Hồi Ký Trần Hữu Du



Trần Hữu Du

 

Vào dịp lễ Memorial day, năm 2007 tôi mới có dịp gặp lại thầy cô cũ sau 35 năm xa cách. Thường nhóm bạn bè chúng tôi cứ vài năm một lần lại tụ họp nhau tại một địa điểm nào đó. Đặc biệt năm nay tại nhà Đỗ Tiến Như ở TB Georgia.

Lần này tôi từ Oklahoma, Thọ từ Houston, Hiệp từ Wichita-Kansas, Hùng từ San Antonio, Diệm và Sâm từ Seattle. Thầy Hùng và cô Mộng Hoàn từ San Jose. Thật là lần hội ngộ vui. Ba ngày cuối tuần ngắn ngủi, rộn rã tiếng cười nói. Thầy cô và chúng tôi chuyện trò hàn huyên bên nhau. Thôi thì đủ thứ chuyện cũ mới để tâm tình.

Thú thật với các bạn, từng tuổi này, sau mấy chục năm gặp lại thầy cô cũ, tôi mới có dịp nghe lại mấy tiếng thật thân quen “Thưa thầy- thưa cô”. Có phải khi người ta tóc đã điểm sương, lưa thưa sợi bạc- tuổi mà các ông bà cụ vẫn bảo: gần đất xa trời, nếp nhăn xếp lớp trên khóe mắt. Vậy mà đứng trước thầy cô- thưa thầy, thưa cô. Bỗng dưng thấy mình trở nên nhỏ bé như ngày nào!

Đây có phải là cái tình cảm tự nhiên, cho đến bây giơ trong thâm tâm mình vẫn thấy quí trọng thầy cô như thuở nào. Rồi đến hôm đưa tiễn thầy cô bạn bè ra phi trường lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chúng tôi nhìn nhau, bắt tay, dặn dò nhắn gửi nhưng sao vẫn không cầm được nỗi xao xuyến trong lòng.

Cảm ơn Như-  cảm ơn chị Oanh (vợ Như) người đã đứng một mình trong bếp từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối phục vụ chúng tôi- Đến khi chị đã quá mêt, nằm lăn ra thảm giữa phòng khách, tôi thấy được tấm lòng hiếu khách của chị. Hôm ấy, tôi nhớ là ngày sinh nhật của chị- Chúng tôi, thầy cô cùng vỗ tay ca bài Happy Birthday- chung vui với chị cắt bánh- ổ bánh đầy ắp strawberry đỏ tươi và hoa hồng rực rở- tôi không quên đôi mắt chị Oanh tròn to, nụ cười vui sướng nở trên môi. Tôi thấy chị trẻ lại và đẹp hơn bao giờ!

            -Niềm vui trước giờ tuyệt vọng!

Nghe thế, cô Mộng Hoàn cười:

 -Dữ hí! Ít nói đó, nhưng nói ra là sâu sắc chớ không phải thường mô nghe!

Và những tiếng cười dường như không tắt.

Buổi chiều sau cùng, vợ chồng Như đưa thầy cô và chúng tôi xuống phố, thả dạo công viên, hóng gió bờ sông Sanvannah. Holiday weekend nên rất đông du khách thập phương đổ về. Trời chiều kéo nhau ra biển. Trên bãi cát ngày nắng người ta chen chúc bên nhau.

-người đâu ra mà đông thế!

Cũng bữa tối đó, thầy cô có hỏi thăm tôi: " Em qua Mỹ năm nào? "

 

Cả bọn- Chúng tôi đến quê hương này bằng những ngã đường khác nhau. Như qua 1975 ngay ngày mất nước. Thọ theo ông cụ cùng gia đình theo chương trình H.O. của Mỹ. Sâm cũng thế. Còn Hiệp, Hùng, Diệm, hình như chương trình đoàn tụ ODP. Thầy Hùng vượt biển, còn tôi vượt bộ xuyên Cambodia qua ngã Thái Lan. Chắc các bạn có nhiều dịp được đọc sách báo, tài liệu thật hay nghe lại những nhân chứng sống về con đường đi tìm tự do của người Việt Nam chúng ta. Đó là con đường đau thương và đầy nước mắt, tang tóc và chia lià. Hàng trăm ngàn người Việt dù vì lý do nào đó đã ra đi cho dù phải đánh đổi mạng sống của bản thân mình…

Một ngày tháng 9 năm 1980, sau 5 năm 3 tháng học tập cải tạo; tôi được trở về sum họp cùng bố mẹ và các em tôi- trong 3 tháng, bên cạnh những người thân yêu của tôi, tôi vẫn như chưa lấy lại được cân bằng của người dân bình thường. Ngày nào tôi cũng phải ra trình diện công an địa phuơng hoặc công an quận. Là thành viên của chế độ cũ, tôi nhận thức rằng; tôi là 1 kẻ bên lề của xã hội. Làm thế nào để tôi tạo dựng cuộc sống bình thường như những người dân thành phố khác? Trong khi toi có quá khứ không sạch sẽ với chế độ này. 1 chế độ phải trong sạch lý lịch 3 đời mới được xét xử con đường thăng trầm của bản thân

 

-Tôi phải đi!

