|
Người
Âu Mỹ có thói quen đặt tên cho các thập niên bằng những danh từ
dễ nhớ, như thập niên 1970 họ gọi là “the Seventies”, 1980 là
“the Eighties”, 1990 là “the Nineties”, v.v... Đến thập niên
khởi đầu bằng năm 2000, ai nấy bị kẹt không biết gọi là gì, cho
đến ngày có người gợi ý... “the Noughties”.
Ừ nhỉ,
tại sao không? Bởi vì “nought” là con số 0, “noughties” là thập
niên của những năm bắt đầu bằng con số 0, có lý quá đi chứ. Có
người còn liên tưởng: “noughties” sao nghe giống “naughties” quá
đỗi (có nghĩa là hư đốn, nghịch ngợm, lém lỉnh). Phải chăng đây
là điềm báo trước thập niên sắp mở ra sẽ là những năm vui nhộn,
vô tư lự và thoải mái nhất trần gian...?
Thật là
sai lầm! Sai lầm quá cỡ. Bởi vì “the Noughties” sẽ được lịch sử
ghi lại như là một thập niên sầu ám, bi quan và khổ não nhất cho
thế giới từ rất lâu nay. Nó khởi đầu bằng vụ khủng bố 11/9/2001,
nó tiếp nối với tai họa biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, và nó
chấm dứt với một cuộc khủng hoảng tài chánh mà thế giới chưa
từng thấy từ gần một thế kỷ qua. Ấy thế mà vào năm 1999, khi
nhân loại sống những giây phút chót của thiên niên kỷ 1000,
chẳng ai nhận ra những dấu hiệu tiên khởi của khủng bố, khí hậu
và khủng hoảng kinh tế. Mọi người náo nức đón chờ cái tích-tắc
đầu tiên sau khi đồng hồ điểm 0 giờ 0 phút 0 giây vào ngày mồng
1 tháng 1 năm 2000. Có người còn mua cả vé máy bay sang tận hòn
đảo giữa Thái Bình Dương để là người đầu tiên được nhìn thấy mặt
trời mọc ở phương Đông! Nghĩ lại, sao trẻ con đến thế. Và sao
ngây ngô vậy được...
Thời
đại của internet
Nhưng
cuộc thay đổi lớn lao đầu tiên phải kể tới là cuộc cách mạng
internet. Có người gọi đó là cơn sóng thần công nghệ truyền
thông. Thật ra internet đã ra đời từ mấy chục năm trước rồi
(chính xác là năm 1969) nhưng phải đợi đến thập niên 2000 thì
mới bùng nổ dữ dội. Những trang mạng ngày nay mang tên thật quen
thuộc như Google, Facebook, YouTube, Skype và Twitter nổi lên
với hàng trăm triệu người truy cập, thay đổi hoàn toàn cách
sống, cách làm việc, cách giao thiệp lẫn cách giải trí của nhân
loại.
Thật là
khó tưởng tượng, cách đây 10 năm chỉ khoảng 20% gia đình ở Úc là
có internet. Ngày nay gần 80% gia đình có internet, trong đó đại
đa số là broadband. Điện thoại cầm tay hồi đó, chỉ 1/3 dân chúng
Úc có. Ngày nay, số mobile phone nhiều hơn cả số dân. Không
những vậy, những điện thoại này đã trở thành những chiếc
computer nhỏ có khả năng làm đủ mọi chuyện, kể cả coi internet,
gửi email, đánh text, lưu trữ dữ liệu, thâu thanh, chụp hình
cùng muôn ngàn applications khác...
Còn
những bước tiến về computer thì vô số kể. Ngày nay, ngồi trong
một chiếc xe ở đâu đó giữa sa mạc, một người có thể nhanh chóng
cập nhật tin tức nóng bỏng ở khắp mọi nơi trên thế giới, biết
tọa độ chính xác nơi mình đang ngồi, đọc được bản đồ chung
quanh, tra cứu hình chụp từ vệ tinh của bất cứ nơi nào với độ
chính xác có thể nhìn thấy cả mặt người. Người đó có thể mua vé
máy bay trực tuyến đi Los Angeles, mua trước cả vé đi xi-nê ở đó
nếu muốn – hoặc, hay hơn, xem phim xi-nê ngay trên màn ảnh trước
mặt - tìm bạn gái trên mạng, nghe một bản nhạc mới phát hành bên
Anh chưa đầy một giờ, tán dóc miễn phí với bạn bè kèm theo với
hình ảnh truyền hình trực tiếp, theo dõi lớp học ở đại học, vẽ
họa đồ chung với đồng nghiệp ở tuốt Seoul, mua bán cổ phiếu ở
Hong Kong, và ngay cả... làm tình trong thế giới ảo! Tất cả
những chuyện này bây giờ đã trở thành khá tầm thường, không còn
làm ai ngạc nhiên nữa.
