|
Vào dịp lễ Memorial
day, năm 2007 tôi mới có dịp gặp lại thầy cô cũ sau 35 năm xa
cách. Thường nhóm bạn bè chúng tôi cứ vài năm một lần lại tụ họp
nhau tại một địa điểm nào đó. Đặc biệt năm nay tại nhà Đỗ Tiến
Như ở TB Georgia.
Lần này tôi từ Oklahoma,
Thọ từ Houston, Hiệp từ Wichita-Kansas, Hùng từ San Antonio,
Diệm và Sâm từ Seattle. Thầy Hùng và cô Mộng Hoàn từ San Jose.
Thật là lần hội ngộ vui. Ba ngày cuối tuần ngắn ngủi, rộn rã
tiếng cười nói. Thầy cô và chúng tôi chuyện trò hàn huyên bên
nhau. Thôi thì đủ thứ chuyện cũ mới để tâm tình.
Thú thật với các bạn, từng
tuổi này, sau mấy chục năm gặp lại thầy cô cũ, tôi mới có dịp
nghe lại mấy tiếng thật thân quen “Thưa thầy- thưa cô”. Có phải
khi người ta tóc đã điểm sương, lưa thưa sợi bạc- tuổi mà các
ông bà cụ vẫn bảo: gần đất xa trời, nếp nhăn xếp lớp trên khóe
mắt. Vậy mà đứng trước thầy cô- thưa thầy, thưa cô. Bỗng dưng
thấy mình trở nên nhỏ bé như ngày nào!
Đây có phải là cái tình
cảm tự nhiên, cho đến bây giơ trong thâm tâm mình vẫn thấy quí
trọng thầy cô như thuở nào. Rồi đến hôm đưa tiễn thầy cô bạn bè
ra phi trường lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chúng tôi nhìn
nhau, bắt tay, dặn dò nhắn gửi nhưng sao vẫn không cầm được nỗi
xao xuyến trong lòng.
Cảm ơn Như- cảm ơn chị
Oanh (vợ Như) người đã đứng một mình trong bếp từ 9 giờ sáng đến
8 giờ tối phục vụ chúng tôi- Đến khi chị đã quá mêt, nằm lăn ra
thảm giữa phòng khách, tôi thấy được tấm lòng hiếu khách của
chị. Hôm ấy, tôi nhớ là ngày sinh nhật của chị- Chúng tôi, thầy
cô cùng vỗ tay ca bài Happy Birthday- chung vui với chị cắt
bánh- ổ bánh đầy ắp strawberry đỏ tươi và hoa hồng rực rở- tôi
không quên đôi mắt chị Oanh tròn to, nụ cười vui sướng nở trên
môi. Tôi thấy chị trẻ lại và đẹp hơn bao giờ!
-Niềm vui trước giờ tuyệt vọng!
Nghe thế, cô Mộng Hoàn
cười:
-Dữ hí! Ít nói đó, nhưng
nói ra là sâu sắc chớ không phải thường mô nghe!
Và những tiếng cười dường
như không tắt.
Buổi chiều sau cùng, vợ
chồng Như đưa thầy cô và chúng tôi xuống phố, thả dạo công viên,
hóng gió bờ sông Sanvannah. Holiday weekend nên rất đông du
khách thập phương đổ về. Trời chiều kéo nhau ra biển. Trên bãi
cát ngày nắng người ta chen chúc bên nhau.
-người đâu ra mà đông thế!
Cũng bữa tối đó,
thầy cô có hỏi thăm tôi: " Em
qua Mỹ năm nào? "
Cả bọn-
Chúng tôi đến quê hương này bằng những ngã đường khác nhau. Như
qua 1975 ngay ngày mất nước. Thọ theo ông cụ cùng gia đình theo
chương trình H.O. của Mỹ. Sâm cũng thế. Còn Hiệp, Hùng, Diệm,
hình như chương trình đoàn tụ ODP. Thầy Hùng vượt biển, còn tôi
vượt bộ xuyên Cambodia qua ngã Thái Lan. Chắc các bạn có nhiều
dịp được đọc sách báo, tài liệu thật hay nghe lại những nhân
chứng sống về con đường đi tìm tự do của người Việt Nam chúng
ta. Đó là con đường đau thương và đầy nước mắt, tang tóc và chia
lià. Hàng trăm ngàn người Việt dù vì lý do nào đó đã ra đi cho
dù phải đánh đổi mạng sống của bản thân mình…
Một
ngày tháng 9 năm 1980, sau 5 năm 3 tháng học tập cải tạo; tôi
được trở về sum họp cùng bố mẹ và các em tôi- trong 3 tháng, bên
cạnh những người thân yêu của tôi, tôi vẫn như chưa lấy lại được
cân bằng của người dân bình thường. Ngày nào tôi cũng phải ra
trình diện công an địa phuơng hoặc công an quận. Là thành viên
của chế độ cũ, tôi nhận thức rằng; tôi là 1 kẻ bên lề của xã
hội. Làm thế nào để tôi tạo dựng cuộc sống bình thường như những
người dân thành phố khác? Trong khi toi có quá khứ không sạch sẽ
với chế độ này. 1 chế độ phải trong sạch lý lịch 3 đời mới được
xét xử con đường thăng trầm của bản thân
-Tôi
phải đi!
