|
LTS:
Nguồn Gốc Việt Tộc của Quốc việt Phạm Trần Anh là một quyển sử
giá trị. Khoahoc.net sẽ lần lượt trích đăng để cống hiến độc giả
xa gần. Qua nhiều dữ kiện tài liệu tham khảo phong phú sẽ cho
chúng ta và con cháu chúng ta tìm về gốc tích một dòng giống
Việt Nam oai hùng khí khái, tạo vững mạnh trong ta và hun đúc
giữ gìn tình đồng bào nghĩa nhân lọai…
*
* *
Lịch sử Việt tộc khởi đầu từ thời đại Hùng Vương lập
quốc với biết bao hưng phế thăng trầm mà đỉnh cao là thời kỳ
Triệu Vũ Đế và quốc gia Nam Việt hùng cường hiển hách. Kế tiếp
là thời kỳ suy vi vủa Việt tộc như một định mệnh của lịch sử mà
tấm lòng trung của Thừa tướng Lữ Gia cùng với lòng yêu nước của
quân dân Nam Việt cũng không xoay nổi vận nước. Sau đó là cái
chết của Tây Vu Vương bởi lưỡi gươm oan nghiệt của tên phản quốc
Hoàng Đồng, Âu Lạc suy vong. Sau khi thôn tính Nam Việt, Hán
triều đổi tên nước Nam Việt là Giao Chỉ bộ gồm 9 quận là Nam Hải
(Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp
Phố (Quảng Châu), Giao Chỉ (BắcViệt Nam), Cửu Chân (Thanh Hoá),
Nhật Nam (Nghệ An), Châu Nhai (Đảo Hải Nam) và Đạm Nhĩ nay là
Đam Châu thuộc đảo Hải Nam. Trên danh nghĩa Hán tộc sát nhập
nước ta vào lãnh thổ Trung Quốc nhưng trên thực tế Hán tộc chưa
thực sự kiểm soát được toàn bộ đất nước ta mà phần lớn các địa
phương vẫn do Lạc Hầu Lạc Tướng tự trị cho đến khi cuộc kháng
chiến của Hai Bà Trưng thất bại năm 43, Hán tộc mới thực sự
thống trị dân ta. Năm Quý Mùi (203) Hán Hiến Đế thời Đông Hán
đổi tên Giao Chỉ bộ thành Giao Châu theo đề nghị của thứ sử
Trương Tân và Thái Thú Sĩ Nhiếp. Đến đời Tam Quốc, đất Giao Châu
thuộc Đông Ngô. Năm 226, Ngô Tôn Quyền tách Giao Chỉ Bộ ra làm
hai:
1. Quảng Châu gồm Quảng Đông, Quảng Tây và một phần Quý Châu.
2. Giao Châu gồm Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Về sau Đông Ngô
lại bỏ Quảng Châu và gọi chung là Giao Châu như cũ. Năm 622
Đường Cao Tông đặt Giao Châu Đại Tổng quản phủ để cai quản 12
châu đến năm 679 lại đổi Giao Châu thành An Nam Đô Hộ phủ cai
quản 12 châu, 59 Huyện. Hán tộc gọi tên nước ta một cách miệt
thị là An Nam bắt đầu từ đấy.
Trong suốt hơn ngàn năm đô hộ, giặc Tàu chủ trương thống trị và
đồng hoá dân tộc ta nên đã không từ một âm mưu thủ đoạn thâm độc
quỷ quyệt để nô dịch văn hoá, triệt tiêu văn tự kể cả sách vở,
văn bia, đền đài đình chùa, miếu mạo của dân tộc Việt. Chữ Việt
cổ đi dần vào quên lãng, thay vào đó là bắt dân ta phải học chữ
Hán nhưng lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn là kẻ thù có
thể chiếm đóng, đô hộ dân tộc ta nhưng không thể khuất phục được
tinh thần quật cường của Việt tộc. Thời kỳ này, Phật giáo truyền
tới Việt nam từ lâu đã hội nhập vào dòng vận động lịch sử của
Việt tộc. Để chống lại chủ trương triệt tiêu văn tự, xoá mờ
nguồn cội dân tộc, giới sĩ phu và các tăng sĩ yêu nước đã gởi
gấm vào kinh sách qua tập Lục Đọâ Kinh câu truyện người lấy
Rồng, truyện trăm trứng nở trăm con của truyền thuyết khởi
nguyên dân tộc để bảo lưu cho thế hệ cháu con về nguồn cội dân
tộc. Chính qua truyện kể trong kinh sách cũng như câu truyện
truyền miệng dân gian về huyền thoại Rồng Tiên từ đời này qua
đời khác, về truyền kỳ lịch sử đã ấp ủ nuôi dưỡng tự tình dân
tộc, thôi thúc ý chí đấu tranh giành độc lập tự chủ cho dân tộc.
Trong suốt thời kỳ Hán thuộc, nhân dân ta liên tục đứng lên khởi
nghĩa giành độc lập dân tộc khiến Hán triều điêu đứng. Khởi đầu
là cuộc khởi nghĩa của HAI BÀ TRƯNG giành lại quyền độc lập tự
chủ được gần 4 năm (39-43), kế tiếp là cuộc khởi nghĩa của nhân
dân quận Tượng Lâm năm 101, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân
các quận Tượng Lâm Cửu Chân và Nhật Nam năm 138 dẫn tới sự thành
lập quốc gia Lâm Aáp. Năm 138, nhân dân Cửu Chân lại nổi dậy
giết tên Thái thú Nghê Thức làm chủ quận huyện đến năm 161. Năm
163, nhân dân Nam Việt lại nổi lên đánh chiếm Quế Dương và
Thương Ngô. Tháng 5 năm 163, quân dân khởi nghĩa chiếm toàn bộ
quận Thương Ngô, Nam Hải và Giao Chỉ. Tháng 5 năm 166 Bốc Dương,
Phan Hồng, Lý Nghiêu, Hồ Lan và Chu Cái lãnh đạo nhân dân đánh
chiếm Linh Lăng Quế Dương. Thái thú Thương Ngô bị bắt sống, nhân
dân giành lại quyền độc lập tự chủ một thời gian. Năm 178, người
anh hùng dân tộc Lương Long lại lãnh đạo nhân dân các quận Hợp
Phố Giao Chỉ và Cửu Chân khởi nghĩa giành lại độc lập tự chủ
được hơn 4 năm từ 178-182. Kế tiếp là cuộc khởi nghĩa của Bà
Triệu năm 248, Lã Hưng năm 263. Năm 280, Tấn diệt Ngô nhân dân
Giao châu lại làm chủ đất nước một thời gian. Năm 468, Lý Trường
Nhân lãnh đạo nhân dân nổi lên giành lại quyền độc lập tự chủ
được 17 năm.
Đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn năm 544 giành lại quyền
độc lập tự chủ hơn nửa thế kỷ. Lý Bôn lên ngôi xưng là Nam Việt
Đế, đặt quốc hiệu là VẠN XUÂN, thành lập nhà Tiền Lý. Từ khi Lý
Bôn đánh đuổi Tiêu Tư về Tàu năm 544 đến năm 602 triều Tuỳ đem
quân sang đánh Lý Phật Tử tính ra được 58 năm. Thời Tùy Đường,
năm 687 Lý Tự Tiên và Đinh Kiến khởi nghĩa nhưng mau chóng thất
bại sau một vài thắng lợi. Năm 722, Mai Thúc Loan lãnh đạo nhân
dân nổi lên giành độc lập. Cuộc khởi nghĩa được sự ủng hộ của
nước Lâm Aáp và Phù Nam nên thành công mau chóng, đất nước tự
chủ được 5 năm. Đến năm 783, Phùng Hưng lãnh đạo nhân dân đứng
lên khởi nghĩa giành lại độc lập từ tay quân Đường được 7 năm,
nhân dân cả nước suy tôn là Bố Cái Đại vương. Năm 806, Dương
Thanh đánh chiếm phủ thành và giết chết lý Tượng Cổ. Liên tiếp
những năm 838, 841, 858, 860 và 863 Dương Tư Tấn cùng với quân
Nam Chiếu đánh chiếm phủ thành, tiêu diệt 15 vạn quân Đường. Nam
Chiếu làm chủ Giao Châu. Triều Đường phải rút An Nam đô hộ phủ
về Trấn Hải Môn Uất Lâm thuộc lãnh thổ TQ bây giờ. Năm 905 Khúc
Thừa Dụ nhân lúc triều Đường xụp đổ chiếm giữ Giao Châu, xưng là
Tiết độ sứ nắm quyền tự chủ được hơn 23 năm. Mãi đến năm 938,
với chiến thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền mới chính thức mở
đầu thời kỳ độc lập, phục hưng dân tộc Việt Nam.
Suốt chiều dài của lịch sử, Việt tộc phải đương đầu với các cuộc
xâm lấn của Hán tộc ngay từ thời cổ đại cho đến các triều Tần,
Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và siêu đế quốc Trung Cộng ngày
nay. Việt Nam chiếm một vị trí địa lý nằm sát cạnh đế chế “Đại
Hán” hùng mạnh, lại chiếm giữ vị trí địa lý chiến lược xung yếu,
vừa là nơi giao lưu văn hoá Đông Tây, đồng thời là cửa ngõ kiểm
soát toàn bộ hải trình từ Tây qua Đông và ngược lại nên các thế
lực từ phong kiến bành trướng tới thực dân, đế quốc luôn tìm
cách thôn tính, khống chế, áp đặt nước ta phục vụ ý đồ kinh tế
và chiến lược của họ. Thế nhưng, thực tế chứng minh một cách
hùng hồn sự tồn tại của một dân tộc có gần 5000 năm văn hiến
trước bao kẻ thù thâm độc bạo tàn dù chúng nấp dưới bất kỳ chiêu
bài hoa mỹ nào. L’Aurousseau, một học giả Pháp đã nhận định một
cách khách quan về tinh thần dân tộc Việt Nam khi viết về cuộc
chinh phục đầu tiên của Trung Quốc. Ông viết:“Không có gì
thắng được cái sức sống mạnh mẽ của người Việt Nam”. Paul
Mus một nhà Việt Nam học đã từng viết về sức chiến đấu mãnh liệt
của dân tộc Việt Nam để đồng hoá dân tộc thống trị hơn là bị
đồng hoá vào dân tộc thống trị: “ Ngay từ ngày lập quốc, tất
cả then chốt lịch sử Việt Nam đều ở cả cái tinh thần đối kháng,
đã biết kết hợp một cách diệu kỳ, một bên là năng lực đồng hoá
lạ lùng, bên kia là ý chí quật khởi quốc gia không chịu khuất
phục mặc dầu thua trận, bị phân tán, bị chinh phục. Hơn một ngàn
năm bị sát nhập hoàn toàn vào Trung Quốc, từ thế kỷ thứ II trước
kỷ nguyên đến thế kỷ thứ X sau kỷ nguyên, thay vì làm cho dân
tộc Việt Nam kiệt quệ thì ngược lại đã làm cho dân tộc này trở
nên hùng cường..”(32).
Bộ Bách khoa từ điển (Encyclopaedia Universalis) xuất bản ở
Paris năm 1992 đã viết về Việt Nam do nhà sử học Phillipe
Devilière chủ biên với sự tham khảo hơn 60 học giả Âu Mỹ,
Danielle Emeri đặt câu hỏi “Lịch sử Việt Nam là gì?” rồi ông tự
trả lời “Đó là cuộc đấu tranh không ngừng cho sự tồn vong của
cả một dân tộc”. Nhà sử học Phillipe Devilìere khẳng định “
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ
có một sức sống phi thường. Suốt 10 thế kỷ bị Trung Quốc thôn
tính, người Việt Nam vẫn giữ nguyên bản sắc dân tộc và liên tiếp
nổi dậy đánh đuổi kẻ xâm lược ỷ vào sức mạnh tưởng có thể khuất
phục được họ. Lịch sử đã đặt lòng tin vào dân tộc ấy và đã chứng
minh khả năng đề kháng, óc sáng tạo, tính kiên trì và sự thích
ứng với mọi cuôïc chiến gian khổ nhất, khó khăn nhất và kể cả
không cân sức nhất … Người Việt Nam tự hào với quá khứ của mình,
tôn vinh những bậc vĩ nhân đã tô điểm rạng rỡ quá khứ đó và quá
khứ dù xa xăm hay gần đây luôn luôn có mặt khắp nơi trên đất
Việt Nam, tác động mạnh mẽ vào hiện tại và tương lai ”. Cuối
cùng, Phillipe Devilìere nhận định:“ Việt Nam giữ một vị trí
chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam có bề
dày lịch sử hơn hẳn nhiều vương quốc châu Âu như Pháp, Anh, Tây
Ban Nha dù rằng đối với phương Tây, hai tiếng Việt Nam vẫn còn
mới mẻ…”.
Những kỳ tích lịch sử kể từ thời lập quốc đến nay bắt nguồn từ
truyền thống của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến với
nền văn minh đạo đức xa xưa. Chính truyền thống YÊU NƯỚC THƯƠNG
NÒI của dân tộc CON RỒNG CHÁU TIÊN đã viết lên những trang sử
đẹp nhất nhân loại. Nữ sĩ Blaga Dimitrova viết “Việt Nam là
xứ sở của địa linh nhân kiệt, một dân tộc với truyền thuyết đầy
bí ẩn và một lịch sử quá oai hùng đến nỗi khó mà phân biệt đâu
là huyền thoại, đâu là hiện thực nữa ! ”. Tự xa xưa truyền
thuyết về nguồn cội con Rồng cháu Tiên của Việt tộc đã là niềm
tự hào vinh dự của mỗi con dân đất Việt. Chính tự tình dân tộc
truyền thừa hơn sáu ngàn năm lịch sử hun đúc chí khí Việt nam đã
tập đại thành truyền thống VIỆT NAM. Từ những giá trị tinh thần
cao đẹp tuyệt vời của truyền thống Việt Nam đã sản sinh những
con người Việt Nam nhân đạo hiền hoà nhưng khí phách hùng anh
siêu vượt. Việt Nam, Việt nam tên gọi là người .. Việt Nam hai
tiếng nói trên vành môi, Việt Nam nước tôi…(33). Hai
tiếng Việt Nam thân thương vời vợi ấy nghe từ vào đời, từ khi
còn nằm trong nôi cho tới lúc bập bẹ tiếng người, bên tai lời ru
hỡi ru hời của mẹ “À ơi công cha như núi Thái Sơn .. Nghĩa mẹ
như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn
chữ hiếu mới là đạo con ơ ơø” (34). Lời ru ngọt
ngào êm ái đó thấm đậm bài học đầu đời của đạo lý làm người để
rồi lớn dần theo năm tháng, đêm đêm bên ngọn đèn dầu leo lét
dưới mái ấm gia đình nghe ông kể truyển cổ tích họ Hồng Bàng. Từ
đó, huyền sử Rồng Tiên thẩm nhập tiềm tàng trong dòng máu của
mỗi con dân đất Việt như một “gène truyền thống” của lòng yêu
nước thương nòi mà không một dân tộc nào có được.
Chính niềm tự hào truyền thống này đã tập đại thành tinh thần
dân tộc, ý chí quật cường, lòng kiên trì quả cảm của sức sống
mãnh liệt vô biên Việt Nam đã tạo nên khí thế đạp đầu thù. Tự
thân lịch sử Việt Nam, từ huyền sử đến hiện thực đã là một thiên
anh hùng ca bất hủ có một không hai trong lịch sử nhân loại mà
Bản Tuyên ngôn Độc lập dân tộc viết bằng máu của biết bao thế hệ
Việt Nam đã được danh tướng Lý Thường Kiệt tuyên cáo trước nhân
loại còn vang vọng mãi tới muôn đời.
“Nam Quốc Sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !”
Sông núi trời Nam của nước Nam
Sách trời định rõ tự muôn ngàn
Cuồng ngông giặc dữ vào xâm lấn
Chuốc lấy bại vong lấy “nhục” tàn
(35)
( Phạm Trần Anh cẩn dịch).
CHÚ THÍCH
(1).
Nguyễn Anh Thái: Lịch sử lớp 12 tập I, NXB Giáo Dục, Hà Nội
1987.
(2).