Nhưng
với tất cả những tiến bộ này, internet cũng đem lại nhiều vấn
nạn. Đầu tiên là sự bội thực tin tức. Cái gì chúng ta cũng biết
hết, nhưng chỉ biết hời hợt, nghe qua chưa đầy vài giây, cho nên
tuy biết nhiều nhưng hiểu sâu sắc thì không bao nhiêu. Bạn bè
trên Facebook cũng có hàng chục tá, nhưng quen thật, hiểu thật
và chia sẻ nhiều tâm tình đậm đà với một ai đó thì khó lắm –
khó hơn xưa gấp bội.
Song
song, vì mọi tin tức đến quá nhanh, chỉ với một cái bấm của “con
chuột” hay một cái chạm nhẹ trên màn ảnh, cho nên chúng ta trở
nên nóng nẩy, thiếu kiên nhẫn, khó tính và hay chê bai. Vì thói
quen phải nhảy từ chuyện này sang chuyện nọ nhanh hơn cả tia
chớp, chúng ta đánh mất khả năng tập trung lâu dài vào một điều
gì sâu thẳm. Chúng ta luôn luôn cần sự ồn ào chung quanh, cần
kích thích tố cho mọi chuyện và sự nóng bỏng cho mọi tình huống.
Dần dần chúng ta mất đi đức tính im lặng. Quan trọng hơn, chúng
ta không còn thấy cái đẹp ngay cả khi nó đang hiện diện trước
mắt, bởi vì chúng ta đang mải... nhìn sang chỗ khác!
Thêm
vào đó là bệnh nghiện. Xưa kia có thể nghiện cờ bạc, nghiện hút
thuốc,... thì ngày nay nghiện internet, mobile phone và nghiện
chơi game có lẽ là những căn bệnh phổ thông nhất. Chúng ta lệ
thuộc vào internet. Không có nó, hình như không còn sống nổi
nữa.
Nói như
thế thì đủ hiểu sự bùng nổ của công nghệ truyền thông trong mọi
lãnh vực của cuộc sống đã thay đổi mỗi người trong chúng ta, gia
đình, cộng đồng và nhân loại một cách ghê gớm, vừa tốt lẫn xấu.
Có người còn bảo rằng internet đã biến cải não trạng con người
và cách giao tiếp giữa các tế bào não của chúng ta! Người khác
thì so sánh mạng nhện chằng chịt gồm hàng tỷ chiếc computer được
nối liền bằng xa lộ thông tin như những tế bào trong bộ óc khổng
lồ của một “siêu con người” - một nhân loại lần đầu tiên được
kết hợp thành một. Dù là gì đi nữa thì hình như nhân loại đang
bắt đầu ý thức rằng mình đã vô tình dấn bước vào một vùng đất
mới lạ, nơi đó có cả bụt lẫn ma quỷ, một vùng hoang vu chưa từng
được khám phá bao giờ. Tương lai sẽ đưa chúng ta về đâu? Các nhà
xã hội học, sinh vật học, đạo đức học và triết học sẽ phải bỏ ra
nhiều thời gian nữa mới bắt đầu hiểu nổi phần nào...
Khủng bố và sự suy yếu của Hoa Kỳ
Tuy
khủng bố đã có từ lâu ở nhiều nước và từ nhiều thành phần, nhưng
chưa bao giờ khủng bố lại chiếm trung tâm điểm của cục diện thế
giới bằng cái ngày định mệnh vào tháng 9 năm 2001 ở New York. Từ
đó trở đi, khủng bố đã thay đổi cách chúng ta di chuyển, đi máy
bay, bước vào công sở hay làm giấy tờ...
