Trần Anh là một quyển sử giá trị. Khoahoc.net sẽ lần lượt trích đăng để cống hiến độc giả xa gần. Qua nhiều dữ kiện tài liệu tham khảo phong phú sẽ cho chúng ta và con cháu chúng ta tìm về  gốc tích một dòng giống Việt Nam oai hùng khí khái, tạo vững mạnh trong ta và hun đúc giữ gìn tình đồng bào nghĩa nhân lọai… 

 

 * * *

 

     Sử quan phương Đông mà một số học giả phương Tây thường gọi là của Trung Hoa được đánh giá cao. Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ và nhất là sống trong cái gọi là “nền thái bình Trung Hoa” chúng ta mới thấy được thực chất “Đại Hán bành trướng” của đế chế phong kiến Trung Quốc. Thật vậy, bắt đầu từ Khổng Tử, người được xem là Triết gia và sử gia đầu tiên của Trung Quốc cũng để lộ ra cái Gene Đại Hán khi đề cao tôn chỉ “Tôn Chu nhượng Di” và “Dĩ Hạ biến Di” để “Đại nhất thống thiên haï” nghĩa là đánh dẹp Di địch, tôn phù nhà Chu, lấy cái văn minh Hoa Hạ để cải biến man di thành Hán để Hán tộc thống trị các nước. Đó chính là chủ trương Hán hoá, một hình thái thực dân nô dịch văn hoá các dân tộc ở Trung Nguyên để đồng hoá họ thành người Hán ngay từ thời cổ đại. Điều này đã được chính các bậc thức giả Trung Quốc nhìn nhận trong bộ:“Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc”(4) như sau “Nguyên uỷ của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán khởi từ thời cổ đại mà đến ngày nay, các sử gia học giả Trung Quốc vẫn coi bộ Xuân Thu của Khổng Tử như kinh điển truyền thống của họ. Tôn chỉ mà Khổng Tử khi viết bộ Xuân Thu là Tôn Chu nhượng Di, Đó là tư tưởng đại nhất thống bằng mọi cách chinh phục các dân tộc khác qui về một mối, bên trong là dân tộc Hoa Hạ (tức Đại Hán) bên ngoài là Di địch” (5). Điều này cũng dễ hiểu vì Khổng Tử là hậu duệ của Thành Thang vua triều Thương-Ân là triều đại đã diệt nhà Hạ và chủ trương xâm chiếm tiêu diệt Việt tộc.

 

      Sử sách Trung Quốc ngày nay vẫn tự hào về dòng dõi gọi là Hán tộc của họ.Tầm nguyên từ Hán(6)có nghĩa là to lớn, chữ này ghép theo bộ Thủy ý nói những người xới đất trồng tỉa sinh sống ở ven sông nhưng sở dĩ gọi là Hán vì triều đại Hán là triều đại rực rỡ nhất của Hán tộc. Lịch sử Trung Quốc chỉ khởi đầu từ triều Thương nhưng Thương chỉ là một tộc người(7) du mục ở Tây Bắc sau tiến công xuống lưu vực Hoàng Hà diệt nhà Hạ, chiếm cứ địa bàn gồm phía Đông tỉnh Sơn Tây, phía Tây tỉnh Sơn Đông, phía Nam tỉnh Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Hà Nam. Cổ sử chép thời đó có tới cả ngàn chư hầu nhưng trên thực tế là những bộ lạc gần kinh đô mới chịu sự thống trị của triều Thương mà thôi. Đến đời Tần, sau khi đã đánh thắng các nước trở thành bá chủ Trung Nguyên, Tần Thủy Hoàng tổ chức guồng máy thống trị, thống nhất văn tự, diệt Nho đốt sách, thống nhất đơn vị đo lường(8),xây Vạn Lý Trường Thành chống Hung nô phương Bắc, sai Đồ Thư đem 10 vạn quân đánh Bách Việt ở phương Nam.