Nói “tôi phải đi” thì dễ nhưng đi như thế nào là vấn đề quá khó với tôi lúc bấy giờ. Thành phố Saìgòn vẫn những giòng người ngược xuôi, chuyện vượt biên không còn là huyền thoại đối với người dân thành phố. Bởi vì ở đâu, chỗ nào, góc phố, quán cà phê cóc bên đường, đề tài vượt biên người ta tham khảo, bàn bạc to nhỏ với nhau dưới nhiều hình thức khác nhau. Và chuyện vượt biên- ngày nào cũng có người đi…kẻ trở lại…rồi vượt thật, vượt giả- vượt biên như vở kịch người ta lường gạt lẫn nhau- cơn sốt nóng của người dân thành phố.

Khi tôi cho mẹ tôi biết quyết định “Tôi phải đi” của mình. Mẹ tôi hoang mang lo lắng. Cái lo của bà, nếu tôi đi lần này mà vượt thoát được đó là điều may mắn. Còn nếu bị bắt liệu tôi có chịu nổi cuộc sống tù tội mà tôi đã nhọc nhằn vất vả chịu đựng hơn 5 năm qua. Tôi giải thích cặn kẽ với mẹ tôi, “Mẹ yên tâm, lần đi này sống hoặc chết. Thà chết chứ con không để họ bắt, tù đày con nữa!”

Lúc ấy mẹ tôi mua bán hàng ngày ở chợ Bến Thành Sàigòn. Tình cờ có người móc nối với mẹ tôi về đường giây vượt biên đường bộ qua ngã Thái Lan. Họ giới thiệu để tôi tiếp xúc với người tổ chức. Sau khi trò chuyện, tôi đồng ý  và liều lĩnh chấp nhận trả tiền cho chuyến đi này bằng 2 cây vàng.

Buổi chiều trước ngày đi, tôi theo mẹ tôi đến lăng Ông-Bà Chiểu khấn nguyện. Nhìn mẹ ra sân đền mua mấy lồng chim thấy thương mẹ làm sao…Mẹ bảo:

-Me mua chim để phóng sanh.

Nghe tiếng reo mừng của cà hàng trăm con chim vừa được bay ra khỏi lồng, tung cánh trước sân, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng thanh thản.

 

Một ngày cuối tháng 12 năm 1980

Chúng tôi tất cả 6 người. Ngoài tôi ra, Trung, Liêm, Thơ, Hưng, Vũ là 5 người thanh niên trẻ, tuổi từ 17 đến 21, toàn là dân Sàigòn. Mọi người đều được hướng dẫn chi tiết những việc cần thiết phải làm để sửa soạn cho chuyến đi. Điều cần nhất là đồ hoá trang làm bộ đội. Vậy là ai nấy lao ra chợ trời mua sắm. Quần áo lính, nón cối, dép râu, ba lô…Tôi ra tù được mấy tháng, người còn ốm nhom, da đen thui. Các bạn cũng biết sau hơn 5 năm trong nhà tù , ăn uống thiếu thốn, lao động quá độ, không diễn tả chắc các bạn cũng hình dung được dung nhan của tôi, tên tù của nhà lao Cộng sản như thế nào… Ấy thế mà khi sửa soạn trước chuyến đi. Tôi mặc vào quần áo bộ đội, chân đi dép râu, đầu đội nón cối, lưng mang ba lô. Bố mẹ nhìn tôi cũng phải tức cười. Tôi chẳng khác gì anh bộ đội sắp sửa lên đường vào Nam chống Mỹ! 5 chàng thanh niên cùng đi trong chuyến cũng được sửa soạn tươm tất như tôi.

Vào giờ N-6 người bộ đội chúng tôi gặp nhau- chúng tôi bộ đội giả 100%. Không có số lính, không có một mảnh giấy tờ gì trong người chứng tỏ là quân đội nhân dân. Quán cà phê bến xe lam Lăng Cha Cả là điểm chúng tôi gặp nhau. Khi đến nơi, 2 người tổ chức (bộ đội thật) đã chờ sẵn ở đó. Tất cả 8 người chúng tôi lên xe lam. Chiếc xe đủ khách, tài xế nổ máy, rời Sàigòn chạy về hướng Thủ Đức.

 

Đây trại lính bộ đội. Nơi được gọi Tiền Trạm. Tiền trạm là nơi bộ đội nghỉ chân. Lính đến đây chờ đợi bổ nhiệm về đơn vị mới. Lúc bấy giờ, chiến tranh bên Cambodia bộc phát mạnh. Hàng ngày có những toán quân chờ qua biên giới để tăng viện thêm cho quân đoàn Cộng sản thiếu hụt. Chúng tôi 6 người linh giả được đưa đến trại lính này vào lúc trời nhá nhem tối. Theo sự chỉ thị của người tổ chức, chúng tôi không được nói chuyện với nhau, chỉ khi nào thấy cần thiết. Bởi nếu bất cứ động tĩnh nào kể từ lúc này cũng có thể bị sơ hở và nguy hiểm đến không chỉ chúng tôi và ngay cả người tổ chức. Trong doanh trại, đông đúc bộ đội, già có trẻ có, đủ mọi tầng lớp, cấp bậc khác nhau. Tôi đốt điếu thuốc, chuyền tay nhau không nói, theo nhau vào góc căn láng bỏ không tìm chỗ nghỉ lưng tạm để sáng sớm mai lên đường.

