Thập niên 00, để nhớ và... quên


 

Phụng Nhân

04 tháng 02 năm 2010

         Người Âu Mỹ có thói quen đặt tên cho các thập niên bằng những danh từ dễ nhớ, như thập niên 1970 họ gọi là “the Seventies”, 1980 là “the Eighties”, 1990 là “the Nineties”, v.v... Đến thập niên khởi đầu bằng năm 2000, ai nấy bị kẹt không biết gọi là gì, cho đến ngày có người gợi ý... “the Noughties”.

Ừ nhỉ, tại sao không? Bởi vì “nought” là con số 0, “noughties” là thập niên của những năm bắt đầu bằng con số 0, có lý quá đi chứ. Có người còn liên tưởng: “noughties” sao nghe giống “naughties” quá đỗi (có nghĩa là hư đốn, nghịch ngợm, lém lỉnh). Phải chăng đây là điềm báo trước thập niên sắp mở ra sẽ là những năm vui nhộn, vô tư lự và thoải mái nhất trần gian...?

Thật là sai lầm! Sai lầm quá cỡ. Bởi vì “the Noughties” sẽ được lịch sử ghi lại như là một thập niên sầu ám, bi quan và khổ não nhất cho thế giới từ rất lâu nay. Nó khởi đầu bằng vụ khủng bố 11/9/2001, nó tiếp nối với tai họa biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, và nó chấm dứt với một cuộc khủng hoảng tài chánh mà thế giới chưa từng thấy từ gần một thế kỷ qua. Ấy thế mà vào năm 1999, khi nhân loại sống những giây phút chót của thiên niên kỷ 1000, chẳng ai nhận ra những dấu hiệu tiên khởi của khủng bố, khí hậu và khủng hoảng kinh tế. Mọi người náo nức đón chờ cái tích-tắc đầu tiên sau khi đồng hồ điểm 0 giờ 0 phút 0 giây vào ngày mồng 1 tháng 1 năm 2000. Có người còn mua cả vé máy bay sang tận hòn đảo giữa Thái Bình Dương để là người đầu tiên được nhìn thấy mặt trời mọc ở phương Đông! Nghĩ lại, sao trẻ con đến thế. Và sao ngây ngô vậy được...    

 

Thời đại của internet

Nhưng cuộc thay đổi lớn lao đầu tiên phải kể tới là cuộc cách mạng internet. Có người gọi đó là cơn sóng thần công nghệ truyền thông. Thật ra internet đã ra đời từ mấy chục năm trước rồi (chính xác là năm 1969) nhưng phải đợi đến thập niên 2000 thì mới bùng nổ dữ dội. Những trang mạng ngày nay mang tên thật quen thuộc như Google, Facebook, YouTube, Skype và Twitter nổi lên với hàng trăm triệu người truy cập, thay đổi hoàn toàn cách sống, cách làm việc, cách giao thiệp lẫn cách giải trí của nhân loại.    

Thật là khó tưởng tượng, cách đây 10 năm chỉ khoảng 20% gia đình ở Úc là có internet. Ngày nay gần 80% gia đình có internet, trong đó đại đa số là broadband. Điện thoại cầm tay hồi đó, chỉ 1/3 dân chúng Úc có. Ngày nay, số mobile phone nhiều hơn cả số dân. Không những vậy, những điện thoại này đã trở thành những chiếc computer nhỏ có khả năng làm đủ mọi chuyện, kể cả coi internet, gửi email, đánh text, lưu trữ dữ liệu, thâu thanh, chụp hình cùng muôn ngàn applications khác...

Còn những bước tiến về computer thì vô số kể. Ngày nay, ngồi trong một chiếc xe ở đâu đó giữa sa mạc, một người có thể nhanh chóng cập nhật tin tức nóng bỏng ở khắp mọi nơi trên thế giới, biết tọa độ chính xác nơi mình đang ngồi, đọc được bản đồ chung quanh, tra cứu hình chụp từ vệ tinh của bất cứ nơi nào với độ chính xác có thể nhìn thấy cả mặt người. