HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN

TỪ TRUYỀN THUYẾT TỚI HIỆN THỰC LỊCH SỬ


 

Phạm Trần Anh

26 tháng 04 năm 2007

           Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng như nhiều học giả ngoại quốc khác đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hoà lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền  thống nhân đạo Việt Nam.

 

        Là người Việt Nam, từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả đến bác nông dân chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích họ Hồng Bàng. Chúng ta tự hào là con Rồng cháu Tiên của Bố Lạc Mẹ Au với thiên tình sử đẹp như một áng sử thi mở đầu thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt. Truyện họ Hồng Bàng về khởi nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác phẩm “ Việt Nam thế chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đã bị quân Minh tịch thu tiêu huỷ  nên không còn nữa. Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lý Tế Xuyên đời Trần đã chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ sách “LĨNH NAM TRÍCH QUÁI” và “VIỆT ĐIỆN U LINH”(1) để truyền lưu nguồn gốc giống dòng Việt cho đời sau. Trần Thế Pháp tác giả Lĩnh Nam Trích Quái viết :“Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc chưa có quốc sử để ghi chép cho nên nhiều truyện bị mất đi, may còn truyện nào không bị thất lạc được dân gian truyền miệng thì đó là SỬ ở trong truyện chăng? Than ôi, Lĩnh Nam Liệt truyện sao không khắc vào đá, viết vào tre mà chỉ truyền tụng ở ngoài bia miệng !? Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu, lấy đó làm răn, rất quan hệ đến cương thường, phong hoá. Oi ! Há đâu phải là điều lợi nhỏ ???”.

 

        Năm 1329, Lý Tế Xuyên viết Việt Điện U Linh cũng ấp ủ hoài bão bảo lưu truyền thuyết về nguồn cội dân tộc nên ông cho rằng:“Xem truyện họ HỒNG BÀNG thì hiểu lai do việc khai sáng nước HOÀNG VIỆT. Trời đã sai chim huyền điểu giáng thế sinh ra vua Thương thì hẳn có việc trăm trứng nở thành trăm con trai chia trị Nam quốc. Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được …”. Học giả Lê Quí Đôn trong “ Kiến văn Tiểu lục” viết năm 1777 đã nhận định : “ Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu ( 1329-1341) nhà Trần, Lý Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập, ghi đền miếu thờ các vị thần, có trình bày hạo khí linh tích 8 vị Đế vương Lịch đại và 12 vị nhân thần. Sách này lời văn trang nghiêm, sự việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề. Trong sách có dẫn Giao Châu ký của Tăng Cổn, Sử ký của Đỗ Thiện và truyện Báo cực. Những sách này đều không còn thấy lưu truyền ..!”.

 

        Mãi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng Vương vào bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ. Quan niệm của ông khi viết sử là để “Xét rõ nguồn gốc xưa nay của trị loạn để bạo biếm khen chê răn đời…”. Ngô Sĩ Liên mới ghi  thời đại HùngVương trong phần ngoại kỷ, mà chưa chính thức ghi vào chính sử cốt ý để cho thế hệ đời sau soi sáng cội nguồn qua các công trình nghiên cứu để minh nhiên lý giải nguồn gốc dân tộc. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Nước ĐẠI VIỆT ta ở về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đã chia bờ cõi Nam Bắc hẳn hòi. Thủy tổ của ta là con cháu Thần Nông. Trời đã sinh ra vị chân chúa vì thế mới cùng Bắc triều đều làm chúa Tể một phương ….”.

 

      Đại Việt Sử ký Toàn thư chép về họ Hồng Bàng như sau : “: Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, Rồi sau Đế Minh đi tuần phương Nam, đến dãy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quí lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh. Đế Minh vì thế lập Đế Nghi là con trưởng nối dòng trị  phương Bắc. Lại phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỉ. Vương lấy con gái Chúa Động Đình tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân huý là Sùng Lãm, nhà vua lấy con gái của Đế Lai là nàng Au Cơ, sinh ra trăm trai. Tục truyền là sinh ra trăm trứng), ấy là Tổ của Bách Việt (Trăm giống Việt). Một  hôm vua bảo Au Cơ rằng : “ Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, sum hợp thật khó”. Bèn cùng nàng từ biệt nhau, chia năm chục con theo mẹ về núi, năm chục con theo cha về miền Nam. Có sách chép là về biển Nam. Phong người con cả là Hùng Vương nối ngôi vua”.(2)  Lê Tung viết trong “ Việt sử Thông giám Tổng luận” năm 1514 có lời bàn như sau : “ Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long Quân .. con cháu nối dòng đều được gọi là Hùng Vương, phúc gồm 18 đời, năm trải hơn hai ngàn ..”.

 

           Tác giả Lĩnh Nam Trích Quái liệt truyện căn cứ vào những truyện truyền khẩu trong dân gian và một số truyện chép theo những sách cổ của thư tịch Trung Quốc như “ Tài Quỉ ký” của Trương Quân Phòng đời Tống, “Nam Hải Cổ tích ký” của Ngô Lai đời Nguyên. “Lĩnh Nam Trích Quái  Liệt truyện chép về khởi nguyên của dân tộc ta với huyền thoại RỒNG TIÊN như sau :

 

      “… Cháu ba đời của VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG là ĐẾ MINH, Đế Minh sinh ra Đế Nghi rồi đi tuần du phương Nam tới miền Ngũ Lĩnh gặp con gái bà VỤ TIÊN đem lòng yêu thích lấy về sinh ra LỘC TỤC. Lộc Tục dung mạo đoan chính, sớm tỏ ra thông minh lanh lợi hơn người. Đế Minh thấy thế làm lạ cho nối ngôi vua nhưng Lộc Tục từ chối nhường ngôi cho anh là Đế Nghi, không dám vâng mệnh. Đế Minh thấy vậy bèn lập Đế Nghi thay mình cai trị đất Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, đặt tên nước XÍCH QUỈ”. Bờ cõi nước Nam ta lúc bấy giờ, Bắc giáp hồ Động Đình tỉnh Hồ Nam Trung Quốc bây giờ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía Đông giáp bể Nam Hải, phía Tây tới Ba Thục Tứ Xuyên. Kinh Dương Vương có tài bơi lặn xuống thủy phủ lấy con gái Vua hồ Động Đình là LONG NỮ sinh ra SÙNG LÃM chính là LẠC LONG QUÂN sau thay vua cha trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu.

 

       Đế Nghi ở Phương Bắc truyền ngôi cho con là Đế Lai. Nhân khi trong nước vô sự, nhớ tới chuyện ông mình là Đế Minh đi tuần thú phương Nam gặp được tiên nữ. Đế Lai bèn bảo bề tôi thay mình giữ nước rồi đi tuần du nước Xích Qủi ở phương Nam. Đến nới Đế Lai thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, trong nước vô chủ bèn để cho ái nữ ÂU CƠ và những kẻ hầu hạ ở lại nơi hành tại còn mình đi dạo chơi trong thiên hạ, xem các nơi hình thắng, thấy những kỳ hoa dị thảo, trân cầm dị thú như tê tượng, đồi mồi, vàng bạc châu báu, tiêu quế nhũ hương, trầm đàn các vị cùng sơn hào hải vật không thiếu thứ nào. Phương Nam bốn mùa khí hậu không lạnh không nóng. Đế Lai đem lòng yêu thích quên cả chuyện về. Nhân dân nước Nam khổ vì cảnh phiều nhiễu, không được sống yên lành như trước nên ngày đêm mong Lạc Long Quân trở về, bèn cùng nhau cất tiếng gọi: “Bố ơi, bố ở nơi nào hãy mau về cứu chúng con …” Long Quân thoắt nhiên trở về thấy Âu Cơ dung mạo tuyệt mỹ đang ở một mình, Long Quân lấy làm yêu thích bèn hoá thành một chàng trai hình dáng xinh đẹp, tả hữu trước sau có kẻ hầu người hạ, tiếng ca tiếng nhạc vang lừng đến tận nơi hành tại. Âu Cơ trông thấy Long Quân lòng cũng xiêu xiêu. Long Quân đón về ở động Long Trang. Khi Đế Lai trở về không thấy Âu Cơ bèn sai quần thần đi tìm khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông, biến hoá ra trăm hình ngàn vẻ, nào yêu tinh quỉ ma, nào rồng rắn hổ voi làm cho kẻ đi tìm sợ hãi không dám lục lạo. Đế Lai đành trở về phương Bắc. Đế Lai truyền ngôi cho Đế Du Võng. Du Võng đánh nhau với Hoàng đế ở Phản Tuyền không thắng được mà chết. Họ Thần nông phương Bắc đến đây là hết.

 

           Lạc Long Quân và Âu Cơ sống với nhau chừng 1 năm thì sinh được một cái bọc cho là điềm không lành nên đem bỏ ở ngoài đồng. Qua 7 ngày, cái bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một người con trai, Long Quân liền đón về nuôi không cần bú mớm. Các con to lớn, người nào cũng trí dũng song toàn. Ai trông thấy cũng đều kính phục cho là đám anh em phi thường. Long Quân ở mãi nơi thủy phủ, làm cho mẹ con Âu Cơ phải sống lẻ loi muốn đi về đất Bắc, khi tới biên giới Hoàng đế nghe tin lấy làm lo sợ chia quan ngăn giữ cửa ải. Mẹ con Âu Cơ không về đất Bắc được nên đêm ngày kêu gọi Long Quân rằng: “Bố ơi, bố ơi ở nơi nào làm cho mẹ con tôi phải buồn đau”. Long Quân nghe thấy trở về gặp Âu Cơ ở Tương Dã. Âu Cơ vừa khóc vừa nói rằng:“Thiếp nguyên là người đất Bắc cùng chàng ăn ở với nhau, sinh được trăm đứa con trai, không biết dựa vào đâu mà nuôi nấng. Vậy xin theo chàng, xin chàng đừng ruồng bỏ làm cho mẹ con thiếp là kẻ không chồng, không cha, chỉ riêng mình đau khổ mà thôi. Long Quân buồn rầu nói: “Ta là giống RỒNG đứng đầu thủy phủ, nàng là giống TIÊN người ở trên đất vốn không đoàn tụ được với nhau. Tuy khí ÂM DƯƠNG hợp lại mà sinh con nhưng giống dòng tương khắc như nước với lửa, khó bề ở với nhau dài lâu được. Nay phải chia ly, ta mang 50 con trai về thủy phủ chia trị các nơi, còn 50 con theo nàng ở trên đất, có việc cùng gắn bó đừng bỏ rơi nhau… Trăm người con trai cúi đầu lặng lẽ nghe lời Bố rồi cùng nhau từ biệt mà đi…”.

 

     Thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc thế nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt mình vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy rõ Tổ tiên ta đã sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ đó mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gấm cho chúng ta qua bức thông điệp lịch sử đó. Làm sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu Việt của người Việt cổ chọn vật linh biểu trưng là chim nên mẹ Au đẻ ra trăm trứng là như thế. Chim Phượng Hoàng của người Việt tung cánh bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ý niệm người Việt thiên cư dần về hướng Đông xuống miền bể, mặt khác chim bay lên trời gắn liền với hình tượng Tiên của mẹ Âu Cơ. 

          

         Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu trưng riêng của dân tộc đó. Vì thế ngay cả những dân tộc mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dòng giống như Ấn Độ là voi, Tàu là con cọp, Pháp là con gà trống Gaulois, Anh là con sư tử, Mỹ là con chim Ưng (đại bàng) nên Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng và Pháp lấy con gà làm quốc huy cho cả nước.

 

           Theo cơ cấu luận thì Sử ký là sử hàng ngang ghi chép các biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng, còn Huyền sử được gọi là Sử hàng dọc mang tính tâm linh, xoay quanh những tác động lý  tưởng biểu thị bằng những sơ nguyên tượng  giàu phổ biến tính. Thật vậy, cái biểu tượng uyên nguyên đó có thật như một lý tưởng nhưng chưa hiện thực được. Đó là những nguyên lý được kết tinh và tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử Rồng Tiên thì Âu Cơ chỉ là hình tượng nguyên sơ.(3) Mẹ Âu Cơ là chi tộc thờ chim của Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm  trứng là chuyện bình thường cũng như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó biểu tượng cho ý niệm công thể, ý nghĩa của 2 chữ đồng bào cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ. Cũng thế trăm con không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ý số nhiều và quan trọng nhất là thư tịch cổ Trung Hoa chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường.

 

        Theo triết gia Kim Định thì huyền sử nói mà không nói, thật mà không hiện thực là thế đó. Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền  thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là “chính sử” của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng của các dân tộc”. Đại văn hào Pháp Victor Hugo khi viết “ Truyện kỳ các thời đại” ông đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa vì theo ông, đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”.

 

           Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa ký thác vào đó dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Một triết gia nói: “Tất cả nền  minh triết cũng như trí khôn loài người đều ẩn  tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Vấn đề là phải làm sao hiểu được những lý tưởng uyên nguyên, những tâm linh sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những hình tượng nguyên sơ trong đó. “ Tất cả đã được nói rồi trong các thần thoại, vấn đề chúng ta là chỉ còn phải tìm hiểu” như P.Ricoeur đã viết. Nói theo Jung, một triết gia thời đại thì: “Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải…”(4)           

 

           Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi là lịch sử dân gian có giá trị trung thực hơn cái gọi là “chính sử” tại một số nước độc tài hiện nay. Nói cách khác như Jung, một triết gia thời đại thì “Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc” mà theo Wallace Cliff thì “ Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Thật vậy Laurens va de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng “Huyền thoại là gia sản quí báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân tộc”.

 

           Lịch sử đã chứng minh lời của Karl Jung là “Dân tộc nào quên đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất sớm muộn cũng sẽ tiêu vong…”. Trong lịch sử loài người, nhiều cộng đồng người đã không tồn tại được với thời gian vì không có truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất, quí báu nhất mà tiền nhân đã để lại cho hậu thế. Huyền thoại là mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại và mai sau, là gia sản cao quí vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm của người xưa đã thực chứng suốt dòng vận động của lịch sử. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên đã thấm đậm trong lòng mỗi người chúng ta để trở thành đạo sống của dân tộc Việt.

 

           Với phương pháp nghiên cứu huyền thoại, chúng ta nghiên cứu huyền sử, tìm về nguồn cội dòng giống qua những gửi gấm của người xưa là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết. Vấn đề đặt ra là với một thái độ nghiêm túc, một phương pháp khoa học, nhưng không có quyền áp đặt những suy nghĩ của nhân loại thế kỷ 20 lên những tư duy, trí tưởng tượng của người xưa mà chúng ta phải đặt mình hoàn cảnh lịch sử thời đó để có thể hiểu được cái gọi là “ lịch sử sống động của dân gian”. Một mặt, phải gạt bỏ những yếu tố thần thoại, loại ra những chi tiết hư cấu. Mặt khác, đặt mình vào hoàn cảnh xã hội đời sống tâm linh của người xưa, mới thấy được cái tinh tuý cốt lõi tiềm tàng trong truyền thuyết, sau khi phân tích, đối chiếu và xác minh bởi lịch sử minh thị với những chứng cứ Khảo cổ, Ngôn ngữ, Dân tộc học và Chủng tộc học.

 

Trở về Trang Chính