Và cũng
chính khủng bố – một cách hữu lý hay vô lý – đã đẩy nước Mỹ vào
hai cuộc chiến ở vùng Trung Đông, Afghanistan và Iraq. Có lẽ khi
Tổng thống G.W Bush lấy quyết định tung quân vào Iraq, ông không
ngờ được rằng kể từ đó, uy tín và thế lực nước Mỹ bị hao mòn một
cách tệ hại. Không nói đến những tổn thất nhân sự, những tổn phí
lên tới hàng trăm tỷ Mỹ kim; cũng khoan nói tới vụ tranh chấp ở
Palestine bị kẹt cứng không tìm ra giải pháp và chuyện Iran bắt
đầu trang bị võ khí nguyên tử... sự chạm trán giữa Hoa Kỳ và các
thế lực Hồi giáo cực đoan đã dấy lên cả một mặt trận nội tại
không chiến tuyến nơi nhiều quốc gia Tây phương như Anh, Pháp,
Tây Ban Nha, Đan Mạch, Đức,... Nhiều vụ khủng bố đẫm máu xảy ra
mà thủ phạm không ai khác hơn là con cháu của những người Hồi
giáo đã nhập cư làm lao động ở những xứ này – những người mà ai
cũng gọi là Hồi giáo ôn hòa. Thế mới biết, chạm động vào mạch
của tôn giáo là mở ra cái Hộp Pandora, với vô số những vấn đề
phức tạp làm sôi sục lòng người, kích thích sự cuồng tín và chia
rẽ những dân tộc. Tinh thần bài Hồi giáo được dịp chớm nở ở một
số quốc gia với những hơi hám kỳ thị nhức nhối, trong khi đó thì
một số thành phần Hồi giáo ôn hòa bị lôi kéo dần vào quỹ đạo của
lòng cố chấp cực đoan.
Kết quả
có lẽ rõ ràng nhất của thập niên 2000 là sự xuống dốc của ảnh
hưởng nước Mỹ trên thế giới.
Ngay
sau khi Liên Xô cùng Cộng sản Đông Âu sụp đổ vào cuối thập niên
1980, để lại Hoa Kỳ như là siêu cường duy nhất, triết gia người
Mỹ Francis Fukuyama từng đưa ra giả thuyết nổi tiếng của ông gọi
là “Sự tận cùng của lịch sử”, theo đó sự tiến hoá của nhân loại
về mặt xã hội văn hoá đã đi đến điểm chung cuộc với sự toàn
thắng của chủ nghĩa dân chủ tự do.
Chỉ cần
hơn một chục năm sau, lý thuyết này đã bị chính lịch sử làm cho
phá sản. Không những dân chủ đã không toàn thắng, mà người ta
còn chứng kiến sự hiện hữu dai dẳng của nhiều thế lực độc tài đủ
mọi kiểu ở khắp mọi nơi, đương đầu rất thành công với khối dân
chủ Âu Mỹ, thậm chí còn làm cho Âu Mỹ phải chùn bước trong nhiều
lãnh vực, đặc biệt là kinh tế và an ninh. Từ những chế độ thần
quyền toàn trị (kiểu như Iran, Ả Rập Saudi...) qua những quốc
gia cai trị bởi các nhóm quân phiệt không hơn gì đảng cướp (như
Zimbabwe, Miến Điện, Libya...), những nước bị phá sản gần như vô
chủ (như Angola, Yemen...), những chế độ cộng sản thuần túy (như
Bắc Hàn, Cuba), những nước cộng sản biến thái và tư bản bộ tộc
man sơ (Trung quốc, Việt Nam...), cho đến những nước dân chủ giả
hiệu (như Nga, Cambốt, Venezuela...), thế giới thật là không
thiếu những thể chế phản dân chủ.
Có thể
nói siêu cường Hoa Kỳ, tuy vẫn mạnh nhất và giàu nhất địa cầu,
đã chấm dứt thập niên 2000 trong một vị thế suy yếu, bi quan
chưa từng thấy. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ từ chính trị, ngoại giao,
kinh tế cho tới quân sự đều bị sứt mẻ. Hoa Kỳ từ hai thập niên
trước đã hết là “ngân hàng của thế giới” thì bây giờ cũng hết là
“ông cảnh sát của thế giới”. Quan trọng hơn, nước Mỹ không còn
là ngọn hải đăng tinh thần sáng ngời soi đường cho một cộng đồng
thế giới ngày càng phân hóa và phức tạp.
