CỘNG ĐỒNG BÁCH VIỆT

HIỆN THỰC LỊCH SỬ CỦA TRUYỀN THUYẾT

“TRĂM TRỨNG NỞ TRĂM CON”


 

Phạm Trần Anh

28 tháng 06 năm 2007

           Chúng ta đang sống trước thềm của thiên niên kỷ thứ ba nên mỗi khi nghĩ về huyền thoại Rồng Tiên thì thoạt đầu, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng là truyện huyền hoặc, hoang đường. Dù có tự hào là con Rồng cháu Tiên nhưng với ý nghĩ đơn giản của đời thường, chúng ta vẫn hoài nghi vì trên đời làm gì có truyện người đẻ ra trứng, rồi trứng nở ra người?

 

           Với tất cả tấm lòng và thái độ trân trọng nghiêm túc và với phương pháp nghiên cứu huyền thoại để tự đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử thời cổ đại thì những ẩn ý hàm tàng trong huyền thoại sẽ gợi mở sáng tỏ, minh nhiên lý giải những vấn nan khúc mắc tự ngàn xưa. Có một thực tế mà chúng ta phải hiểu rõ đó là tất cả các dân tộc thời cổ đại đều tin tưởng thần linh chở che trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Thật vậy, khi con người vừa bước ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lỗ của thuở hồng hoang để bước vào hình thái xã hội ban sơ, con người cảm thấy nhỏ nhoi trước sức mạnh kỳ bí của thiên nhiên nên yếu tố thần linh ngự trị trong mọi sinh hoạt của họ. Ngay cuối thiên niên kỷ thứ hai, một số dân tộc tuy có một nền văn minh cao nhưng vẫn còn tôn thờ những vật tổ linh thiêng của họ như dân Ấn vẫn còn thờ bò… chúng ta không thể cứ dựa trên những tập tục cổ của một dân tộc mà đánh giá một cách sai lầm là xã hội đó kém văn minh, mê tín, hoang đường… Đó là cách nhìn theo giáo sư viện sĩ Jean Poirier là tiến hoá luận đơn tuyến hay còn gọi là quan điểm giả tiến hoá. Trái lại sự hiện hữu tục thờ vật tổ Totem của một số dân tộc chứng tỏ tính phong phú đa dạng của nền văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc. Thế nên, việc Mẹ Tiên (Âu Cơ) sinh ra trăm trứng nở ra trăm người con trai trên bình diện tâm linh là bình thường không có gì đáng ngạc nhiên cả. Vấn đề là phải tìm hiểu phần tinh tuý, cốt lõi của nhân vật hình tượng Mẹ Tiên như Jung nói: “ sự đúc kết biết bao suy tư của thời đại tạo dựng độc sáng… phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý luận”.

 

           Thật vậy, đã là Tiên thì Mẹ Âu Cơ có thể làm bất cứ điều gì mà người phàm không làm được … đó là đẻ ra “trứng” thuộc phạm trù tín ngưỡng nguyên thủy cũng như  phạm trù tôn giáo đòi hỏi phải có niềm tin một cách mặc khải ..v. v… Gạt sang một bên vấn đề tự tình dân tộc để tìm hiểu xem tại sao Mẹ Âu lại đẻ ra “trứng”, chúng ta thấy rõ hàm ý sâu xa của tổ tiên ta. Thật vậy, ý niệm trứng trong huyền thoại biểu trưng Totem vật linh biểu trưng của Việt tộc là tộc người thờ chim (bái điểu tộc) là một con vật đứng đầu trong tứ linh: nhất điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng. Nguồn thư tịch cổ cũng cho ta biết “Lạc bộ Chuy” là chi tộc Việt đầu tiên từ vùng Cao Nguyên Côn Sơn Hi Malaya tiến xuống Trung Nguyên qua vùng núi Dân, Ba Thục. Lạc bộ Chuy là chi Việt cổ của họ Hồng Bàng có vật biểu là chim (Việt điểu, Lạc điểu), ông cha ta đã theo dấu chim Hồng, chim Lạc thiên cư xuống vùng đất miền núi Dân, Ba Thục cũng được gọi là Châu Phong. Địa danh Phong Châu ở Bắc Việt Nam cũng chỉ là nhắc lại địa danh cư trú ban đầu của Việt tộc nơi mà mẹ Âu dẫn 50 con lên núi rồi suy cử người con trưởng làm vua nước Văn Lang… như truyền thuyết kể lại. “ Âu Cơ và 50 con lên đất Phong Châu, suy phục lẫn nhau cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên  nước là VĂN LANG, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình Hồ, Nam tới Hồ Tôn (Chiêm Thành)”.

 

      Sách “Lĩnh Nam Trích Quái” truyện Thánh Tản Viên chép rằng thời Chu Noãn Vương, vua Hùng thứ 18 đến ở đất Việt Trì, châu Phong, lấy quốc hiệu là Văn Lang. “Hùng triều Ngọc phả” cũng ghi là đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huý là Đức quân Lang (660-569 TDL) mới dời đô về Việt Trì trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam bây giờ. Sự kiện này phù hợp với cương giới Văn Lang ghi trong thư tịch cổ và những công trình nghiên cứu địa danh là những từ ngữ của một tộc người đã ghi tạc vào sông núi nơi địa bàn cư trú của họ ở một thời điểm nhất định nào đó, cho phép chúng ta kết luận là sự tương đồng của những địa danh khẳng định địa bàn cư trú của cùng một tộc người trên vùng đó. Trong số những địa danh thì thủy danh là tên sông, nhất là những con sông lớn có tên sớm nhất trước cả tên đất nữa. Công trình nghiên cứu cho ta thấy 2 con sông lớn ở Đông Á và Đông Nam Á là Dương Tử Giang và Cửu Long Giang (Mékong) có tên gọi giống nhau và cùng bắt nguồn từ một danh từ cổ là “Kang”. Cách phát âm này hiện được giữ lại trong các tiếng địa phương Quảng Đông và Thượng Hải. Xét theo tự dạng thì từ “Giang” lại dùng chữ “Công” để phiên âm. Tên sông Mékong được gọi bằng nhiều tên theo tiếng nói của các dân tộc mà sông này chảy qua. Trung Quốc gọi là Khung Giang, Lào gọi là Nậm Khỏng, Cambodia gọi là Mê Kong và xuống đến lãnh thổ Việt Nam, con sông này được gọi một cách thân thương là Cửu Long giang. Bản thân những từ Cửu Long giang, Nậm Khoỏng, Mékong, Khung Giang, là những dạng tương tự về mặt ngữ âm do từ một tên gốc là Kông(13) .

 

      Về địa danh, nếu chúng ta ngược dòng thời gian đi sâu xuống lớp địa danh Hán Việt đang trùm kín vùng cư trú của người Việt thì có thể thấy còn có một lớp địa danh cổ hơn nữa, đó là lớp tên nôm với yếu tố cấu thành là từ Kẻ. Những tên nôm với yếu tố Kẻ như thế rất nhiều, có thể nói rằng hầu hết xã thôn Việt Nam ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đều có. Tên nôm hiện nay đang bị quên dần đi và ít được dùng đến, nhưng nó từng tồn tại rất lâu. Trước đây, trong một thời gian dài nó tồn tại song song với Hán Việt, với sự phân công rõ ràng là tên nôm dùng để gọi, còn tên Hán Việt là “tên chữ”. Như chúng ta biết, tên đặt ra trước tiên dùng để gọi, đến khi xã hội phát triển ở mức độ khá cao mới nảy sinh nhu cầu ghi chép. Hơn nữa xét tương quan ngữ âm giữa các cặp tên nôm và tên chữ thì chúng ta thấy rõ là tên chữ được đặt ra bằng cách phiên âm tên Nôm và trong một số trường hợp bằng cách dịch nghĩa nữa. Điều này một lần nữa khẳng định nhu cầu ghi chép là điều kiện xuất hiện tên Hán Việt(14). Đặc biệt trong nhiều tên làng Việt Nam, từ Kẻ trong những tên nôm được phiên âm ra tên Hán Việt bằng từ Cổ những địa danh có chữ “cổ” đứng đầu rất phổ biến, rất tập trung. Nhìn rộng ra toàn Trung Quốc thì địa danh có từ Cổ còn thấy rải rác ở Cam Túc(15), Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, nhưng tập trung nhất vẫn là vùng Lưỡng Quảng … Như vậy tên nơi cư trú có thành tố “Kẻ” đứng đầu trong địa danh học cần đặc biệt lưu ý khi xét vùng đất cổ của cư dân Văn Lang, nó được tìm thấy ở một mức độ tập trung khá cao tại miền đất bao gồm miền Bắc Việt Nam và vùng Lưỡng Quảng hiện nay. Địa bàn phổ biến địa danh có từ “Kẻ”, “Cổ” hiện nay có thể trải rộng ra nhiều tỉnh thuộc Hoa Nam, nhưng chúng ta đều biết địa bàn phân bổ của địa danh, càng rộng bao nhiêu thì khởi điểm của loại địa danh đó càng cổ bấy nhiêu. Rất có thể vùng đất tập trung địa danh thuộc nước Văn Lang như truyền thuyết cho biết (16) .

 

           Tầm nguyên ngữ nghĩa của từ LANG cho chúng ta những nhận định chính xác hơn về địa bàn cư trú của người Việt cổ cũng như uyên nguyên ngữ nghĩa của tên nước Văn Lang. Cũng như các dân tộc khác thời cổ đại khi còn là một tộc người thì lấy chữ “người” để chỉ tên của dân tộc đó theo ngôn ngữ của họ. Chữ Lang trong tiếng Hán có nghĩa là đàn ông. Từ này nguyên gốc của Việt cổ còn ghi rõ trong truyền thuyết… Con trai vua gọi là Quan Lang và con gái là Mị nương, hiện từ Lang vẫn còn truyền lưu trong đồng bào Mường, Quan Lang là người đứng đầu một Mường(17). Ngôn ngữ phương Nam còn có những từ như Dranglô của Barnar có nghĩa là đàn ông, Arăng tiếng Êđê và Urang của Chàm đều có nghĩa là người. Trong tiếng Indonesia, Mã Lai, chữ Orang cũng nghĩa là người. Phương pháp so sánh của ngôn ngữ lịch sử xem những từ Văn Lang, Việt Lang, với Urang, Orang, cũng xem như Dạ Lang với Drang trong từ Dranglo là giống nhau trên căn bản. Sự khác biệt là do biến đổi từ trạng thái nọ sang trạng thái kia theo điều kiện không gian và thời gian mà thôi.

 

           Căn cứ trên bản đồ nhân chủng cho thấy tộc danh có thành tố “Lang” trải rộng khắp Trung Nguyên từ lưu vực sông Dương Tử xuống tới Bắc Trung Việt (Việt Nam) như Dạ Lang (Quí Châu) Bạch Lang (Tứ Xuyên), Việt Lang  (Quảng Đông) và Văn Lang (Bắc Việt Nam) và những danh từ chung chỉ người như Lang, Dranglo, Orang, trải rộng trên một địa bàn lớn ở vùng đồng bằng ven biển, các vùng ven biển bao quanh Nam Hải tới Indonesia, Mã Lai, v. v… Khu vực phân bố các dân tộc này xét về mặt địa lý phù hợp với cương vực của nước Văn Lang cũ như truyền thuyết kể lại. Điều này được xác nhận bởi các nguồn thư tịch như sách “Thiên hạ Quận quốc Lợi bệnh thư” đã bị triều Thanh tịch thu thì ở tỉnh Quảng Tây có nhiều người Lang (Lang nhân). Do đó người ta gọi thổ binh ở vùng này là Lang binh và người Choang cách đây 4, 5 thế kỷ vẫn còn được gọi là Lang và Choang là đọc chữ Lang trại âm mà ra.(17)

         

        Thực tế lịch sử cho chúng ta thấy tính hiện thực của truyền thuyết trăm trứng nở trăm con với sự hiện diện của các nước mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt (Bai-Yue). Cái tên Bách Việt theo Đào Duy Anh xuất hiện lần đầu tiên là trong sách sử là bộ sử ký của Tư Mã Thiên. Sử Ký chép rằng đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch  Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam(18) bấy giờ là đầu thế kỷ thứ IV TDL… Sách “Tả truyện còn gọi là Tả thị Xuân Thu” của Tả Khâu Minh, thiên Tự quan viết rằng:“ Phía Nam Dương, Hán (Hán thuỷ) là Bách Việt”. Cao Dụ giải thích tiếp như sau:“Bách Việt là nơi tộc Việt có cả trăm chủng”. Sách Hậu Hán Thư, Địa lý chí dẫn lời Thần Tán về Bách Việt như sau:“Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau …”.

 

        Ngay từ đầu triều Thương, cổ sử Trung Quốc đã đề cập tới tên một số chi tộc Việt như Au Thâm, Việt Au, Quế Quốc, Quyên Tử, Sản Ly, Cửu Khuẩn, Đông Việt, Au Nhân, U Việt, Cô Muội, Thả Au và Cung Nhân … Theo “Dật Chu thư” thì các chi tộc Việt ở Lĩnh Nam như Quế Quốc, Sản Ly, Quyên Tử, Cửu Khuẩn phải cống nạp đồi mồi, hạt châu, chim quí, ngà voi, sừng tê, chim Hạc, chó lùn … Lạc Việt cống tre ngà (đại trúc) măng trúc … Thương Ngô ở phía Nam Hồ Nam cống chim công. Tuy nhiên, sách “Trúc thư kỷ niên” chép là mãi đến đời Chu Thành vương, năm 1040 TDL “Vu Việt lai tân” nghĩa là đến làm khách thăm xã giao mà thôi. Đến đời Tống, La Tất viết “Lộ sử” (19) tức là sử của Lạc Việt đã liệt kê một số nhóm trong Bách Việt như sau : “Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương,  Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Ký, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cần, Bắc Đái, Khu Ngô gọi là Bách Việt”. Trong những nhóm Bách Việt ấy chúng ta thấy có những nhóm như Dương Việt ở hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây, nhóm Sản Lý tức Xà Lý ở tận miền Tây Nam tỉnh Vân Nam, còn Kê Từ, Bắc Đái là những tên huyện thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Có thể căn cứ vào những địa điểm ấy mà nói rằng sử sách Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác trên khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam, phía Nam gồm cả đất miền Bắc Việt Nam ta mà sử gọi chung là miền Giang Nam (miền Nam sông Dương Tử) và miền Lĩnh Nam (miền Nam rặng Ngũ Lĩnh). Trong những nhóm Bách Việt được chính sử Trung Quốc như Sử Ký và Tiền Hán Thư chép tương đối kỹ càng là: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu. Theo Sử ký mục “Đông Việt truyện” thì chúng ta biết rằng Đông Việt hay Đông Âu trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết Giang. Mân Việt thì ở đất Mân Trung tức là miền Phúc Kiến. Nam Việt đô ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông, Tây Âu ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây. Còn nhóm Lạc Việt, theo Hậu Hán thư cho chúng ta biết rằng các quận Giao Chỉ và Cửu Chân là người Lạc Việt, như thế Lạc Việt là nhóm Việt tộc ở miền Bắc Việt Nam…(20)

 

        Như vậy, theo sử sách xưa của chính Hán tộc đã gọi Bách Việt là những nhóm người sống rải rác khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam Tứ Xuyên và phía Nam gồm cả Bắc và Trung Việt Nam bây giờ mà sử sách thường gọi chung là miền Giang Nam tức miền Nam  Dương Tử Giang hoặc miền Lĩnh Nam, phía Nam rặng núi Ngũ Lĩnh. Tuy nhiên chính sử Trung Quốc chi ghi một cách sơ xài như Sử ký của Tư Mã Thiên chỉ ghi kỹ về Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt và Lạc Việt mà thôi. Thư tịch cổ Trung Quốc phải thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của các quốc gia thời Xuân Thu Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Sử ký của Tư Mã Thiên chép tương đối kỹ về Đông Việt tức U Việt của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt. Nước Việt đóng đô ở Cối Kê với bao thăng trầm nên Lý Tế Xuyên mới viết “Việt điện U linh” về nước Việt thuở xa xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến,  Dương Việt ở Giang Tây, Liêu Việt ở Quí Châu, Điền Việt, Kiềm Việt ở Vân Nam, Quì Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Au Việt còn gọi là Tây Au ở Quảng Tây và Lạc Việt ở xen kẽ với Au Việt rải rác khắp Hoa Nam nhưng tập trung nhiều nhất ở Quảng Tây và Bắc Việt Nam bây giờ.

 

      Đối chiếu với cương giới Văn Lang trong truyền thuyết chúng ta thấy thực tế địa bàn cư trú của cộng đồng Bách Việt rất phù hợp, trải dài từ Hồ Động Đình xuống tận phương Nam giáp Chiêm Thành và từ biển Đông sang tới tận Ba Thục ở phía Tây. Thế nhưng Đại Việt sử lược bị sử quan triều Thanh là Tiền hi Tộ sửa đổi nên chép tên các bộ chỉ nằm trong phạm vi Bắc Việt Nam bây giờ. Theo nhà bác  học Lê Quí Đôn trong Vân Đài loại ngữ thì  “Tên 15 bộ do triều Hán - Ngô mơí đặt  ra, tên gọi lẫn lộn ngờ rằng những tên đó là do bọn hậu Nho góp nhặt vay mượn chép ra nên khó mà tin được … Xét về phận dã thiên văn thì Giao Chỉ thuộc Sao Tĩnh. Dực Chẩn và Đẩu Ngưu…”. Như vậy, nhà bác học Lê Quí Đôn đã xác nhận rõ là cương giới nước ta thời cổ nằm mãi ở Trung nguyên TQ bây giờ. Thật vậy, cương giới Hồng Bàng Văn Lang xưa được ghi trong “Thiên thư” là Việt Tĩnh Cương lấy chòm sao Tĩnh làm chuẩn để phân bố các vùng, các bộ trong nước Văn Lang. Nhìn chung, chòm sao Tĩnh tượng hình bằng 2 đường thẳng và 2 đường ngang cắt nhau tại 4 điểm chỉ vùng đất từ Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc xuống tới Tam giang Nam gồm sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử.(21)

 

      Sự mâu thuẫn cũng không có gì khó hiểu, vì việc bóp méo, xuyên tạc và sự kiện lịch sử được hư cấu để vấn đề gốc tích dân tộc ta trở nên mịt mờ huyền hoặc là bản chất cố hữu, chủ trương trước sau như một của Hán tộc xuyên suốt dòng lịch sử. Trong khi đó sách Lĩnh Nam Trích Quái dựa theo truyền thuyết dân gian Việt cổ lại chép các bộ Chân Định ở Trường Sa Hồ Nam, bộ Quế Dương, Quế Lâm ở Quảng Tây và Tượng quận ở Quí Châu,Vân Nam hiện thuộc lãnh thổ Trung Quốc mới  phù hợp với thực tế lịch sử. Ngay sử gia Tư Mã Thiên người được coi là ngay thẳng trung thực nhưng với tư cách là sử gia đại biểu chính thống cho Hán tộc, Tư Mã Thiên là người hiểu rõ hơn ai hết Hoàng Đế là người Việt vì cũng chính ông ta đã viết là những vị vua Đế Cốc, Đế Chuyên Húc .. đều là ông tổ của những vị vua Việt sau này. Cũng vậy, Tư Mã Thiên cũng hiểu rõ về Lạc bộ Chuy, Lạc bộ Thủy, Lạc bộ Trĩ nhưng ông ta lại viết Lạc bộ Mã cũng chính vì không muốn người Việt nhớ đến cội nguồn dân tộc và lãnh thổ Việt xưa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng : “Tư Mã Thiên sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu gì về dân Mạn Nam. Điều đó người Tàu mạn Bắc đều đồng ý… Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mã Thiên hay những sử gia khác mà không chú ý đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lý do của sự bỏ sót đó là họ đã xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nhìn nhận để có những gì thuộc miền Bắc nước Tàu”. Chính vì vậy, cũng chẳng ngạc nhiên gì khi Việt tộc là chủng tộc đóng góp phần lớn vào việc hình thành  nền văn minh Trung Hoa, một số lớn người Hán gốc Việt bị đồng hoá hàng nghìn năm được xem như thành tố quan trọng trong dân số Trung Quốc. Thế nhưng các sử gia Trung Quốc cố tình quên đi yếu tố Việt trong thành phần dân số, nên họ chỉ nhắc đến các dân tộc cấu thành Trung Quốc gồm Mông, Mãn, Tạng, Hồi và Hán trong đó Hán  là chủ thể.

        

       Tóm lại, chính thực tế lịch sử đã minh nhiên lý giải ý nghĩa của sự việc “lạ thường” là mẹ Tiên đẻ trăm trứng nở trăm con, để rồi trở thành trăm chi tộc Việt mà sử cổ Trung Hoa gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do một người con trai đứng đầu nên từ đó mới có ý niệm bách tính là trăm họ. Đây mới chính là vấn đề mà cốt lõi của nó là sự gửi gấm của ông cha ta thời dựng nước cho con cháu ngàn sau, về nguồn gốc giống dòng của trăm chi tộc Việt máu mủ ruột rà, cùng chung huyết thống để lúc hoạn nạn nhớ cưu mang giúp đỡ lẫn nhau như lời Bố Lạc dặn dò trước lúc chia tay. Không những cưu mang giúp đỡ lẫn nhau  mà còn phải đoàn kết, thống nhất sức mạnh Việt tộc để phục hưng dân tộc Việt. Truyền thuyết dân gian Hoa Nam và Đài Loan về chim Phượng Hoàng, chúa tể loài chim Totem Vật tổ Việt tộc mà dân gian gọi là “Bái điểu tộc”, chống lại thiên ma tộc “Đại Hán”. Đó chính là bức “Thông điệp  của tiền nhân từ huyền thoại  gửi cho cháu con hậu thế chúng ta xuyên suốt mấy ngàn năm của dòng vận động Lịch sử  Dân tộc Việt ”.

           

        Thế là Truyền thuyết huyền thoại từ chỗ u u đã trở nên minh minh, chứ không còn u u minh minh như trước nữa. Ngày nay chúng ta không còn ngạc nhiên khi thấy ông cha ta đã chọn loại Chim là vật biểu, tự thân hai chữ Hồng Bàng có nghĩa là rộng lớn. Hồng là Ngỗng trời, còn Hộc là Ngan trời, nên cả hai còn có tên là Thiên Nga(Swan), hàm ý có chí lớn bay cao tận trời xanh. Hình ảnh chim được khắc hoạ trên mặt trống đồng với mỏ dài của loại chim nước. Các nhà nghiên cứu kết luận chim nước là của Đông Nam Á, nó gắn liền với cư dân nông nghiệp sống ở vùng  sông lạch, ao hồ.

 

     Theo triết gia Kim Định thì Hồng Hộc, chim nước của Việt tộc thể hiện nguyên lý Âm Dương Giao Chỉ vì nó vừa bay lên trời vừa xuống dưới nước. Chi tộc Việt tôn thờ chim Hồng biểu trưng của văn minh nông nghiệp cùng với chi Lạc thờ Rồng trong cộng đồng Bách Việt nên chúng ta vẫn tự hào là dòng giống Lạc Hồng (Lạc Âu). Trên bình diện tâm linh, hư cấu thêm ý nghĩa thần thoại thì chim bay lên tận trời xanh thường gắn liền với các vị Tiên nữ trên trời. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Phượng minh triều dương”, tức là con chim Phượng Hoàng huyền thoại hót chào ánh sáng mặt trời ban mai. Sách Quảng Đông Tân ngữ ghi là:“Tuỳ dương Việt Trĩ”, Trĩ là con Công của Việt tộc luôn luôn  bay theo hướng mặt trời, mà con Công chính là chim Phượng Hoàng huyền thoại được coi như tổ các loài chim. Ý niệm Chim-Tiên-Mặt trời gắn liền với tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp với nền văn minh lúa nước của Việt tộc. Bên cạnh ý nghĩa tâm linh đó, chim Hồng biểu tượng một ý chí cao, luôn bay vươn lên, vượt tới trời xanh, thể hiện ý chí tầm cao của tộc Việt, một dân tộc có bản lĩnh anh hùng coi cái chết “nhẹ như lông hồng”. Người Việt sẳn sàng hy sinh cho dân tộc nên dân gian thuờng nói “chim én, chim sẻ làm sao hiểu được chí lớn của chim Hồng, chim Hộc”.

 

 

Trở về Trang Chính