Nói
“tôi phải đi” thì dễ nhưng đi như thế nào là vấn đề quá khó với
tôi lúc bấy giờ. Thành phố Saìgòn vẫn những giòng người ngược
xuôi, chuyện vượt biên không còn là huyền thoại đối với người
dân thành phố. Bởi vì ở đâu, chỗ nào, góc phố, quán cà phê cóc
bên đường, đề tài vượt biên người ta tham khảo, bàn bạc to nhỏ
với nhau dưới nhiều hình thức khác nhau. Và chuyện vượt biên-
ngày nào cũng có người đi…kẻ trở lại…rồi vượt thật, vượt giả-
vượt biên như vở kịch người ta lường gạt lẫn nhau- cơn sốt nóng
của người dân thành phố.
Khi tôi
cho mẹ tôi biết quyết định “Tôi phải đi” của mình. Mẹ tôi hoang
mang lo lắng. Cái lo của bà, nếu tôi đi lần này mà vượt thoát
được đó là điều may mắn. Còn nếu bị bắt liệu tôi có chịu nổi
cuộc sống tù tội mà tôi đã nhọc nhằn vất vả chịu đựng hơn 5 năm
qua. Tôi giải thích cặn kẽ với mẹ tôi, “Mẹ yên tâm, lần đi này
sống hoặc chết. Thà chết chứ con không để họ bắt, tù đày con
nữa!”
Lúc ấy
mẹ tôi mua bán hàng ngày ở chợ Bến Thành Sàigòn. Tình cờ có
người móc nối với mẹ tôi về đường giây vượt biên đường bộ qua
ngã Thái Lan. Họ giới thiệu để tôi tiếp xúc với người tổ chức.
Sau khi trò chuyện, tôi đồng ý và liều lĩnh chấp nhận trả tiền
cho chuyến đi này bằng 2 cây vàng.
Buổi
chiều trước ngày đi, tôi theo mẹ tôi đến lăng Ông-Bà Chiểu khấn
nguyện. Nhìn mẹ ra sân đền mua mấy lồng chim thấy thương mẹ làm
sao…Mẹ bảo:
-Me mua
chim để phóng sanh.
Nghe
tiếng reo mừng của cà hàng trăm con chim vừa được bay ra khỏi
lồng, tung cánh trước sân, lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng thanh
thản.
Một
ngày cuối tháng 12 năm 1980
Chúng
tôi tất cả 6 người. Ngoài tôi ra, Trung, Liêm, Thơ, Hưng, Vũ là
5 người thanh niên trẻ, tuổi từ 17 đến 21, toàn là dân Sàigòn.
Mọi người đều được hướng dẫn chi tiết những việc cần thiết phải
làm để sửa soạn cho chuyến đi. Điều cần nhất là đồ hoá trang làm
bộ đội. Vậy là ai nấy lao ra chợ trời mua sắm. Quần áo lính, nón
cối, dép râu, ba lô…Tôi ra tù được mấy tháng, người còn ốm nhom,
da đen thui. Các bạn cũng biết sau hơn 5 năm trong nhà tù , ăn
uống thiếu thốn, lao động quá độ, không diễn tả chắc các bạn
cũng hình dung được dung nhan của tôi, tên tù của nhà lao Cộng
sản như thế nào… Ấy thế mà khi sửa soạn trước chuyến đi. Tôi mặc
vào quần áo bộ đội, chân đi dép râu, đầu đội nón cối, lưng mang
ba lô. Bố mẹ nhìn tôi cũng phải tức cười. Tôi chẳng khác gì anh
bộ đội sắp sửa lên đường vào Nam chống Mỹ! 5 chàng thanh niên
cùng đi trong chuyến cũng được sửa soạn tươm tất như tôi.
Vào giờ
N-6 người bộ đội chúng tôi gặp nhau- chúng tôi bộ đội giả 100%.
Không có số lính, không có một mảnh giấy tờ gì trong người chứng
tỏ là quân đội nhân dân. Quán cà phê bến xe lam Lăng Cha Cả là
điểm chúng tôi gặp nhau. Khi đến nơi, 2 người tổ chức (bộ đội
thật) đã chờ sẵn ở đó. Tất cả 8 người chúng tôi lên xe lam.
Chiếc xe đủ khách, tài xế nổ máy, rời Sàigòn chạy về hướng Thủ
Đức.
Đây
trại lính bộ đội. Nơi được gọi Tiền Trạm. Tiền trạm là nơi bộ
đội nghỉ chân. Lính đến đây chờ đợi bổ nhiệm về đơn vị mới. Lúc
bấy giờ, chiến tranh bên Cambodia bộc phát mạnh. Hàng ngày có
những toán quân chờ qua biên giới để tăng viện thêm cho quân
đoàn Cộng sản thiếu hụt. Chúng tôi 6 người linh giả được đưa đến
trại lính này vào lúc trời nhá nhem tối. Theo sự chỉ thị của
người tổ chức, chúng tôi không được nói chuyện với nhau, chỉ khi
nào thấy cần thiết. Bởi nếu bất cứ động tĩnh nào kể từ lúc này
cũng có thể bị sơ hở và nguy hiểm đến không chỉ chúng tôi và
ngay cả người tổ chức. Trong doanh trại, đông đúc bộ đội, già có
trẻ có, đủ mọi tầng lớp, cấp bậc khác nhau. Tôi đốt điếu thuốc,
chuyền tay nhau không nói, theo nhau vào góc căn láng bỏ không
tìm chỗ nghỉ lưng tạm để sáng sớm mai lên đường.