Mặt trời lên cao. Ngoài sân trại, đoàn xe Motorola nối đuôi nhau chờ sẵn. Chúng tôi thức dậy, lỉnh kỉnh các thứ bỏ vào ba lô quẫy vội lên vai theo những người lính ra sân sắp hàng. Bây giờ là lúc mọi người lắng nghe tên gọi của mình để lên xe. Rồi đến toán chúng tôi, những tên ABCD cũng được gọi ( ABCD tên giả đã được tổ chức viết vào danh sách). Chúng tôi chia làm 2 toán, mỗi toán 3 người. Toán nào cũng được 1 người bộ đội dẫn đường đi theo bên cạnh chúng tôi. Khi mọi người lên xe xong, đoàn xe bắt đầu khở hành theo hướng Tây Ninh qua biên giới.

Trạm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là 1 trại lính tại thành phố Kongpomthom. Sau ngày dài mệt mỏi phải ngồi chen chúc với nhau trên xe qua hàng trăm cây số. Đường sá xứ Chuà Tháp cũ kỹ gập ghềnh ổ gà nên ai cũng mệt mỏi. Tối hôm ấy, chúng tôi cũng xếp hàng cầm ca nhôm đi lãnh cơm với thức ăn. Sau bữa cơm đạm bạc của người bộ đội, chúng tôi tìm chỗ nghỉ rồi nằm bên nhau ngủ thiếp đi mà không hay biết.

 

Ngày thứ 2: Đoàn xe hướng về thủ đô Nam Vang. Chúng tôi ngồi dựa vào nhau trong lòng chiếc xe chở đầy ắp người. Bộ đội Nam, bộ đội Nữ, già có trẻ có. Tôi nhũ thầm trong lòng: Thôi đã phóng lao thì phải theo lao- giờ là lúc ngồi trên lưng cọp. Tiến thối lưỡng nan, không có sự lựa chọn nào khác. Mồ hôi nhễ nhại trộn lẫn bụi đường trên mặt người cùng đi chung. Tôi thấy gần 2 ngày đường đã làm cho những cậu học sinh thành phố thấm mệt. Cả bọn, những khuôn mặt bộ đội giả, non choẹt, nếu không khoác áo lính trên người khó có ai đoán được đó là những chàng thư sinh mới cách đây 2 hôm còn lang thang các quán cà phê thành phố. Họ đâu biết chiến tranh là gì, mùi súng đạn ở bên kia biên giới ra sao. Vậy mà giờ này, qua 2 ngày đường ngồi lẫn lộn trên xe giữa những người lính thiệt, dân Nam dân Bắc, tình cờ được nghe họ trao đổi nhau chuyện buồn vui đời lính. Tiếng cười nói, tiếng chưởi thề, văng tụ…Đ.mẹ… Đ.bố…đã đi vào cuộc đời non trẻ của đám thanh niên thành phố.

Chiều xuống, đoàn xe đã tới Nam Vang, mọi người nhảy vội xuống khỏi xe. Đoàn lính trông như đàn kiến vỡ tổ. Đây là ngôi chùa Miên bỏ hoang, bộ đội dùng làm nơi trú quân. Chúng tôi đi tìm nơi nghỉ ngơi, rồi cũng đi lãnh phần cơm tối. Đêm trong lòng thủ đô, thành phố yên tĩnh, những ngọn đèn đường lờ mờ, quanh trại lính này chẳng có dấu hiệu sinh hoạt sầm uất nào của người dân Miên.

 

Ngày thứ 3: Sáng sớm những tiếng gọi nhau ơi ới. Đoàn xe bây giờ đã chia ra làm 2 ngã. 1 về Battambang. 1 đi Xiêm rệp. Người bộ đội dẫn đường cho chúng tôi hay: lên xe đi Xiêm rệp. Tôi quay lại nói với nhóm mình lời đó rồi trèo lên xe. Trời lại mưa, tôi trùm mình trong tấm nilông. Đoàn xe nối đuôi nhau rời trạm. Tôi dựa lưng vào thành xe. Những hạt mưa lạnh đập và mặt, khẽ len qua cổ áo. Tôi chợt rùng mình. Bây giờ là ngày thứ 3 rồi, tôi thầm thỉ cầu nguyện bình an cho chúng tôi được gặp. Tôi quanh quẩn với những nhớ nhung gia đình bên nhà. Bố mẹ, các em tôi làm sao hình dung nổi chuyến đi của tôi. Tôi ngả mình khi xe nghiêng về 1 phiá qua ngã quẹo. Hàng chữ tiếng Miên và chữ Xiêm rệp trên tấm bảng lớn bên đường, cho chúng tôi biết xe đã hướng về phiá Bắc tỉnh Xiêm rệp. Chắc phải còn hơn nửa ngày đường mới đến điểm M (điểm M nơi đóng quân của người bộ đội tổ chức vượt biên). Đúng như dự đoán, trời vừa tối chiếc xe đã đến nơi. Để tránh bị phát giác, 2 người bộ đội dẫn đường đưa chúng tôi theo họ đi nhanh về phiá cuối làng. Đêm tối như mực, đâu đó thỉnh thoảng le lói 1 ánh đèn sáng nho nhỏ của người dân Miên điạ phương. Chúng tôi phải đi gần nhau để nhận ra nhau kẻo lạc. Khoảng nửa giờ chúng tôi đến nơi ém quân (chỗ dấu chúng tôi) an toàn. Đây là 1 căn nhà tranh vách lá, chủ nhà là 1 bà già người Miên, không có con cháu gì cả. Chúng tôi được dặn dò trước khi 2 người dẫn đường để chúng tôi ở lại đây:

-Các anh nghỉ ngơi, chúng tôi thu xếp giờ giấc, cho các anh hay để các anh lên đường.

Sau khi họ rời nhà, tôi lấy gạo mang theo ra nấu cơm. Đêm khuya, gió mưa lạnh lẻo. Chúng tôi ăn xong ngồi bên bếp lửa hong tay. Bây giờ tôi mới cảm thấy thoải mái đùa giỡn. Trong căn lều nhỏ, giữa màn đêm u tĩnh của núi rừng biên giới, 6 mái đầu chúng tôi chụm lại quanh bếp lửa hồng. Những cánh củi khô nổ lách tách cháy. Mùi thuốc lá trộn lẫn. Không biết giờ này bà cụ trên nhà đã ngủ chưa? có lo sợ vì sự hiện diện đám người lạ mặt này? Chúng tôi không ai nói được tiếng Miên nên không thể trò chuyện với bà cụ. Chúng tôi chỉ biết ra dấu, và thật khó khăn bà mới hiểu.

 

Ngày thứ 4: 4 giờ sáng, chúng tôi thức dậy, nấu cơm ăn với tương xì dầu, vắt 1 số cơm nắm, lấy lá chuối gói lại bỏ vào ba lô mang theo cho cuộc hành trình. Lúc này quần áo bộ đội, quân trang đều vứt bỏ lại hết. Chúng tôi phải thay quần áo dân sự. Trên bản đồ thì khoảng 8 cây số đường rừng chúng tôi sẽ tới biên giới Thái-Miên. Đây là tử lộ, đoạn đường nguy hiểm nhất. Bất cứ 1 sự di chuyển nào của ai, từ đâu…Thái, Miên, Pôn pốt, Sherika (Pônpốt, Sherika là 2 lực lượng kháng chiến của chính phủ Cambodia lưu vong) đều không được an toàn tính mạng. Ngay cả những dân Miên mua bán lậu trên dãy biên giới cũng không dám bén mảng đến vùng đất này. Đây là phiá Bắc của tỉnh Xiêm rệp, vùng đất giao tranh, không thuộc về sự quãn lý, kiểm soát của ai. Ngay cả bộ đội Việt Nam, họ cũng chỉ hanh quân có cả tăng pháo yểm trợ nhưng chỉ tiến quân một mức nào đó rồi lại trở về đất Miên.

-Các anh sẵn sàng chưa?

Hai người bộ đội vừa tới với súng đạn đầy đủ trên người.

-Xong rồi, chúng ta có thể khởi hành được. Tôi đáp lại như thế rồi vội móc túi lấy thuốc lá ra mời 2 anh.

Đoàn chúng tôi cả thảy 9 người, 6 anh em chúng tôi, 1 ông già Miên dẫn đường và 2 anh bộ đội. Nhiệm vụ của 2 anh là đưa chúng tôi ra khỏi điểm chốt cuối cùng của bộ đội kiểm soát ở đây.

Trời tờ mờ sáng. Tôi ngoái cổ nhìn lại căn nhà ẩn sau rừng tre lần nữa rồi theo vội bước chân theo mọi người lên đường. Ông cụ Miên mang theo cái rưạ chặt củi  trên tay. Chúng tôi không có vũ khí gì ngoài những nắm cơm vắt vội đêm qua và ít thuốc men mang từ Sàigòn. Đoàn người len lỏi qua cánh rừng thưa thành hàng dọc. 2 anh bộ đội đi đầu, đến ông già Miên đến tôi và anh em còn lại. Mặt trời lên lưng chừng giữa trời, chúng tôi đi được vài cây số. Nhìn dãy núi bên kia bãi sậy, 2 người bộ đội ra dấu cho chúng tôi ngồi xuống.

-Điểm này anh em tôi không đi với các anh được nữa. Cụ người Miên này tiếp tục dẫn các anh em đến biên giới Thái.

-Chúc các anh đi bình an. Nhớ là khi tới biên giới Thái Lan thì viết mật mã vào giấy đưa ông cụ cầm về nhà cho chúng tôi.

Khi họ nói xong, chúng tôi lục lấy hết trong túi quần áo của mình tiền bạc cụ Hồ chúng tôi tiêu xài còn lại giao hết cho 2 anh bộ đội, bắt tay họ. Thế là chia tay.

Chờ cho đến lúc hai người bộ đội quay trở lại quãng xa, tôi ra hiệu cho cụ già Miên lên đường.