Đây là
một mối lo lớn cho nhân loại khi mà những lực lượng của bóng tối
hình như đang cười vang đắc thắng. Liệu Hoa Kỳ có phục hồi được
hay không, điều này không những tùy thuộc vào chính quyền mới
của ông Barack Obama, mà còn tùy vào sự thức tỉnh của mỗi người
dân Hoa Kỳ phải hành động làm sao cho xứng đáng với những lý
tưởng cấp tiến của các vị lập quốc, cũng như của mọi thành phần
tiến bộ khác khắp thế giới. Nhưng tiến bộ thì không ai có thể
cản được – lịch sử đã chứng minh như thế – chỉ có cái là... lâu
lâu nó chạy lòng vòng mà thôi!
Cách
đây 10 năm, thật là không ai ngờ được một tên trùm phiến quân
tăm tối mang tên bin Laden lại có khả năng – một cách gián tiếp
và rất có thể là vô tình – làm lộ ra những nhược điểm của nước
Mỹ và xui khiến cho nước này bước vào một đường hầm vẫn chưa
thấy lối ra.
Trung quốc theo chân Đức Quốc Xã?
Hai vấn
nạn lớn khác của thế giới – biến đổi khí hậu và cuộc khủng hoảng
tài chánh toàn cầu – đã là dịp để cho, lần đầu tiên, con beo
Trung quốc nhe răng nanh, chiếm lĩnh một vùng ảnh hưởng mà nó
chưa từng có trước đó.
Vào
cuối tháng 12 năm 2009, Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu ở
Copenhagen lâm vào bế tắc. Sau mấy năm dài chuẩn bị, với hàng
chục ngàn đại biểu, hàng trăm vị nguyên thủ quốc gia về tham dự,
cuối cùng con voi đã đẻ ra... một con chuột bé tí tẹo. Hóa ra
nhân loại vẫn chưa đủ trưởng thành để ngồi xuống hợp tác với
nhau một cách thực tâm trước một hiểm họa chung vô cùng khủng
khiếp.
Giữa những cãi vã, lên án, bắt chẹt, đổ tội và hờn dỗi xảy ra
liên tục trong gần hai tuần đàm phán, thế trận Copenhagen có thể
được tóm tắt như sau: Các xứ gọi là
“nghèo”
(thật ra không nghèo lắm) đòi hỏi các xứ gọi là “giàu” (thật ra
không giàu lắm) phải giảm khí carbon quyết liệt hơn nữa. Họ viện
lẽ khối giàu đã từ lâu tàn phá môi trường, bóc lột khối nghèo để
kỹ nghệ hóa, và vì vậy, giờ đây không ai được cấm cản khối nghèo
cũng theo chân! Cách nhận định này không sai, nhưng nó chỉ đem
lại đổ vỡ giữa lúc mà ngay tại các xứ “giàu”, các cánh bảo thủ
lại nổi lên nhao nhao bác bỏ thuyết hâm nóng địa cầu và ngăn
chặn không cho các chính phủ thông qua những đạo luật giảm khí
thải có ý nghĩa. Thế là mọi chuyện đi vào ngõ cụt. Thay vì mỗi
nước, vì quyền lợi chung, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình
một chút ít, thì bây giờ ai nấy đều lui về cái thế thật ích kỷ
nhưng lại có vẻ rất ái quốc: “Tôi sẽ chỉ hy sinh nếu tất cả mọi
người đều chịu hy sinh”, và “tôi sẽ không hy sinh nhiều hơn là
quyền lợi của tôi cho phép.”
Nhưng
điều đáng chú ý hơn cả tại Copenhagen là cái thế mới của Trung
quốc trên trường quốc tế. Đảo ngược lại thái độ mềm mỏng trước
đó, Bắc Kinh lần đầu tiên lộ rõ chân tướng khi hô hoán đàn em
hành xử một cách hung hãn, bạo ngược. Cốt ý làm nhục Tổng thống
Obama ở bàn hội nghị, Thủ tướng Trung quốc chỉ sai một đại diện
thứ yếu ngồi vào bàn họp và gạt ngang mọi đề nghị thỏa hiệp mà
không đưa ra một lời giải thích nào. Đại diện Bắc Kinh đã khiến
cho những vị có tiếng là điềm đạm như Thủ tướng Angela Merkel
của Đức và Kevin Rudd của Úc cũng phải nổi đóa. Phải chăng, vì
nhận rõ cái thế siêu cường rất mới của mình, Bắc Kinh đã quyết
định hành xử như “Thiên tử”?
Đối với
cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu, Bắc Kinh đã không hành xử
như Thiên tử mà như một vị Cứu thế. Trong khi hầu hết các nước
kỹ nghệ lâm vào suy thoái, Trung quốc là nền kinh tế lớn duy
nhất vẫn có thể vỗ ngực phát triển cao hơn 5%. Thừa thắng xông
lên, Trung quốc giành ưu thế cho nhóm G20 để thay thế G8, thậm
chí có lúc còn kêu gọi thế giới dùng đồng Yuan thay thế cho đồng
Mỹ kim làm đồng tiền căn bản.
Nhìn
tình hình Trung quốc ngày nay, người ta khó lòng nào mà không
liên tưởng đến Đức Quốc Xã vào thập niên 1930. Cũng là một cường
quốc mới trồi dậy mãnh liệt sau những năm dài bị “làm nhục” bởi
ngoại bang, cũng là một nước vừa mới tổ chức thành công Thế Vận
Hội để nở mặt nở mày với đời, cùng một phong trào khuấy động
niềm tự hào dân tộc và lòng ái quốc của người dân từ quá lâu đã
chìm trong nghèo đói, cùng một ý thức hệ tự cho mình là “dân tộc
tiên tiến”, cùng một thái độ hung hãn thô bạo với tất cả các
nước lân bang và ngay cả với các vùng sắc tộc của mình... có quá
nhiều những hình ảnh của Trung quốc ngày nay nhắc lại thảm kịch
của nước Đức Quốc Xã thời đó. Nếu chẳng mạy quả bong bóng kinh
tế Trung quốc do những đợt kích cầu khổng lồ vừa rồi tạo ra bị
bể, đưa đến nạn thất nghiệp ồ ạt và bất ổn xã hội, thì coi như
những yếu tố đã đưa Đức Quốc Xã lên ngôi cũng gần như đủ bộ ở
Trung quốc ngày nay.
Dĩ
nhiên là không ai mong mỏi một Thế chiến thứ 3 xảy ra, nhưng
người ta không thể quên được bài học chua cay của tất cả những
đế quốc hung bạo đã bị tàn lụi bởi chính sự kiêu căng vô hạn của
mình.
Đối với
chủ nghĩa tư bản, cuộc khủng hoảng tài chánh cũng đặt ra nhiều
câu hỏi chưa có câu giải đáp ổn thỏa về khả năng gọi là “tự
thích ứng, tự điều chỉnh” của thị trường tự do. Rõ ràng là khủng
hoảng subprime ở Hoa Kỳ đã không biết tự điều chỉnh chút nào,
kéo theo sự đông lạnh của hệ thống tín dụng thế giới và sự sụp
đổ của nhiều đại doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ. Ngành tài chánh
ở Hoa Kỳ đã thoát chết lần này gần như hoàn toàn là nhờ sự can
thiệp của chính quyền các nước. Âu cũng là thêm một cái lỗ thủng
trên con tàu của chủ nghĩa tư bản không kềm chế (các nước phản
dân chủ đừng nên lấy điều này làm vui, bởi vì cái tư bản của họ
còn bừa bãi, vô trách nhiệm hơn cả tư bản Hoa Kỳ nữa!). Ấy thế
mà chỉ vài tuần sau khi cơn khủng hoảng có vẻ lắng bớt, các tay
đại tư bản lại nhộn nhịp chạy lên vết xe cũ tưởng chừng như
không có gì xảy ra...
Nhìn
chung lại thì thập niên “Noughties” đáng quên hơn là đáng nhớ.
Không phải vì nó không có chuyện gì để mà nhớ, mà vì những
chuyện đó có lẽ người ta chỉ muốn quên đi cho khỏi thêm bận
lòng. Nhưng đây là điều nguy hiểm lắm đó. Những khó khăn, thất
bại hay thử thách của thập niên 2000, nếu quên đi mà không rút
tỉa được bài học nào thì e rằng thập niên 2010 – gọi là gì nhỉ,
“the Teens” chăng? – sẽ chỉ là sự nối tiếp tất nhiên của những
vấn đế rất cũ.
Phụng
Nhân
1. Tên của bạn::
'huong nguyen'
2. E-Mail của bạn::
'phamnguyenhuong
3. Góp ý cho bài ? :
'thap nien 00, de nho va quen'
4. Góp ý, Phê bình::
'hai viet rat hay, phan tich chinh xac ,cam on tac gia'
Trở về Trang Chính
|