Mặt
trời lên cao. Ngoài sân trại, đoàn xe Motorola nối đuôi nhau chờ
sẵn. Chúng tôi thức dậy, lỉnh kỉnh các thứ bỏ vào ba lô quẫy vội
lên vai theo những người lính ra sân sắp hàng. Bây giờ là lúc
mọi người lắng nghe tên gọi của mình để lên xe. Rồi đến toán
chúng tôi, những tên ABCD cũng được gọi ( ABCD tên giả đã được
tổ chức viết vào danh sách). Chúng tôi chia làm 2 toán, mỗi toán
3 người. Toán nào cũng được 1 người bộ đội dẫn đường đi theo bên
cạnh chúng tôi. Khi mọi người lên xe xong, đoàn xe bắt đầu khở
hành theo hướng Tây Ninh qua biên giới.
Trạm
dừng chân đầu tiên của chúng tôi là 1 trại lính tại thành phố
Kongpomthom. Sau ngày dài mệt mỏi phải ngồi chen chúc với nhau
trên xe qua hàng trăm cây số. Đường sá xứ Chuà Tháp cũ kỹ gập
ghềnh ổ gà nên ai cũng mệt mỏi. Tối hôm ấy, chúng tôi cũng xếp
hàng cầm ca nhôm đi lãnh cơm với thức ăn. Sau bữa cơm đạm bạc
của người bộ đội, chúng tôi tìm chỗ nghỉ rồi nằm bên nhau ngủ
thiếp đi mà không hay biết.
Ngày
thứ 2: Đoàn xe hướng về thủ đô Nam
Vang. Chúng tôi ngồi dựa vào nhau trong lòng chiếc xe chở đầy ắp
người. Bộ đội Nam, bộ đội Nữ, già có trẻ có. Tôi nhũ thầm trong
lòng: Thôi đã phóng lao thì phải theo lao- giờ là lúc ngồi trên
lưng cọp. Tiến thối lưỡng nan, không có sự lựa chọn nào khác. Mồ
hôi nhễ nhại trộn lẫn bụi đường trên mặt người cùng đi chung.
Tôi thấy gần 2 ngày đường đã làm cho những cậu học sinh thành
phố thấm mệt. Cả bọn, những khuôn mặt bộ đội giả, non choẹt, nếu
không khoác áo lính trên người khó có ai đoán được đó là những
chàng thư sinh mới cách đây 2 hôm còn lang thang các quán cà phê
thành phố. Họ đâu biết chiến tranh là gì, mùi súng đạn ở bên kia
biên giới ra sao. Vậy mà giờ này, qua 2 ngày đường ngồi lẫn lộn
trên xe giữa những người lính thiệt, dân Nam dân Bắc, tình cờ
được nghe họ trao đổi nhau chuyện buồn vui đời lính. Tiếng cười
nói, tiếng chưởi thề, văng tụ…Đ.mẹ… Đ.bố…đã đi vào cuộc đời non
trẻ của đám thanh niên thành phố.
Chiều
xuống, đoàn xe đã tới Nam Vang, mọi người nhảy vội xuống khỏi
xe. Đoàn lính trông như đàn kiến vỡ tổ. Đây là ngôi chùa Miên bỏ
hoang, bộ đội dùng làm nơi trú quân. Chúng tôi đi tìm nơi nghỉ
ngơi, rồi cũng đi lãnh phần cơm tối. Đêm trong lòng thủ đô,
thành phố yên tĩnh, những ngọn đèn đường lờ mờ, quanh trại lính
này chẳng có dấu hiệu sinh hoạt sầm uất nào của người dân Miên.
Ngày
thứ 3: Sáng sớm những tiếng gọi
nhau ơi ới. Đoàn xe bây giờ đã chia ra làm 2 ngã. 1 về
Battambang. 1 đi Xiêm rệp. Người bộ đội dẫn đường cho chúng tôi
hay: lên xe đi Xiêm rệp. Tôi quay lại nói với nhóm mình lời đó
rồi trèo lên xe. Trời lại mưa, tôi trùm mình trong tấm nilông.
Đoàn xe nối đuôi nhau rời trạm. Tôi dựa lưng vào thành xe. Những
hạt mưa lạnh đập và mặt, khẽ len qua cổ áo. Tôi chợt rùng mình.
Bây giờ là ngày thứ 3 rồi, tôi thầm thỉ cầu nguyện bình an cho
chúng tôi được gặp. Tôi quanh quẩn với những nhớ nhung gia đình
bên nhà. Bố mẹ, các em tôi làm sao hình dung nổi chuyến đi của
tôi. Tôi ngả mình khi xe nghiêng về 1 phiá qua ngã quẹo. Hàng
chữ tiếng Miên và chữ Xiêm rệp trên tấm bảng lớn bên đường, cho
chúng tôi biết xe đã hướng về phiá Bắc tỉnh Xiêm rệp. Chắc phải
còn hơn nửa ngày đường mới đến điểm M (điểm M nơi đóng quân của
người bộ đội tổ chức vượt biên). Đúng như dự đoán, trời vừa tối
chiếc xe đã đến nơi. Để tránh bị phát giác, 2 người bộ đội dẫn
đường đưa chúng tôi theo họ đi nhanh về phiá cuối làng. Đêm tối
như mực, đâu đó thỉnh thoảng le lói 1 ánh đèn sáng nho nhỏ của
người dân Miên điạ phương. Chúng tôi phải đi gần nhau để nhận ra
nhau kẻo lạc. Khoảng nửa giờ chúng tôi đến nơi ém quân (chỗ dấu
chúng tôi) an toàn. Đây là 1 căn nhà tranh vách lá, chủ nhà là 1
bà già người Miên, không có con cháu gì cả. Chúng tôi được dặn
dò trước khi 2 người dẫn đường để chúng tôi ở lại đây:
-Các
anh nghỉ ngơi, chúng tôi thu xếp giờ giấc, cho các anh hay để
các anh lên đường.
Sau khi
họ rời nhà, tôi lấy gạo mang theo ra nấu cơm. Đêm khuya, gió mưa
lạnh lẻo. Chúng tôi ăn xong ngồi bên bếp lửa hong tay. Bây giờ
tôi mới cảm thấy thoải mái đùa giỡn. Trong căn lều nhỏ, giữa màn
đêm u tĩnh của núi rừng biên giới, 6 mái đầu chúng tôi chụm lại
quanh bếp lửa hồng. Những cánh củi khô nổ lách tách cháy. Mùi
thuốc lá trộn lẫn. Không biết giờ này bà cụ trên nhà đã ngủ
chưa? có lo sợ vì sự hiện diện đám người lạ mặt này? Chúng tôi
không ai nói được tiếng Miên nên không thể trò chuyện với bà cụ.
Chúng tôi chỉ biết ra dấu, và thật khó khăn bà mới hiểu.
Ngày
thứ 4: 4 giờ sáng, chúng tôi thức
dậy, nấu cơm ăn với tương xì dầu, vắt 1 số cơm nắm, lấy lá chuối
gói lại bỏ vào ba lô mang theo cho cuộc hành trình. Lúc này quần
áo bộ đội, quân trang đều vứt bỏ lại hết. Chúng tôi phải thay
quần áo dân sự. Trên bản đồ thì khoảng 8 cây số đường rừng chúng
tôi sẽ tới biên giới Thái-Miên. Đây là tử lộ, đoạn đường nguy
hiểm nhất. Bất cứ 1 sự di chuyển nào của ai, từ đâu…Thái, Miên,
Pôn pốt, Sherika (Pônpốt, Sherika là 2 lực lượng kháng chiến của
chính phủ Cambodia lưu vong) đều không được an toàn tính mạng.
Ngay cả những dân Miên mua bán lậu trên dãy biên giới cũng không
dám bén mảng đến vùng đất này. Đây là phiá Bắc của tỉnh Xiêm
rệp, vùng đất giao tranh, không thuộc về sự quãn lý, kiểm soát
của ai. Ngay cả bộ đội Việt Nam, họ cũng chỉ hanh quân có cả
tăng pháo yểm trợ nhưng chỉ tiến quân một mức nào đó rồi lại trở
về đất Miên.
-Các
anh sẵn sàng chưa?
Hai
người bộ đội vừa tới với súng đạn đầy đủ trên người.
-Xong
rồi, chúng ta có thể khởi hành được. Tôi đáp lại như thế rồi vội
móc túi lấy thuốc lá ra mời 2 anh.
Đoàn
chúng tôi cả thảy 9 người, 6 anh em chúng tôi, 1 ông già Miên
dẫn đường và 2 anh bộ đội. Nhiệm vụ của 2 anh là đưa chúng tôi
ra khỏi điểm chốt cuối cùng của bộ đội kiểm soát ở đây.
Trời tờ
mờ sáng. Tôi ngoái cổ nhìn lại căn nhà ẩn sau rừng tre lần nữa
rồi theo vội bước chân theo mọi người lên đường. Ông cụ Miên
mang theo cái rưạ chặt củi trên tay. Chúng tôi không có vũ khí
gì ngoài những nắm cơm vắt vội đêm qua và ít thuốc men mang từ
Sàigòn. Đoàn người len lỏi qua cánh rừng thưa thành hàng dọc. 2
anh bộ đội đi đầu, đến ông già Miên đến tôi và anh em còn lại.
Mặt trời lên lưng chừng giữa trời, chúng tôi đi được vài cây số.
Nhìn dãy núi bên kia bãi sậy, 2 người bộ đội ra dấu cho chúng
tôi ngồi xuống.
-Điểm
này anh em tôi không đi với các anh được nữa. Cụ người Miên này
tiếp tục dẫn các anh em đến biên giới Thái.
-Chúc
các anh đi bình an. Nhớ là khi tới biên giới Thái Lan thì viết
mật mã vào giấy đưa ông cụ cầm về nhà cho chúng tôi.
Khi họ
nói xong, chúng tôi lục lấy hết trong túi quần áo của mình tiền
bạc cụ Hồ chúng tôi tiêu xài còn lại giao hết cho 2 anh bộ đội,
bắt tay họ. Thế là chia tay.
Chờ cho
đến lúc hai người bộ đội quay trở lại quãng xa, tôi ra hiệu cho
cụ già Miên lên đường.
Trước
khi đi vào cánh rừng, chúng tôi phải băng qua bãi lau sậy trước
mắt. Cũng nhờ cái rựa đi rừng của cụ già Miên đi trước làm ngã
cây chúng tôi theo sau. Toán người yên lặng, lầm lủi vào rừng.
Nhìn mặt trời, tôi đoán chúng tôi đang đi về hướng Bắc. Theo cụ
Miên dẫn đường, dưới cánh rừng dày trùng điệp, chúng tôi đã đi
được nửa ngày đường. Cả bọn bắt đầu thấm mệt. Hầu hết mọi người
mỏi chân vì không ai từng đi bộ nhiều như thế. Tôi tương đối
hơn. Trong đoàn có vài kẻ chân bắt đầu sưng lên. Tốc độ di
chuyển càng lúc càng chậm lại. Thỉnh thoảng lại phải dừng để
nghỉ chân.
Trời về
chiều, chúng tôi gặp 1 khe suối giữa rừng, chọn đây làm chỗ nghỉ
ngơi đêm nay. Rừng vẫn âm u, không có tiếng động tĩnh nào ngoài
tiếng xào xạc của lá, tiếng chim kêu. Đâu đó thú rừng đuổi nhau
làm tiếng lá kêu ầm ĩ. Tôi ra dấu cho ông cụ Miên dừng lại ở
đây. Mọi người tự tìm nơi để ngã lưng. Đêm tối bắt đầu xuống,
chúng tôi chia nhau những nắm cơm vắt rồi thiếp vào cánh rừng
biên giới.
Mặt
trời lên. Tiếng chim sớm mai ríu rít gọi nhau, hòa lẫn tiếng
suối róc rách. Chúng tôi thức dậy, tiếp tục lên đường. Cụ Miên
đi trước anh em tôi đi theo sau. Khoảng hơn 1 tiếng, lúc đang đi
bỗng nhiên ông cụ đứng lại. Tay ông đưa lên như ra dấu dừng..
Giật mình. Trước mắt tôi, bên cạnh lối đi là 1 xác người. Thịt
đã rữa chỉ có ít tóc trộn lẫn với đất cách đó không xa vài mảnh
quần áo mục nát bọc trên nhánh xương đổi màu. Chúng tôi nhìn
nhau, có chút gì sợ hãi. Không biết xác người này là ai? Ở đâu?
Đến đây từ lúc nào? Bởi vì bên bộ xương đã mục, không có dấu
tích gì chung quanh. Trung nói:
-Chắc
người này đã chết đây lâu lắm.
-Hay
cũng là dân vượt biên.
Liêm
tiếp lời như thế. Bỗng dưng xuất hiện 1 con bướm trắng lớn hơn
nửa bàn tay, bay quanh chúng tôi. Tôi vốn dễ hay tin dị đoan nên
nói với Liêm:
-Dám
con bướm này là linh hồn của người chết, sao nó cứ lãng vãng
vậy?
-Đúng
đấy.
Thư nói
chen vào rồi khẽ bước chân tới gần bộ xương. Tôi nhìn quanh,
nghi ngờ…Bởi vì hơn nửa ngày đường qua cánh rừng này, ngoài
tiếng lá khô lạo xạo dẫm bước dưới chân, tiếng kêu của thú,
ngoài ra đâu có sinh hoạt nào khác của con người. Thế mà, chỗ
này giữa rừng có xác chết. Có phải đó là dấu hiệu báo cho chúng
tôi hay có gì lạ ở đây? Nghĩ thế tóc sau gáy tôi dựng lên.
-Cẩn
thận!
Tôi nói
với mọi người. Tôi bắt đầu lo, dấu hiệu của chết chóc. Và sự
chết có thể xãy ra với chúng tôi bất cứ lúc nào. Từ bây giờ. Tôi
có được nghe về đám tàn quân Pônpốt, về lực lượng kháng chiến
của người Khờme lui tới quanh đây, về những toán cướp biên giới
xuất hiện vùng này. Người dân Việt Nam vô tội qua đây trên đường
vượt biên thoát. Bao nhiêu mạng sống đã ở lại. Bỏ cuộc trên đoạn
đường này. Phải chăng đó là cái giá quá đắt người Việt phải trả
cho sự tự do. Bây giờ là lúc sự can đảm bao trùm lên nỗi sợ hãi.
Không nói gì nhiều với nhau nhưng với niềm tin trong lòng. Với
giá nào cũng phải vượt đoạn đường này…Đến khi chúng tôi gặp bia
đá cột mốc giữa rừng. 1 bên chữ Cambodia, 1 bên chữ Thái lan.
-Tới
biên giới rồi!
Tôi nói
với mọi người như thế. Niềm vui nhỏ chợt sáng lên trong lòng
chúng tôi . Ông cụ Miên chỉ tay vào tấm bia đá, ngụ ý cho tôi
biết mọi người đã đến đất Thái Lan. Tôi bàn bạc với anh em trong
nhóm, quyết định viết giấy mật mã để cụ Miên mang về lại
Xiêmrệp. Tội nghiệp cụ già, cụ đã đi với chúng tôi hơn nửa ngày
đường. Biết rằng tờ giấy chúng tôi viết sẽ thay mạng sống của
cụ. Bởi vì người tổ chức giao nhiệm vụ cho cụ dẫn chúng tôi tới
đây, phải an toàn. Chúng tôi thầm cảm ơn cụ.
Chia
tay cụ già Miên xong, tôi đi đầu, 5 anh em theo sau. Tôi chỉ thị
mọi người nên giữ khoảng cách xa nhau. Chúng tôi bắt đầu đổ dốc.
Đá núi từng tảng lớn nhỏ chen chúc nhau với cây rừng. Giây nhợ
chằng chịt gai, khó khăn lắm chúng tôi mới tuột dốc đá này.
Rừng
vẫn dày, lá khô dưới chân từng lớp ẩm ướt. Bỗng 1 tiếng nổ lớn.
“Boom…Boom!”
Người
tôi ngã nhào về phía trước. Tiếng nổ vang dội trong rừng ập vào
tai tôi rung lên làm tôi không nghe đươc gì thêm nữa. Tôi ngẫng
đầu nhìn chung quanh. Mọi người sau tôi ngã dạt hai bên. Tôi
không nhận biết chuyện gì vừa xảy ra. Bom, mìn hoặc ai đó ẩn nấp
quanh nay bắn vào chúng tôi…Rồi những tiếng rên la.
-Em bị
thương rồi
Tôi lồm
cồm ngồi dậy, bên phải tôi 1 sợi giây cước giăng ngang trên 2
thân cây; đầu giây thắt chặt vào chốt lựu đạn bên trái. 1 quả
lưụ đạn khác cũng được gài giây như thế.
-Chúng
ta đã lạc vào 1 bãi mìn. Tôi la lớn.
-Quay
trở lại dốc đá.
-Mọi
người theo lại chốn cũ, coi chừng mìn và lựu đạn gài quanh đây
rất nhiều.
Chân
bên trái tôi, sau bắp vế tôi cảm thấy cái gì tê buốt. Tôi lấy
tay rờ xem, máu rỉ ra ngoài quần. Tôi cũng bị trúng mìn. Tội vội
cởi quần dài nhìn vào vết thương đang chảy máu. Tôi xé tay áo
của chiếc sơ mi đang mặc, quấn chặt chỗ vết thương để máu không
chảy ra thêm. Lúc này Trung, Liêm, Thơ, Vũ đã bò trở lại dốc đá
rồi còn Hưng vẫn nằm bất động trên xác lá khô.
Tôi lết
lại bên Hưng, nhìn cậu ta, bọt mép tràn ra khóe miệng, đôi mắt
đổi tròng. Tôi đặt bàn tay lên ngực Hưng. 2,3 vết lũng ngay tim
Hưng. Những mảnh đạn nhỏ đi sâu vào đó và dưới thận, thân thể
Hưng lạnh dần. Tôi biết, hoàn cảnh này tôi không thể giúp được
gì Hưng nữa. Người thanh niên xấu số đi cùng chuyến với tôi bỏ
xác lại đây. Tôi chắp tay khấn vái rồi vuốt mắt Hưng và nói cho
mọi người hay:
-Hưng
chết rồi!
Khuôn
mặt Hưng, da chuyển sang màu xanh, nhịp tim ngừng đập hẳn. Tôi
vuốt mắt mấy lần, đôi mắt Hưng mới khép lại. Tôi lấy tấm nilông
trùm lên xác Hưng, rồi nhặt mấy hòn đá đè lên. Tôi bước khập
khễnh trở lại dốc đá, cả bọn đang ngồi chờ trên đó. Thật kinh
khủng. Mọi người bị thương. Trong hoàn cảnh này, thuốc men không
có, làm sao băng bó vết thương? Rồi tiếng than khóc bắt đầu.
-Bây
giờ chỉ còn mình anh đi được. Anh đi đi. Nếu anh gặp được ai đó
làm ơn nói họ trở lại cưú tụi em.
Trung
nói với tôi như thế. Nhìn 4 đứa dựa lưng vào vách đá máu me khắp
người. Tôi không biết tôi phải làm gì. Vết thương chân của tôi
bắt đầu sưng lên.
-Mấy
đứa ở lại đây. Anh ráng đi. Nếu gặp được ai, anh sẽ bảo họ trở
lại cứu tụi em.
-Anh đi
đi…
-Anh đi
đi…
Trong
đám, tôi là người lớn tuổi nhất, từng là cựu sĩ quan Không lực
của VNCH, từng bị lao tù Cộng sản hơn 5 năm… Giờ phút này tôi là
người bị nhẹ nhất và tôi cũng là niềm hy vọng cuối cùng của mọi
người. Bởi vì nếu may mắn tôi được cứu sống thì 4 anh em còn
lại, mạng sống của họ sẽ được người biết tới…Tôi tin, lòng nhân
đạo của con người, họ sẽ trở lại để cứu anh em…
Nhìn
đám bạn trẻ lần nữa, tôi xuống dốc đá từng bước khập khểnh và đi
vào đám rừng trước mặt. Bây giờ là lúc tôi không dám đi trên chỗ
trống nữa. Tôi chui vào chỗ cây lá gai góc dùng 2 tay vạch lá
rừng mà đi. Theo kinh nghiệm bản thân, chỉ còn cách đi như thế
mới tránh được mìn bẫy.
Rồi
bỗng tôi nghe tiếng xe chạy trên đường vọng lại, cách đó không
xa.
Tôi
mừng thầm trong bụng, có sự sống quanh đây. Dù đau, chân tôi bắt
thịt sưng to thêm nhưng bước đi của tôi sao cảm thấy nhanh hơn.