Trước khi đi vào cánh rừng, chúng tôi phải băng qua bãi lau sậy trước mắt. Cũng nhờ cái rựa đi rừng của cụ già Miên đi trước làm ngã cây chúng tôi theo sau. Toán người yên lặng, lầm lủi vào rừng. Nhìn mặt trời, tôi đoán chúng tôi đang đi về hướng Bắc. Theo cụ Miên dẫn đường, dưới cánh rừng dày trùng điệp, chúng tôi đã đi được nửa ngày đường. Cả bọn bắt đầu thấm mệt. Hầu hết mọi người mỏi chân vì không ai từng đi bộ nhiều như thế. Tôi tương đối hơn. Trong đoàn có vài kẻ chân bắt đầu sưng lên. Tốc độ di chuyển càng lúc càng chậm lại. Thỉnh thoảng lại phải dừng để nghỉ chân.

Trời về chiều, chúng tôi gặp 1 khe suối giữa rừng, chọn đây làm chỗ nghỉ ngơi đêm nay. Rừng vẫn âm u, không có tiếng động tĩnh nào ngoài tiếng xào xạc của lá, tiếng chim kêu. Đâu đó thú rừng đuổi nhau làm tiếng lá kêu ầm ĩ. Tôi ra dấu cho ông cụ Miên  dừng lại ở đây. Mọi người tự tìm nơi để ngã lưng. Đêm tối bắt đầu xuống, chúng tôi chia nhau những nắm cơm vắt rồi thiếp vào cánh rừng biên giới.

Mặt trời lên. Tiếng chim sớm mai ríu rít gọi nhau, hòa lẫn tiếng suối róc rách. Chúng tôi thức dậy, tiếp tục lên đường. Cụ Miên đi trước anh em tôi đi theo sau. Khoảng hơn 1 tiếng, lúc đang đi bỗng nhiên ông cụ đứng lại. Tay ông đưa lên như ra dấu dừng.. Giật mình. Trước mắt tôi, bên cạnh lối đi là 1 xác người. Thịt đã rữa chỉ có ít tóc trộn lẫn với đất cách đó không xa vài mảnh quần áo mục nát bọc trên nhánh xương đổi màu. Chúng tôi nhìn nhau, có chút gì sợ hãi. Không biết xác người này là ai? Ở đâu? Đến đây từ lúc nào? Bởi vì bên bộ xương đã mục, không có dấu tích gì chung quanh. Trung nói:

-Chắc người này đã chết đây lâu lắm.

-Hay cũng là dân vượt biên.

Liêm tiếp lời như thế. Bỗng dưng xuất hiện 1 con bướm trắng lớn hơn nửa bàn tay, bay quanh chúng tôi. Tôi vốn dễ hay tin dị đoan nên nói với Liêm:

-Dám con bướm này là linh hồn của người chết, sao nó cứ lãng vãng vậy?

-Đúng đấy.

Thư nói chen vào rồi khẽ bước chân tới gần bộ xương. Tôi nhìn quanh, nghi ngờ…Bởi vì hơn nửa ngày đường qua cánh rừng này, ngoài tiếng lá khô lạo xạo dẫm bước dưới chân, tiếng kêu của thú, ngoài ra đâu có sinh hoạt nào khác của con người. Thế mà, chỗ này giữa rừng có xác chết. Có phải đó là dấu hiệu báo cho chúng tôi hay có gì lạ ở đây? Nghĩ thế tóc sau gáy tôi dựng lên.

-Cẩn thận!

Tôi nói với mọi người. Tôi bắt đầu lo, dấu hiệu của chết chóc. Và sự chết có thể xãy ra với chúng tôi bất cứ lúc nào. Từ bây giờ. Tôi có được nghe về đám tàn quân Pônpốt, về lực lượng kháng chiến của người Khờme lui tới quanh đây, về những toán cướp biên giới xuất hiện vùng này. Người dân Việt Nam vô tội qua đây trên đường vượt biên thoát. Bao nhiêu mạng sống đã ở lại. Bỏ cuộc trên đoạn đường này. Phải chăng đó là cái giá quá đắt người Việt phải trả cho sự tự do. Bây giờ là lúc sự can đảm bao trùm lên nỗi sợ hãi. Không nói gì nhiều với nhau nhưng với niềm tin trong lòng. Với giá nào cũng phải vượt đoạn đường này…Đến khi chúng tôi gặp bia đá cột mốc giữa rừng. 1 bên chữ Cambodia, 1 bên chữ Thái lan.

-Tới biên giới rồi!

Tôi nói với mọi người như thế. Niềm vui nhỏ chợt sáng lên trong lòng chúng tôi . Ông cụ Miên chỉ tay vào tấm bia đá, ngụ ý cho tôi biết mọi người đã đến đất Thái Lan. Tôi bàn bạc với anh em trong nhóm, quyết định viết giấy mật mã để cụ Miên mang về lại Xiêmrệp. Tội nghiệp cụ già, cụ đã đi với chúng tôi hơn nửa ngày đường. Biết rằng tờ giấy chúng tôi viết  sẽ thay mạng sống của cụ. Bởi vì người tổ chức giao nhiệm vụ cho cụ dẫn chúng tôi tới đây, phải an toàn. Chúng tôi thầm cảm ơn cụ.

Chia tay cụ già Miên xong, tôi đi đầu, 5 anh em theo sau. Tôi chỉ thị mọi người nên giữ khoảng cách xa nhau. Chúng tôi bắt đầu đổ dốc. Đá núi từng tảng lớn nhỏ chen chúc nhau với cây rừng. Giây nhợ chằng chịt gai, khó khăn lắm chúng tôi mới tuột dốc đá này.

Rừng vẫn dày, lá khô dưới chân từng lớp ẩm ướt. Bỗng 1 tiếng nổ lớn.

“Boom…Boom!”

Người tôi ngã nhào về phía trước. Tiếng nổ vang dội trong rừng ập vào tai tôi rung lên làm tôi không nghe đươc gì thêm nữa. Tôi ngẫng đầu nhìn chung quanh. Mọi người sau tôi ngã dạt hai bên. Tôi không nhận biết chuyện gì vừa xảy ra. Bom, mìn hoặc ai đó ẩn nấp quanh nay bắn vào chúng tôi…Rồi những tiếng rên la.

-Em bị thương rồi

Tôi lồm cồm ngồi dậy, bên phải tôi 1 sợi giây cước giăng ngang trên 2 thân cây; đầu giây thắt chặt vào chốt lựu đạn bên trái. 1 quả lưụ đạn khác cũng được gài giây như thế.

-Chúng ta đã lạc vào 1 bãi mìn. Tôi la lớn.

-Quay trở lại dốc đá.

-Mọi người theo lại chốn cũ, coi chừng mìn và lựu đạn gài quanh đây rất nhiều.

Chân bên trái tôi, sau bắp vế tôi cảm thấy cái gì tê buốt. Tôi lấy tay rờ xem, máu rỉ ra ngoài quần. Tôi cũng bị trúng mìn. Tội vội cởi quần dài nhìn vào vết thương đang chảy máu. Tôi xé tay áo của chiếc sơ mi đang mặc, quấn chặt chỗ vết thương để máu không chảy ra thêm. Lúc này Trung, Liêm, Thơ, Vũ đã bò trở lại dốc đá rồi còn Hưng vẫn nằm bất động trên xác lá khô.

Tôi lết lại bên Hưng, nhìn cậu ta, bọt mép tràn ra khóe miệng, đôi mắt đổi tròng. Tôi đặt bàn tay lên ngực Hưng. 2,3 vết lũng ngay tim Hưng. Những mảnh đạn nhỏ đi sâu vào đó và dưới thận, thân thể Hưng lạnh dần. Tôi biết, hoàn cảnh này tôi không thể giúp được gì Hưng nữa. Người thanh niên xấu số đi cùng chuyến với tôi bỏ xác lại đây. Tôi chắp tay khấn vái rồi vuốt mắt Hưng và nói cho mọi người hay:

-Hưng chết rồi!

Khuôn mặt Hưng, da chuyển sang màu xanh, nhịp tim ngừng đập hẳn. Tôi vuốt mắt mấy lần, đôi mắt Hưng mới khép lại. Tôi lấy tấm nilông trùm lên xác Hưng, rồi nhặt mấy hòn đá đè lên. Tôi bước khập khễnh trở lại dốc đá, cả bọn đang ngồi chờ trên đó. Thật kinh khủng. Mọi người bị thương. Trong hoàn cảnh này, thuốc men không có, làm sao băng bó vết thương? Rồi tiếng than khóc bắt đầu.

-Bây giờ chỉ còn mình anh đi được. Anh đi đi. Nếu anh gặp được ai đó làm ơn nói họ trở lại cưú tụi em.

Trung nói với tôi như thế. Nhìn 4 đứa dựa lưng vào vách đá máu me khắp người. Tôi không biết tôi phải làm gì. Vết thương chân của tôi bắt đầu sưng lên.

-Mấy đứa ở lại đây. Anh ráng đi. Nếu gặp được ai, anh sẽ bảo họ trở lại cứu tụi em.

-Anh đi đi…

-Anh đi đi…

Trong đám, tôi là người lớn tuổi nhất, từng là cựu sĩ quan Không lực của VNCH, từng bị lao tù Cộng sản hơn 5 năm… Giờ phút này tôi là người bị nhẹ nhất và tôi cũng là niềm hy vọng cuối cùng của mọi người. Bởi vì nếu may mắn tôi được cứu sống thì 4 anh em còn lại, mạng sống của họ sẽ được người biết tới…Tôi tin, lòng nhân đạo của con người, họ sẽ trở lại để cứu anh em…

Nhìn đám bạn trẻ lần nữa, tôi xuống dốc đá từng bước khập khểnh và đi vào đám rừng trước mặt. Bây giờ là lúc tôi không dám đi trên chỗ trống nữa. Tôi chui vào chỗ cây lá gai góc dùng 2 tay vạch lá rừng mà đi. Theo kinh nghiệm bản thân, chỉ còn cách đi như thế mới tránh được mìn bẫy.

Rồi bỗng tôi nghe tiếng xe chạy trên đường vọng lại, cách đó không xa.

Tôi mừng thầm trong bụng, có sự sống quanh đây. Dù đau, chân tôi bắt thịt sưng to thêm nhưng bước đi của tôi sao cảm thấy nhanh hơn.

Bây giờ khoảng 5 giờ chiều. Từ chỗ lạc vào bãi mìn tôi đã lết bộ mấy tiếng. Hai bàn chân sưng to lên, không kể vết thương trên bắp vế. Tôi ráng lội qua con lạch nhỏ giữa rừng. Qua được bờ bên kia tôi nằm lăn ra giữa cỏ để thở. Bỗng tôi nghe iếng chặt cây, cách chỗ tôi không xa, khoảng vài chục mét. Tôi len lỏi chầm chậm đi tới.

Trước mắt tôi, từ chỗ tôi ẩn khuất sau lùm cây, là 2 thanh niên, dáng người lực lưỡng, tóc dài ngang vai. 1 người đang cầm cây dao chặt vào thân cây rừng. 1 người đứng bên cạnh đó với 2 khẩu súng. Cây R 40 trên vai còn trên tay là khẩu AK-47.

Lúc này tôi không còn lo sợ nữa. Tôi bước ra khỏi lùm cây, 2 tay giơ lên khỏi đầu:

-Can you help me.

-I am Vietnamese refugee.

Tôi nói lớn bằng tiếng Anh như thế rồi đứng dừng lại. Ngạc nhiên, 2 người lạ chỉa súng vào tôi và bước tới. Tôi bất động, 2 tay vẫn giơ cao trên đầu…Họ lục soát khắp người tôi. Chiếc nhẫn vàng lá 1 chỉ, cái đồng hồ đeo tay cũ kỷ, tờ bạc 50 đô la và giấy tờ cá nhân thời Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Họ lấy hết. Rồi họ dìu tôi quảng đường ngắn khoảng vài trăm mét về doanh trại của ho.

 

Đây là 1 trại lính nằm sâu trong đất Thái trên cánh rừng. Người đầu tiên tôi gặp là Chỉ huy trưởng của căn cứ này. Tôi không biết ông ta cấp bậc gì, chỉ đoán ông là 1 vị tướng. Bởi vì sau ông lúc nào cũng có 2 người cận vệ, lực lưỡng mạnh khỏe.

Ông hỏi tôi bằng tiếng Anh:

-Người quốc tịch nào?

-Đến từ đâu?

-Vì sao đến đây?

Tôi giới thiệu tôi với ông về lai lịch tôi, quá khứ và lý do tôi đến nơi này như 1 người tị nạn chính trị. Ông cũng cho tôi biết năm 1970 ông được chính phủ Miên gởi ông đến Sàigòn để Không quân VN huấn luyện ông lái máy bay Chianook. Trước kia ông cũng là hoa tiêu của Không quân Hoàng gia Miên. Sau khi trò chuyện với tôi, ông nhan biết tôi như người bạn cần đến sự giúp đỡ của ông. Ông cho nhân viên dưới quyền mời người Bác sĩ của đơn vị tới để băng bó vết thương cho tôi…Tôi có khai với ông về những người anh em chung toán với tôi còn nằm lại trong rừng. Trải tấm bản đồ trên bàn, tôi chỉ cho ông biết vị trí của các anh em còn lại. Ông nhìn tôi, lắc đầu và cho biết, đó là bãi mìn, lính của ông giăng bay cho nên ông không thể gởi người vào cứu được.

Trời đã tối, nhìn ra ngoài sân, tôi lo lắng về số phận của anh em còn lại trong cánh rừng đầy mìn bẫy ấy rồi sẽ ra sao?

Ngủ tạm ở đây tới sáng hôm sau có xe hồng thập tự đến chở tôi vào Bệnh viện Thái Lan của tỉnh Surin (sau này tôi mới biết tôi đã được kháng chiến Miên cứu tôi. Đó là lực lượng Shêrêka, đơn vị này đóng quân trên đất Thái).

Ở bệnh viện đã 2 hôm, chân trái tôi được Bác sĩ khám xét, chụp quang tuyến X, băng bó vết thương cẫn thận. Bắp thịt đỡ sưng lên. Bác sĩ cho tôi biết hiện có 2 miểng mìn nhỏ hơn hột gạo nằm sâu trong bắp đùi nhưng không nguy hiểm, nên không cần thiết phải giải phẩu để lấy ra. Tôi yên tâm hơn.

Hàng ngày tôi vẫn ra ngồi 1 mình ngoài hành lang bệnh viện trông ngóng về 4 anh em còn lại đi cùng toán với tôi. Tôi thành khẩn cầu nguyện ơn trên xin cho 1 phép lạ nhiệm mầu ban phước cho họ. Hình ảnh 4 người bạn trẻ ngồi bên dốc đá, người đầy máu me, mặt mày hốc hác, vết thương khắp thân thể và không 1 ai có thể đứng dậy được! Rồi nhớ lại những lời dặn dò hối thúc tôi đi…Tất cả hiện về ám ảnh trong tôi.

6 người cùng đi, Hưng đã chết trong rừng, 4 kẻ ở lại không biết giờ sống chết ra sao? Còn tôi may mắn đến được nơi này. Nỗi cô đơng quạnh quẽ bao phủ quanh tôi.