 

      Năm 221 TDI, Tần mới hoàn toàn làm chủ Trung nguyên. Chỉ trong thời gian ngắn chưa tới 15 năm mà Tần Thuỷ Hoàng đã thành lập một đế quốc lớn vào bậc nhất thế giới nên các sử gia phương Tây ca tụng là vĩ nhân kim cổ. Người phương Tây biết đến Tần nhờ các thương nhân chở lụa, hương liệu nên gọi Trung Quốc là Tần (Cin) phiên âm là CINA bắt đầu từ đó(9). Sau Tần đến Hán là triều đại mà lãnh thổ của đế chế Đại Hán rộng lớn nhất vì thế ngay cả Tư Mã Thiên, người được xem là sử gia nổi tiếng đã dám phê phán Lưu Bang tức Hán Cao Tổ và vợ là Lữ Hậu nhưng vì muốn nhận Hoàng Đế và triều Hạ là lịch sử mở đầu của Trung Quốc nên đã bao biện giải thích là vua Thuấn bị gọi là Đông Di vì thói quen chứ thực ra vua Thuấn là người Hán. Lý luận này không thể chấp nhận được vì không thể do thói quen mà gọi vua của mình là người nước khác được nhất là Đông Di dưới con mắt Đại Hán, lại là man di thì chắc chắn phải tru di tam tộc. Tư Mã Thiên mới chỉ can ngăn vua hỏi tội Lý Lăng mà đã bị cung hình (cắt bỏ bộ phận sinh dục) vì tội xem thường vua chứ đừng nói tới tội nhạo báng dám gọi vua là man di mọi rợ. Chính vì tư tưởng chủ quan “ Đại Nhất Thống” của Đại Hán nên Tư Mã Thiên, một sử gia nổi tiếng không những của Trung Quốc mà còn của cả nhân loại nữa cũng đã đánh mất tính ngay thẳng trung trực của một sử gia .

 

     Trong khi hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có một thời gian dài thanh bình nên hình thành những tác phẩm văn học lịch sử bất hủ, xây dựng được những công trình kiến trúc nguy nga độc đáo, thì lịch sử của dân tộc Việt là lịch sử của cuộc trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm ngay từ những ngày đầu dựng nước. Nếu mỗi dân tộc đều có một định mệnh riêng thì không có một dân tộc nào trên thế giới lại có nhiều thăng trầm dâu bể như dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt tộc đầy rẫy những thương đau mất mát, chia lìa đứt đoạn suốt cả ngàn năm mất nước chịu sự nô lệ của giặc Tàu, một trăm năm đô hộ của giặc Tây. Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng danh nghĩa đấu tranh giành độc lập dân tộc để bành trướng chủ nghĩa cộng sản dẫn đến cuộc chiến tranh ý thức hệ tư bản cộng sản kéo dài gần ¼ thế kỷ khiến mấy triệu đồng bào vô tội đã phải hi sinh cho cuộc chiến vô nghĩa.

 

       Ngay từ thời lập quốc, đế chế phong kiến“Đại Hán” phương Bắc đã ra sức tiêu diệt Việt tộc, triệt tiêu văn hoá, xoá bỏ văn tự đến nỗi ngày nay chúng ta không còn dấu vết nào để tìm về cội nguồn dân tộc. Bộ Đại Việt Sử Lược của một tác giả khuyết danh vào thế kỷ XIV (khoảng từ 1377-1388) được coi là bộ sử xưa nhất của nước ta thì bản duy nhất còn sót lại trong Tứ Khố toàn thư đã bị Tiền Hy Tộ sử quan triều Thanh sửa chữa, hiệu đính cho phù hợp với chủ trương Đại Hán cố hữu của họ. Tiền Hy Tộ đã đổi tên bộ sách từ Đại Việt Sử Lược thành Việt Sử Lược, cũng như nội dung đã bị xuyên tạc bóp méo một cách trắng trợn, lộ liễu. Niên đại thành lập quốc gia Văn Lang được kéo lùi lại để tạo một nghi vấn về sự đứt đoạn không liên tục từ nhà nước Việt Thường và Xích Qui sơ khai đến quốc gia Văn Lang của Việt tộc sau này. Niên đại thành lập Văn Lang được sửa đổi nên hoàn toàn khác biệt với truyền thuyết, kể cả một số thư tịch cổ Trung Quốc, hòng xoá nhoà dấu vết cội nguồn Việt tộc(10).  Mãi đến đời Trần Thánh Tôn (1258-1278) Lê Văn Hưu mới biên soạn bộ Đại Sử Việt gồm 30 quyển chép từ đời Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Vua Trần cũng sai văn thần chép công trạng của các tướng sĩ đã góp công tạo nên kỳ tích oai hùng hiển hách ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông trong quyển“Trung Hưng thực lục”. Sau đó, Hồ Tông Thốc cuối đời Trần soạn bộ Việt Sử Thế Chí và Việt Sử Cương Mục. Tất cả những bộ sách sử này đã bị quân Mông tịch thu đem về Kim Lăng tiêu huỷ .