Bây giờ
khoảng 5 giờ chiều. Từ chỗ lạc vào bãi mìn tôi đã lết bộ mấy
tiếng. Hai bàn chân sưng to lên, không kể vết thương trên bắp
vế. Tôi ráng lội qua con lạch nhỏ giữa rừng. Qua được bờ bên kia
tôi nằm lăn ra giữa cỏ để thở. Bỗng tôi nghe iếng chặt cây, cách
chỗ tôi không xa, khoảng vài chục mét. Tôi len lỏi chầm chậm đi
tới.
Trước
mắt tôi, từ chỗ tôi ẩn khuất sau lùm cây, là 2 thanh niên, dáng
người lực lưỡng, tóc dài ngang vai. 1 người đang cầm cây dao
chặt vào thân cây rừng. 1 người đứng bên cạnh đó với 2 khẩu
súng. Cây R 40 trên vai còn trên tay là khẩu AK-47.
Lúc này
tôi không còn lo sợ nữa. Tôi bước ra khỏi lùm cây, 2 tay giơ lên
khỏi đầu:
-Can
you help me.
-I am
Vietnamese refugee.
Tôi nói
lớn bằng tiếng Anh như thế rồi đứng dừng lại. Ngạc nhiên, 2
người lạ chỉa súng vào tôi và bước tới. Tôi bất động, 2 tay vẫn
giơ cao trên đầu…Họ lục soát khắp người tôi. Chiếc nhẫn vàng lá
1 chỉ, cái đồng hồ đeo tay cũ kỷ, tờ bạc 50 đô la và giấy tờ cá
nhân thời Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Họ lấy hết. Rồi họ dìu tôi
quảng đường ngắn khoảng vài trăm mét về doanh trại của ho.
Đây là
1 trại lính nằm sâu trong đất Thái trên cánh rừng. Người đầu
tiên tôi gặp là Chỉ huy trưởng của căn cứ này. Tôi không biết
ông ta cấp bậc gì, chỉ đoán ông là 1 vị tướng. Bởi vì sau ông
lúc nào cũng có 2 người cận vệ, lực lưỡng mạnh khỏe.
Ông hỏi
tôi bằng tiếng Anh:
-Người
quốc tịch nào?
-Đến từ
đâu?
-Vì sao
đến đây?
Tôi
giới thiệu tôi với ông về lai lịch tôi, quá khứ và lý do tôi đến
nơi này như 1 người tị nạn chính trị. Ông cũng cho tôi biết năm
1970 ông được chính phủ Miên gởi ông đến Sàigòn để Không quân VN
huấn luyện ông lái máy bay Chianook. Trước kia ông cũng là hoa
tiêu của Không quân Hoàng gia Miên. Sau khi trò chuyện với tôi,
ông nhan biết tôi như người bạn cần đến sự giúp đỡ của ông. Ông
cho nhân viên dưới quyền mời người Bác sĩ của đơn vị tới để băng
bó vết thương cho tôi…Tôi có khai với ông về những người anh em
chung toán với tôi còn nằm lại trong rừng. Trải tấm bản đồ trên
bàn, tôi chỉ cho ông biết vị trí của các anh em còn lại. Ông
nhìn tôi, lắc đầu và cho biết, đó là bãi mìn, lính của ông giăng
bay cho nên ông không thể gởi người vào cứu được.
Trời đã
tối, nhìn ra ngoài sân, tôi lo lắng về số phận của anh em còn
lại trong cánh rừng đầy mìn bẫy ấy rồi sẽ ra sao?
Ngủ tạm
ở đây tới sáng hôm sau có xe hồng thập tự đến chở tôi vào Bệnh
viện Thái Lan của tỉnh Surin (sau này tôi mới biết tôi đã được
kháng chiến Miên cứu tôi. Đó là lực lượng Shêrêka, đơn vị này
đóng quân trên đất Thái).
Ở bệnh
viện đã 2 hôm, chân trái tôi được Bác sĩ khám xét, chụp quang
tuyến X, băng bó vết thương cẫn thận. Bắp thịt đỡ sưng lên. Bác
sĩ cho tôi biết hiện có 2 miểng mìn nhỏ hơn hột gạo nằm sâu
trong bắp đùi nhưng không nguy hiểm, nên không cần thiết phải
giải phẩu để lấy ra. Tôi yên tâm hơn.
Hàng
ngày tôi vẫn ra ngồi 1 mình ngoài hành lang bệnh viện trông
ngóng về 4 anh em còn lại đi cùng toán với tôi. Tôi thành khẩn
cầu nguyện ơn trên xin cho 1 phép lạ nhiệm mầu ban phước cho họ.
Hình ảnh 4 người bạn trẻ ngồi bên dốc đá, người đầy máu me, mặt
mày hốc hác, vết thương khắp thân thể và không 1 ai có thể đứng
dậy được! Rồi nhớ lại những lời dặn dò hối thúc tôi đi…Tất cả
hiện về ám ảnh trong tôi.
6 người
cùng đi, Hưng đã chết trong rừng, 4 kẻ ở lại không biết giờ sống
chết ra sao? Còn tôi may mắn đến được nơi này. Nỗi cô đơng quạnh
quẽ bao phủ quanh tôi.