Tôi ở trong bệnh viện này hôm nay là ngày thứ 3. Thấy tôi đứng ngoài hành lang 1 mình nên có 1 cụ già đến trò chuyện với tôi. Cụ nói bằng tiếng Thái. Tôi lắc đầu ra dấu để cụ biết tôi không hiểu cụ nói cái gì:

-I am Vietnamese

Tôi trả lời như thế-Việt Nam- Việt Nam, rồi chỉ ngón tay vào ngực mình. Cụ mỉm cười nói gì gì đó bằng tiếng Thái rồi bỏ đi. Từ ngoài cổng bệnh viện chiếc xe cứu thương hú cò inh ỏi rồi chạy vào phòng cấp cứu. Đây là bệnh viện lớn của tỉnh Surin này cách Bangkok khoảng hơn 200 cây số, tương đối tiện nghi về cả 2 mặt nội và ngoại thương. Nhìn những dãy nhà gạch chung quanh, tôi thấy nơi này có thể chứa hơn 1,000 giường bệnh.

Tôi đang suy nghĩ bân quơ, cụ già lúc nãy bước nhanh lại tôi. Cụ chỉ tay về phiá phòng cấp cứu rồi nói gì với tôi bằng tiếng Thái mà tôi không hiểu. Rồi cụ chỉ tay vào người tôi.. Cụ chỉ tay về phiá xa, ra hiệu…Tôi đoán hay là chiếc xe cứu thương vừa tới chở mấy người VN như tôi. Nghĩ thế rồi tôi bước nhanh về phiá đó. Đến cửa phòng được vài phút, tôi gặp cô y tá từ trong bước ra, cô ra dấu 4 ngón tay của cô rồi nói với tôi bằng tiếng Anh, không thông thạo cho lắm . Tôi mừng quá, đúng là những người anh em đi cùng tôi đã đến được nơi này. Tôi nói với cô y tá:

-Tôi có thể vào trong gặp họ đươc không?

Cô ta lắc đầu. Bởi vì Bác sĩ  đang bận rộn với việc khám nghiệm và giải phẫu. Tôi rộn ràng trong lòng nhưng phải cố kiên nhẫn ngồi xuống chiếc ghế bên ngoài, chờ đợi. Thời gian lúc này từng phút trôi quá thật lâu…

Rồi 1 vị Bác sĩ và cô y tá mở cửa phòng cấp cứu đi ra gặp tôi. Cô y tá thông dịch viên nên chúng tôi có thể nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Bác sĩ cho tôi biết tình trạng vết thương 4 người bạn. Qua chụp quang tuyến X, vết thương của 2 người trong bọn quá nặng, bị nhiễm độc nên có thể bị cưa chân. Nghe cô y tá nói lại bằng tiếng Anh “cưa chân”, người tôi run lên:

-Xin cô vui lòng thưa với Bác sĩ xem có cách nào để cứu giúp cho các bạn tôi khỏi bị cưa chân không? Tôi giải thích với 2 người rằng:

-Chúng tôi những người VN đi tìm tự do. Nếu những người bạn tôi bị cưa chân như thế thì cái nghĩa của Tự do còn gì nữa.

Rồi bỗng dưng tôi bật khóc, tôi qùy xuống đất trước mặt vị Bác sĩ rồi lạy ông ta. Cô y tá ngạc nhiên, rồi cô cầm tay tôi đỡ tôi dậy:

-Anh yên tâm, Bác sĩ sẽ làm tất cả những gì ông ấy có thể làm được để giúp họ.

 

Đêm hôm đó, tôi trở thành người thăm bệnh. Trong phòng ICU tôi ngồi bên cạnh từng người để an ủi họ. . Bốn người bạn trẻ của tôi đã vượt ngoài sức chịu đựng của con người. Trong suốt lộ trình 3 ngày 3 đêm, họ đã phải kiên gan di chuyển bằng 2 bàn tay với cái mông. Thật là khủng khiếp. Cho đến khi họ gặp được lính Miên Shêrêka (lính trong đơn vị đã cứu giúp tôi, qua lời khai họ biết bọn 4 người này đã đi chung toán với tôi nên họ chuyển 4 anh em vào cùng bệnh viện Thái ở Surin).

Hôm sau vào khoảng 9 gờ sáng, chiếc xe van của Hội Hồng Thập Tự  Cao Ủy Tị Nạn từ Bangkok xuống đón tất cả 5 chúng tôi . Chúng tôi được chuyển về bệnh viện khác tại Bangkok. Qua khám nghiệm các các vị Bác sĩ Thụy Sĩ, Thụy Điển , Pháp trong Hội Hồng Thập Tự Cao Ủy Tị Nạn, vì lòng nhân đạo, các vị đồng ý không muốn cưa chân 2 người nặng nhất. Trong khoảng 12 giờ CUTN họ đã can thiệp với toà Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan, cho 2 bệnh nhân nặng nhất ấy lên máy bay bay qua đảo GUAM, điều trị tại bệnh viện dã chiến Hoa Kỳ.

3 người còn lại, chúng tôi được đưa về trại tỵ nạn đường bộ NW9, tại biên giới Thái Lan.

 

Trần Hữu Du

Cựu Học Sinh Kỹ Thuật Đà Nẵng

Oaklahoma, tháng 7 -2007

 

Trở về Trang Chính