Ngày 1-9-1976, Tân Hoa Xã đưa tin về cái chết của Mao Trạch
Đông như sau: Sự lặn tắt của Mặt trời cách mạng phương Đông, Sự
ra đi của một lãnh tụ thiên tài của cách mạng Trung quốc và cách
mạng vô sản trên toàn thế giới…”. Trong khi những nhà nghiên cứu
về TQ đều thống nhất ở một điểm: Mao là kẻ đầy tham vọng, tráo
trở, xảo trá với những mưu ma chước quỉ, những thủ đoạn xảo
quyệt và tàn bạo ít có trong lịch sử. Chính Mao đã tàn phá xã
hội Trung quốc, đã đầu độc tư tưởng của đông đảo đảng viên Cộng
sản và quần chúng cách mạng Trung quốc. Mao là một tấn thảm kịch
đối với nhân dân Trung quốc. Tội ác do Mao đã gây ra những thiệt
hại khổng lồ về tinh thần lẫn vật chất cho nhân dân Trung quốc.
( Mao, tấn thảm kịch của đảng CS Trung quốc . Nhà Xuất bản Thông
tin lý luận . Hà Nội tr 5 )
(3). “
Sử gia chi tuyệt xướng, vô tận chi Ly Tao”
(4). Đại cương Lịch sử Văn Hóa TQ của Gs Ngô Vinh Chính, Vương
Miện Quí, Thành Hiểu Quân và Lâm Quốc Bình.
(5).
Nội chư Hạ, ngoại Di địch.
(6). Từ
Hán nguyên thủy tượng hình vách đá, sườn núi hàm ý chỉ tộc người
du mục sống ở hang động ở vùng rừng núi cao miền Tây Bắc sau
thiên di xuống Trung nguyên.
(7).
Thương là tộc người sống đời du mục ở Tây Bắc chịu ảnh hưởng của
nền văn minh du mục Mông Cổ và Thổ (Turc). Tộc Thương nuôi và
cưỡi ngựa thành thạo, có chiến xa giống chiến xa của các nước
Tây Á, đặc biệt là của Thổ Nhĩ Kỳ nên đánh thắng các chi tộc
Bách Việt sống bằng nghề Nông một cách dễ dàng. Thành Thanh là
vua đầu tiên của triều Thương được nhà Hạ phong cho đất Thương,
đến đời Kiệt, đem quân về diệt Hạ, lên ngôi đóng đô ở Hà Nam,
đặt tên nước là Thương. Ngày nay các nhà nghiên cứu đều cho rằng
văn hóa Thương xuất phát từ Hoài Di tức văn hóa Di – Việt của
người Việt cổ. Lãnh thổ Thương thời đó chỉ gồm có mấy tỉnh Sơn
Tây, Hà Bắc và một phần tỉnh Hà Nam. Trong khi đất của người
Việt cổ mà cổ sử TQ gọi là Di Việt trải rộng khắp Trung nguyên
gồm Sơn Đông, Đông Hà Nam, Bắc Giang Tô, Đông Bắc An Huy và cả
miền duyên hải Hà Bắc, Trực Lệ, Liêu Đông và bán đảo Triều Tiên
trong đó có những tên họ như họ Thái Hạo ( Phục Hi ), Thiếu Hạo
(Thần Nông ), họ Phong, họ Doanh, họ Yểm ..
(8).
Tần Thủy Hoàng sai thừa tướng Lý Tư thống nhất ngôn ngữ và văn
tự. Đế chế Tần qui định một lối chữ khác gọi là TIỂU TRIỆN. Tất
cả các nước cùng phải nói một thứ tiếng đó là phát âm Quan
thoại, viết chữ tiểu triện. Tất cả sách vở nhất là sách sử các
nước phải giao nộp triều đình và đốt hết, ai còn lưu giữ bị coi
là phản quốc và bị xử tội chết. ngay cả xe cộ phải cùng một trục
có cùng một kích cỡ, sách vở phải viết cùng một lối chữ nên sách
sử xưa gọi là thời kỳ “ Xa đồng quĩ, thư đồng văn “ nghĩa là xe
cộ cùng một cỡ, sách vở cùng một lối chữ .
(9).
Nguồn gốc của chữ CINA có nhiều cách giải thích khác nhau. Cina
là tên gọi xưa nhất mà ngày nay người ta có thể biết đến là cách
gọi của người Aán Độ được ghi chép trong các sách bằng tiếng
Phạn và đã được phiên âm ra tiếng Hán là china. Để biểu lộ sự
tôn trọng với quốc gia rộng lớn này, người Aán Độ còn thêm vào
trước hoặc sau chữ cina tiếp đầu ngữ Maha hoặc tiếp vĩ ngữ
Sthana nên viết là Mahacina hoặc Cinasthana, từ đó biến thành
Mahacinasthana nghĩa là nước Trung hoa vĩ đại. Trước đây người
ta cho rằng tên gọi này là phiên âm của chữ Tần thời Xuân thu
chiến quốc cũng chính là đế chế Tần sau khi làm chủ Trung nguyên
năm 221 TDL. CINA trong tiếng Phạn đã trở thành tên riêng của
Trung quốc và ngày nay được nhiều nước sử dụng. Tuy cách viết có
khác nhau chút ít tùy ngôn ngữ từng nơi như ở Anh, Đức là
China, Pháp là Chine, Ba Tư : chin, La Tinh: Sinae, Italy: Cina.
Gần đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng chữ CINA đã xuất hiện
trong hai bộ sử thi nổi tiếng MAHABBARATA và RAMAYANA của Ấn Độ
ra đời từ thế kỷ thứ V TDL. Hai tác phẩm này dịch ra tiếng Tạng
bằng thơ trong đó CINA được âm là CHINA. Như vậy, tên CINA xuất
hiện rất sớm trước thời của đế chế Tần một thời gian khá lâu.
Hơn nữa theo sử ký của Tư Mã Thiên trong thiên Tây Nam di liệt
truyện thì hàng hóa của nước Kinh Sở (Trung quốc) đã có mặt ở
Aán Độ trước khi Tần ra đời. Do đó CINA có thể là tên gọi của
nước KINH, một tên khác gọi nước Sở. Nước Sở ra đời tại ấp Kinh,
đất Kinh Việt, vùng Kinh Châu nên còn được gọ là KINH SỞ. Về mặt
phát âm thì Kinh (Jing) gần với cina hơn Tần (Qin). Điều này phù
hợp với thực tế lịch sử vì trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất
Trung quốc, Sở là một nước lớn từng bang giao và buôn bán với
nhiều nước láng giềng ở phía Tây TQ. Việc đi lại giữa nước Sở và
các nước ở Tây Vực thời đó đã thuận lợi hơn trước nhiều.(Theo
Trung Hoa Lữ du trí thức tinh hoa, NXB Bắc Kinh).
(10).
Ngay từ lời nói đầu của Tiền Hy Tộ, sử quan triều Thanh khi đưa
sách Đại Việt sử lược vào Thủ sơn các tùng thư và Khâm Định Tứ
khố toàn thư đã bộc lộ cái gọi là sử quan “ thiên triều đại Hán”
của y. Tiền hy Tộ viết “ Nước An Nam từ đời nhà Tống trở về sau
vẫn giữ lệ cống. Vậy mà nhân lúc triều trước loạn lạc, không ai
chế ngự mới bèn trộm đế hiệu, lại còn ghi rõ trong sử sách để tự
khoe khoang, càn quấy, thật là điều trái lẽ không đáng nói làm
gì. Tuy vậy, các vua Ngô, Sở tiếm hiệu thì kinh Xuân Thu đã chê
mà nhà viết truyện cũng không bỏ mất sự thật của nó.. Cho nên
dựa vào ngụy sử, theo lệ mà chép là để cho rõ cái tội của nó và
cũng là để bổ cứu cho phần ngoại truyện của Tống sử và Nguyên sử
hiện chưa đầy đủ”. Xuân Thu là tên bộ sử ký nước Lỗ do Khổng Tử
( 551- 479 TDL) san định lại. Bộ sử chép công việc theo thể biên
niên từ năm đầu Lỗ Aån Công đến năm thứ 15 Lỗ Ai Công (722 – 479
TDL) tất cả là 243 năm. Đó là thời kỳ các nước chiến tranh giành
quyền lãnh đạo Trung nguyên. Về sau lấy tên bộ sử này để gọi
thời kỳ này là thời Xuân Thu.
(11).
Giao Châu ngoại vực ký chỉ được biết đến khi Lệ Đạo Nguyên dẫn
ra trong tác phẩm Thủy Kinh chú của ông. Như vậy, sách này được
viết ra trước thế kỷ thứ VI.
(12).
Quảng Châu ký không rõ ai là tác giả nhưng Tư Mã Trinh đã dẫn ra
họ Diêu có thể là Diêu văn Hàm hoặc Diêu Sát. Theo Tư Mã Trinh
thì Quảng Châu ký ra đời trước thế kỷ thứ VII nếu không là thế
kỷ thứ V và thứ VI.
(13).
Nam Việt chí của Thẩm Hoàng Viễn viết khoảng sau năm 454.
(14).
Nhật Nam truyện .
(15).Thủy Kinh chú của Lệ Đạo Nguyên. Tác giả từng là Thứ sử
Giao Chỉ. trong quyển Thời đại Hùng Vương, nhà xuất bản Khoa hoc
xã hội tr 33 lại ghi là Lịch Đạo Nguyên.
(16).
Hữu Sào: Tương truyền Toại Nhân họ Hữu sào thuở ban sơ, dạy dân
cách làm nhà trên cây để tránh thú dữ làm hại. “ Điểu tục hữu
sào” là tục của chim làm tổ trên cây, thuở xa xưa chi Aâu Việt
thồ vật tổ là chim nên làm nhà sàn cách mặt đất để tránh thú dữ.
Hán tộc thuở xưa còn ở trong hang nhưng vẫn chê tục làm nhà sàn
của người Việt cổ là làm tổ trên cây bên sườn núi!
(17).
Li Vưu: các sách cổ TQ chép là Xi Vưu để miệt thị người Việt cổ.
Theo Kim Định thì nguyên là Li Vưu nghĩa là Rồng cao cả phi
thường. Theo Ngũ Đế kỷ thì Li Vưu là hậu duệ của dòng Thần Nông
phương Nam. Nguồn thư tịch khác cũng cho biết thêm Li Vưu là
chúa tể của tộc Miêu, một chi tộc trong Bách Việt ở phương Nam.
(18).
Hoàng Đế: Cổ thư chép Hoàng đế sinh ở gò Hiên Viên nên còn gọi
là Hiên Viên Hoàng đế Cổ sử TQ nhận Hoàng đế là thủ lĩnh liên
minh các bộ lạc, sau khi đánh bại Li Vưu lên ngôi cộng chủ là Tổ
của Hán tộc. Thế nhưng các công trình nghiên cứu gần đây cho
thấy rằng đó chỉ là sự mạo nhận mà thôi. Thực ra Hoàng đế, vua
nước Hữu Hùng là người Việt cổ, lấy đức thổ làm vua nên gọi là
Hoàng đế.
(19).
Cổ thư TQ lại chép ngũ đế là Hoàng Đế, Xuyên Húc, Đế Cốc, Đế
Nghiêu và Đế Thuấn.
(20).
Đế Chí yếu đuối kém cỏi nên chư hầu tôn ông Nghiêu ỏ đất Ký lên
ngôi vua Đế Nghiêu là con thứ của Đế Cốc, em của Đế Chí. Đế Cốc
là cháu Đế Thiếu Hạo (2597TDL). Thiếu Hạo họ Kim Thiên dòng Thần
Nông có tục thờ vật tổ Chim (Thái Hạo thờ Rồng, Thiếu Hạo thờ
chim) từ trời Tây di cư qua. Tương truyền, Thiếu Hạo được Tả chí
lập nên nhờ có một đội quân đội lốt chim muông từ phương Tây qua
đánh thắng thú rừng nên sử gia Tư Mã Thiên không công nhận Đế
Thiếu Hạo vì cho rằng Thiếu Hạo cướp ngôi vua của con Hoàng Đế.
Thiếu Hạo cai trị thay Đế Hoàng từ 2597- 2514 TDL. (Theo nhà
nghiên cứu gs Nguyễn Đoàn Tuân ).
(21).
Truyền hiền bất truyền tử: Ngày nay thường ca tụng Thuở Nghiêu
Thuấn là thời đại “ Truyền hiền bất truyền tử”, thời thái bình
thịnh trị nên chọn người hiền để truyền ngôi chứ không truyền
ngôi cho con. Đến đời nhà Hạ mới truyền ngôi cho con mở đấu cho
thời quân chủ thế tập. Theo Tiên Tích Việt thì truyền thống
người Việt cổ xưa xem ngôi vua là Nhân quân nên khi dòng sinh
vượng khí của dòng họ đã hết thì tìm người xứng đáng để nhường
ngôi để tránh chuyện tranh giành soán đoạt ngôi vua gây bao nỗi
đoạn trường cho trăm họ. Đây chính là chế độ suy cử Thủ lĩnh
Quân trưởng của người Việt cổ.