Tôi ở
trong bệnh viện này hôm nay là ngày thứ 3. Thấy tôi đứng ngoài
hành lang 1 mình nên có 1 cụ già đến trò chuyện với tôi. Cụ nói
bằng tiếng Thái. Tôi lắc đầu ra dấu để cụ biết tôi không hiểu cụ
nói cái gì:
-I am
Vietnamese
Tôi trả
lời như thế-Việt Nam- Việt Nam, rồi chỉ ngón tay vào ngực mình.
Cụ mỉm cười nói gì gì đó bằng tiếng Thái rồi bỏ đi. Từ ngoài
cổng bệnh viện chiếc xe cứu thương hú cò inh ỏi rồi chạy vào
phòng cấp cứu. Đây là bệnh viện lớn của tỉnh Surin này cách
Bangkok khoảng hơn 200 cây số, tương đối tiện nghi về cả 2 mặt
nội và ngoại thương. Nhìn những dãy nhà gạch chung quanh, tôi
thấy nơi này có thể chứa hơn 1,000 giường bệnh.
Tôi đang suy nghĩ bân quơ,
cụ già lúc nãy bước nhanh lại tôi. Cụ chỉ tay về phiá phòng cấp
cứu rồi nói gì với tôi bằng tiếng Thái mà tôi không hiểu. Rồi cụ
chỉ tay vào người tôi.. Cụ chỉ tay về phiá xa, ra hiệu…Tôi đoán
hay là chiếc xe cứu thương vừa tới chở mấy người VN như tôi.
Nghĩ thế rồi tôi bước nhanh về phiá đó. Đến cửa phòng được vài
phút, tôi gặp cô y tá từ trong bước ra, cô ra dấu 4 ngón tay của
cô rồi nói với tôi bằng tiếng Anh, không thông thạo cho lắm .
Tôi mừng quá, đúng là những người anh em đi cùng tôi đã đến được
nơi này. Tôi nói với cô y tá:
-Tôi có thể vào trong gặp
họ đươc không?
Cô ta lắc đầu. Bởi vì Bác
sĩ đang bận rộn với việc khám nghiệm và giải phẫu. Tôi rộn ràng
trong lòng nhưng phải cố kiên nhẫn ngồi xuống chiếc ghế bên
ngoài, chờ đợi. Thời gian lúc này từng phút trôi quá thật lâu…
Rồi 1 vị Bác sĩ và cô y tá
mở cửa phòng cấp cứu đi ra gặp tôi. Cô y tá thông dịch viên nên
chúng tôi có thể nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Bác sĩ cho
tôi biết tình trạng vết thương 4 người bạn. Qua chụp quang tuyến
X, vết thương của 2 người trong bọn quá nặng, bị nhiễm độc nên
có thể bị cưa chân. Nghe cô y tá nói lại bằng tiếng Anh “cưa
chân”, người tôi run lên:
-Xin cô vui lòng thưa với
Bác sĩ xem có cách nào để cứu giúp cho các bạn tôi khỏi bị cưa
chân không? Tôi giải thích với 2 người rằng:
-Chúng tôi những người VN
đi tìm tự do. Nếu những người bạn tôi bị cưa chân như thế thì
cái nghĩa của Tự do còn gì nữa.
Rồi bỗng dưng tôi bật
khóc, tôi qùy xuống đất trước mặt vị Bác sĩ rồi lạy ông ta. Cô y
tá ngạc nhiên, rồi cô cầm tay tôi đỡ tôi dậy:
-Anh yên tâm, Bác sĩ sẽ
làm tất cả những gì ông ấy có thể làm được để giúp họ.
Đêm hôm đó, tôi trở thành
người thăm bệnh. Trong phòng ICU tôi ngồi bên cạnh từng người để
an ủi họ. . Bốn người bạn trẻ của tôi đã vượt ngoài sức chịu
đựng của con người. Trong suốt lộ trình 3 ngày 3 đêm, họ đã phải
kiên gan di chuyển bằng 2 bàn tay với cái mông. Thật là khủng
khiếp. Cho đến khi họ gặp được lính Miên Shêrêka (lính trong đơn
vị đã cứu giúp tôi, qua lời khai họ biết bọn 4 người này đã đi
chung toán với tôi nên họ chuyển 4 anh em vào cùng bệnh viện
Thái ở Surin).
Hôm sau vào khoảng 9 gờ
sáng, chiếc xe van của Hội Hồng Thập Tự Cao Ủy Tị Nạn từ
Bangkok xuống đón tất cả 5 chúng tôi . Chúng tôi được chuyển về
bệnh viện khác tại Bangkok. Qua khám nghiệm các các vị Bác sĩ
Thụy Sĩ, Thụy Điển , Pháp trong Hội Hồng Thập Tự Cao Ủy Tị Nạn,
vì lòng nhân đạo, các vị đồng ý không muốn cưa chân 2 người nặng
nhất. Trong khoảng 12 giờ CUTN họ đã can thiệp với toà Đại Sứ Mỹ
tại Thái Lan, cho 2 bệnh nhân nặng nhất ấy lên máy bay bay qua
đảo GUAM, điều trị tại bệnh viện dã chiến Hoa Kỳ.
3 người còn lại, chúng tôi
được đưa về trại tỵ nạn đường bộ NW9, tại biên giới Thái Lan.
Trần
Hữu Du
Cựu
Học Sinh Kỹ Thuật Đà Nẵng
Oaklahoma, tháng 7 -2007
Trở về Trang Chính |