 

      Đến đời nhà Lê, Ngô Sĩ Liên soạn bộ sử nổi tiếng “Đại Việt Sử Ký toàn thư”. Nhận định về bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu (12) và Phan Phu Tiên tục biên, sử gia Ngô Sỹ Liên nhận định “ Lê văn Hưu là tay bút lớn đời Trần. Phu Tiên là bậc lão thành Triều Thánh đều vâng chiếu chép về sử của nước mình (13). Về “ Việt Sử Cương Mục” của Hồ Tông Thốc theo Ngô Sĩ Liên thì “ chép việc thận trọng mà có phép, bình việc thiết đáng mà không thừa, có lẽ cũng đã khá… Thế nhưng, sau cơn binh lửa sách ấy thất truyền…”. Vào thời này nhiều tác phẩm sử học giá trị được biên soạn như “Đại Việt Thông giám Tổng luận” cuả Lê Tung, “Việt Sử toàn thư” của Phạm Công Trứ, “Quốc sử thực lục” của Nguyễn Quý Đức, “Đại Việt Thông Sử” của nhà bác học Lê Quý Đôn. Thời Nguyễn, bộ “Sử học Bị khảo” của Đặng Xuân Bảng, bộ “Khâm định Việt Sử Cương mục” Thông giám Thực lục, “Đại Nam lịêt truyện” của Quốc sử quán và bộ “Lịch Triều hiến chương” của Phan Huy Chú.        

 

      Thế nhưng các sử gia ta hầu hết chép từ thư tịch cổ Trung Quốc trong đĩ các bộ: Sử ký và Tiền Hán Thư, Hậu Hán Thư được coi là quan niệm sử chính thống của Hán tộc. Những bộ sử này hiển nhiên là thiếu khách quan trung thực, chưa nĩi đến việc họ xuyên tạc bĩp méo sự kiện lịch sử cho phù hợp với ý đồ “ bành trướng Đại Hán” của họ. Bên cạnh Sử ký và Tiền Hán Thư cịn cĩ một số sách sử khác khơng liệt vào quan điểm chính thống của Hán tộc nhưng lại cung cấp cho chúng ta một số dữ kiện lịch sử cĩ giá trị. Đĩ là các bộ “Giao Châu Ngoại Vực Ký” (10), “Quảng Châu Ký”   (11). “Nam Vịêt Chí”(12), “Nhật Nam Truyện” (13), “Thuỷ Kinh Chú” (14), “Lộ sử” tức sử Lạc Việt của La Tất đời Tống .. Với các nguồn sử sách này, lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta lần đầu tiên được xuất hiện cũng như một số sử liệu về thời Hùng Vương trong khi Sử ký và Tiền Hán thư khơng đề cập tới một cách chủ ý.

 

      Chính vì thế khi tìm hiểu về nguồn cội dân tộc, chúng ta đứng trước một mớ sử liệu mập mờ, bí hiểm và đôi khi trái ngược nhau. Đó chính là ý đồ thâm độc của Hán tộc nhằm xoá bỏ vết tích nguồn cội dân tộc sau khi đã “ diệt nho đốt sách, triệt tiêu văn tự Việt cổ” của dân tộc ta. Tính trung thực của sách sử Trung Quốc cũng đã được đặt ra bởi chính các sử gia Trung Quốc thì làm sao chúng ta có thể tin được một Sử ký, một Tiền Hán thư và Hậu Hán Thư. Thật vậy, Mạnh Tử đọc Thiên Vũ Thành trong Chu thư là bộ Sử chính thống của triều Chu chỉ thấy vài câu là đáng tin cậy, còn toàn là hư cấu nguỵ tạo. Vì vậy, Mạnh Tử đã cảnh giác môn sinh đừng quá tin vào kinh điển. Mạnh Tử nói:“ Tận Tín thư bất như vô thư” vì nếu nhắm mắt tin vào sách vở thì chẳng thà không có sách còn hơn. Cách đây gần 1600 năm Bùi Tùng Chi (372-451) khi chú thích Ngụy Chí đã viết: “Thần, Tùng Chi cho rằng sử ghi việc phần lớn đã bị nhuận sắc, nên điều thật chép trước có chỗ chẳng thực. Các tác giả sau sinh ý cải sửa, nên thất thiệt càng xa. Tôn Thạch viết sách, phần lớn dùng họ Tả đổi lấy văn xưa, như vậy chẳng phải một lần. Than  ôi! Học giả về sau lấy gì làm tin ư? ” Gần đây hơn là Đổng Phân khi viết bạt cho Thế Thuyết Tân ngữ cũng nhận xét: “Người sử thần viết sách, đem ý đồ lén đổi, phần lớn chẳng phải lời xưa!”.