(22).
Đế Thuấn (2255-2205 TDL) truyền ngôi cho Vũ còn gọi là Đại Vũ vì
là thủy tổ nhà Hạ, có công trị thủy. Chính Khổng Tử cũng phải
ca ngợi :“Không chê vào đâu được vì vua Vũ sống đạm
bạc mà cúng tế quỉ thần thì trọng hậu ..”
(23).
Theo Nguyễn Hiến Lê trong sử Trung Quốc thì sự thật lúc đĩ, chế
độ thị tộc bắt đầu chuyển biến khơng cịn bầu thủ lĩnh nữa mà
truyền ngơi thủ lĩnh cho con hoặc cho em được khoảng 440 năm
(2.205-1766) tới đời Kiệt tất cả 18 đời thì mất nước vào tay
triều Thương của Hán tộc.
(24).
Thời kỳ này, sử TQ ghi là “ Triều Ân đánh nước Quỉ Phương 3 năm
khơng thắng..”. Huyền tích Việt kể rằng giặc Ân xâm lăng nước ta
vào đời Hùng Vương thứ 6 bị cậu bé nhà trời ở làng Giĩng đánh
cho tan tác. Về sau nhân dân địa phương lập đền thờ suy tơn là
Phù Đổng Thiên Vương.
(25).
Tuy cổ sử TQ gọi là nước chư hầu nhưng trên thực tế chỉ là những
bộ lạc mà thơi. Con số 3 ngàn chỉ là con số phỏng đốn nĩi lên số
nhiều mà thơi.
(26).
Lê Huy Tiêu: Nguồn gốc các từ Trung Quốc.
(27).
Thực tế thời đĩ chỉ khoảng 1 ngàn bộ lạc. Con số ngàn này cũng
chỉ là phỏng đốn để chứng tỏ TQ lớn mạnh mà thơi .
(28).
Sở: Năm 1112 TDL, triều Chu phong cho Hùng Dịch ở đất Sở thuộc
vùng núi Kinh đất Kinh Việt. Hùng Dịch lên ngơi lấy hiệu là Kinh
Tuyên Vương hàm ý là hậu duệ của Kinh Dương Vương, người khai mở
quốc gia Xích Qui xa xưa của Việt tộc. Hùng Dịch lấy tên vùng
đất Sở nơi trồng cây gai Sở (cây gai (Kinh) đực khơng cĩ hoa) để
đặt tên nước là nước Sở. Theo sử Hán, nước Sở chấm dứt vào đời
Hùng Thơng năm 660 TDL.
(29).
Nguyễn Hiến Lê: Sử Trung Quốc tập I tr 146..
(30).
Xem chú thích 8..
(31).
Thanh Lãng: Văn học Việt Nam đối kháng Trung Hoa. NXB Phong trào
Văn hố 1969 SàiGịn.
(32).
Sử Trung Quốc : Sđd tập I tr 117, 127.
(33).
Tên bài hát Việt Nam Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy.
(34).
Núi Thái Sơn là tên ngọn núi mà người Việt cổ đặt tên cho ngọn
núi cao nhất vùng Hoa Dương chân cao nguyên Tây Tạng. Về sau chi
Lạc bộ Trĩ của Việt tộc thiên cư xuống vùng Sơn Đông nên lấy tên
Thái Sơn để đặt tên cho ngọn núi cao nhất Sơn Đông để hướng vọng
về quê cha đất Tổ. Khi Hán tộc đánh đuổi Việt tộc phải lùi dần
về phương Nam mang trong tâm thức tên ngọn núi Thái Sơn đểâ so
sánh với công cha nghĩa mẹ.
(35).
Chữ “nhục” ở đây xin hiểu vừa là nỗi nhục vừa là da thịt nữa.
NGUỒN GỐC VIỆT TỘC Đọan 5
UYÊN HẠNH phụ trách phần
tuyển đọan trích đăng
Đã đăng:
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 1)
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 2)
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 3)
NGUỒN
GỐC VIỆT TỘC: TỪ TRUYỀN THUYẾT ĐẾN LỊCH SỬ
(phần 4)
Trở về Trang Chính
|