 

        Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề tìm về nguồn cội dân tộc, các sĩ phu Việt Nam yêu nước như  Trần Thế Pháp, Lý Tế Xuyên đã ghi chép biên soạn lại những truyền khẩu dân gian về truyền kỳ lịch sử nên lần đầu tiên những truyền thuyết huyền thoại dưới dạng cổ tích được sưu tập lại chép thành văn bản. Năm 1329, Lý Tế Xuyên viết “Việt Điện U Linh” dựa trên sách sử xưa mà nay không còn nữa như Giao Chỉ Ký, Báo cực truyện, Giao Châu Ký của Triệu Công và Tăng Cổn thế kỷ IX, là người Trung Quốc đã từng sang Việt Nam biên soạn và “Ngoại sử ký” của Đỗ Thiện đời Lý(thế kỷXII) soạn dựa trên những mẩu truyện linh thiêng của dân gian ở nước ta từ thời U-Việt ở Cối Kê tỉnh Triết Giang thuộc Trung Nguyên.

 

      Trần Thế Pháp hiệu là Thức Chi mở đầu:“Lĩnh Nam Trích Quái liệt truyện” đã viết “Lịch sử Việt Nam kể từ thời xa xưa đến giờ đã bị thất truyền quá nhiều nên sưu tập những truyện nào còn sót lại để truyền miệng trong dân gian nhằm bảo lưu nguồn gốc giống dòng, vì tuy là truyện dân gian truyền khẩu nhưng phải chăng chính là sử trong truyện xưa tích cũ vậy”. Trong bộ sử nổi tiếng  “Đại Việt Sử Ký toàn thư ”, sử gia Ngô Sĩ Liên cùng với các sử thần triều Lê mới chính thức đưa truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc vào chính sử. Sử gia Ngô Sĩ Liên đã dành riêng một kỷ đặt tên là “KỶ HỒNG BÀNG”. Bắt đầu từ thời Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 TDL truyền thừa 18 đời Hùng Vương đến Hùng Duệ Vương là vị vua cuối cùng coi như chấm dứt thời đại Hùng Vương vào năm 258 TDL. Tính ra tổng cộng 18 đời Hùng Vương kéo dài 2622 năm. Tuy lần đầu tiên Ngô Sĩ Liên đưa Kỷ Hồng Bàng vào chính sử, phần ngoại kỷ nhưng Ngô Sĩ Liên cũng xác định là “ Những việc chép trong ngoại kỷ đều gốc ở dã sử, việc nào quái lạ quá thì bớt không chép ”. Chính vì thế, một số sử gia cho rằng truyền thuyết trăm trứng Rồng Tiên và thậm chí cả thời đại Hùng Vương chỉ là thần thoại hoang đường huyền hoặc, một cái nhìn sai lầm thiển cận hết sức đáng tiếc.

 

      Trong suốt dòng sử Việt, tất cả các vua chúa Việt Nam đều không những tin tưởng mà còn tự hào với truyền thuyết con Rồng cháu Tiên của Việt Tộc, duy chỉ có Tự Đức tự cho mình là có học, có cái nhìn khác người nên Tự Đức đã phê trong Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục như sau: “ Kinh thi nói. Đấy trăm con đó ấy là để ca ngợi chuyện có nhiều con trai. Khảo e sự thật đó thì cũng chưa đến như vậy. Huống nữa là truyện trăm trứng sao? Nếu quả nhiên là sinh ra từ trăm trứng, thì lấy gì mà phân biệt với cầm thú để còn có thể làm người ư? Tuy một trứng chim đen, đạp lấy dấu chân người khổng lồ, những chuyện ấy cũng chưa quái đản như chuyện đây. Nó cùng với chuyện thân rắn đầu người, thân người đầu trâu cũng một loại hoang đường không thể khảo sát được…”!

 

      Chúng ta không ngạc nhiên gì về những nhận định phiến diện của Tự Đức một ông vua có đầu óc hẹp hòi thiển cận. Với Tự Đức, chúng ta có thể hiểu và thông cảm phần nào nhưng một số người gọi là sử gia thì không thể chấp nhận được. Các sử thần thời Tự Đức cũng viết về thời đại Hùng Vương trong Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục như sau:“Họ Hồng Bàng làm vua cả thảy là hai ngàn sáu trăm hai mươi hai năm  (2879-258 TCN) không biết lấy bằng cứ ở đâu ?”. Sau đó Trần Trọng Kim cũng nhận định “ Đấy cũng là điều nói phỏng chứ không có lấy gì làm đích xác được ..”. Đây cũng là điều dễ hiểu vì phần lớn trong số họ chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán Nho. Tuy nhiên gần đây, một số người chịu ảnh hưởng của “Tây học” nên quá lệ thuộc vào sách sử, học vị cùng với đầu óc duy lý đã dẫn tới những nhận định phiến diện sai lầm như trường hợp Tiến sĩ sử học Nguyễn Phương trong quyển “Việt Nam thời khai sinh”. Họ lần mò trong những thư tịch cổ mà họ gọi là chính sử Trung quốc thì làm sao có thể tìm thấy những sử liệu minh văn một khi kẻ thù “Đại Hán” quiû quyệt đã xuyên tạc, bóp méo thậm chí sửa đổi sự thật lịch sử cho phù hợp với ý đồ thâm độc của chúng? Đã không có một cái nhìn tổng thể xuyên suốt toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc, lại bị ràng buộc bởi những giáo điều kinh điển ngoại lai nên không dám đặt vấn đề nguồn cội dân tộc, mà lại còn phủ nhận giá trị truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc để kéo lùi niên đại thành lập quốc gia Văn Lang cho phù hợp với sử quan Đại Hán, với quan hệ hữu nghị hợp tác Trung-Việt  một thời.

 

     Chính nguồn sử liệu mù mờ, huyền hoặc đôi khi mâu thuẫn của các sử gia Đại Hán cùng với tinh thần vọng ngoại, nô dịch của một số hủ nho cũng như một số “ sử gia mất gốc” ngày nay nhân danh khoa học lịch sử hiên đại lại xem sự nô dịch của phong kiến thực dân, đế quốc, siêu đế quốc  là khai sáng, là khai hoá giải phóng rồi nghi ngờ phủ nhận truyền thuyết khởi nguyên dân tộc khiến cho lớp mây mù huyền thoại ngày càng dầy đặc phủ kín hiện thực sống động của lịch sử Việt tộc.            

 

     Tìm về nguồn cội dân tộc chúng ta không thể căn cứ hoàn toàn vào cái gọi là“ Chính sử Trung Quốc” mà trái lại, phải tìm kiếm sử liệu ở những sách vở mà Tàu gọi là“Ngoại thư”. Thực tế đây là những sử liệu mang tính trung thực nhất do những người tuy gọi là Tàu nhưng gốc Việt cổ vẫn còn tấm lòng đối với dòng giống Việt cổ nên đã thu thập sử liệu để truyền lưu cho đời sau về nguồn cội dân tộc. Nếu không có “An Nam Chí” của Cao Trùng Hưng thì làm sao chúng ta biết được “đất Giao Chỉ khi chưa có quận huyện (nghĩa là chưa bị Hán đô hộ), có ruộng Lạc do nước triều lên xuống. Khẩn ruộng ấy là những Lạc dân, cai trị dân ấy là Lạc Vương. Giúp việc Lạc vương là Lạc tướng, đều có ấn đồng thao xanh,  gọi là nước VĂN-LANG”, không có “Lộ sử” của La Tất thì làm sao chúng ta biết rõ sử của Lạc Việt. Cũng như không có một “Nam Việt Chí” của Thẩm Hoài Viễn thì chúng ta cũng không biết gì về thời đại Hùng Vương trong khi chính sử Hán tộc như Sử Ký, Tiền Hán thư, Hậu Hán thư đều không đề cập đến một cách có chủ đích. Đó là chủ trương nhất quán của “Đại Hán bành trướng” suốt dòng lịch sử khởi từ triều Thương cho tới mãi ngày nay. Vì thế, trong những lần xâm lăng nước ta, Hán triều đều ra lệnh cho đội quân xâm lược triệt tiêu văn tự, đốt bỏ sách vở, đập phá các văn bia đình chùa, đền đài miếu mạo. Chúng ra lệnh thiêu huỷ tại chỗ không cần mang về vì sợ bị lấy lại hoặc thất lạc. Triều đình Trung Quốc ra lệnh cấm quan chức các địa hạt nơi có sứ đoàn ta đi qua không được nhận quà sợ bị mua chuộc, mặt khác họ lại cấm các nhân viên sứ đoàn không được phép mua khí giới hoặc thuốc súng và nhất là sách sử. Sự thật lịch sử không chối cãi được này đã chứng tỏ Hán tộc luôn chủ trương một mặt triệt tiêu văn tự, đốt bỏ sách sử của ta, mặt khác chúng lại bưng bít các nguồn sử liệu để để cội nguồn dân tộc chìm vào quên lãng.

      Vì vậy, bên cạnh các nguồn thư tịch cổ chúng ta phải tìm hiểu về huyền sử dân tộc qua các huyền thoại, truyền thuyết dân gian. Nhờ vậy, chúng ta mới hiểu được người xưa đã gửi gấm những ý nghĩa trung thực về một thời kỳ lịch sử được che giấu dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc của truyền thuyết cho chúng ta. Đó chính là thần trí Việt, bức thông điệp ngàn xưa của tiền nhân đòi hỏi chúng ta phải giải mã vì “Truyền thuyết thần thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất”. Huyền thoại Rồng Tiên của Việt tộc với những nhân vật thần thoại từ Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông rồi Bố Rồng, Mẹ Tiên là những hình tượng nguyên sơ mang tính tâm linh “chính là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của thời đại tạo dựng độc sáng chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý luận” như triết gia Jung đã nhận định.                     

 

      Ngày nay, Sử học tuy vẫn dạy ở Văn khoa nhưng được xem là khoa học nhân văn nên không thể thuần tuý dựa trên các nguồn sử liệu mà phải được bổ sung bởi khoa Dân tộc học và Ngôn ngữ học. Lịch sử nếu chỉ dựa trên các nguồn sử liệu minh văn chưa đủ, phải được kiểm chứng bởi khảo cổ học với các di chỉ là bằng cớ sống động sẽ phục hồi sự thật lịch sư ûcho dù nó được ngụy tạo, bị xuyên tạc bóp méo hàng ngàn năm. Chủng tộc học với chỉ số đo sọ và dung lượng sọ, tính cách sọ sẽ xác định chủng tộc trên cơ sở khoa học hết sức chính xác. Khoa Khảo tiền sử sẽ đối chiếu chỉ số sọ các chủng tộc, xác định địa bàn cư trú, con đường thiên di của mỗi tộc người dựa trên tầng lớp của sọ được tìm thấy theo thứ tự thời gian. Cuối cùng, kết quả của Chủng tộc học, Khảo cổ học và Khảo Tiền sử còn được bổ sung bởi phương pháp đối chiếu ngôn ngữ của các dân tộc vùng Đông Nam Á cùng với kết quả phân tích hệ thống cấu trúc Gène di truyền của phân tử DNA, tất cả sẽ cho chúng ta một nhận định đúng đắn về các dân tộc “đồng văn, đồng chủng” này. 

 

    Nghiên cứu tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt chúng ta cũng không thể không xét qua lịch sử Trung Nguyên thời cổ đại là nơi định cư của Việt tộc sau khi biển lùi nhưng cuối cùng, Hán tộc đã xâm lăng và làm chủ Trung Nguyên. Chúng ta cũng sẽ hiểu rõ hơn về ngọn nguồn của cái gọi là “nền văn minh Trung Hoa” cũng như công cuộc đấu tranh kiên cường đề kháng của Việt tộc trước kẻ thù phương Bắc. Tất cả sẽ góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc của Việt tộc.

        

NGUỒN GỐC VIỆT TỘC Đọan 3

UYÊN HẠNH phụ trách phần tuyển đọan trích đăng       

 

Đã đăng:

NGUỒN GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ (phần 1)

NGUỒN GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ (phần 2)

 

Trở về Trang Chính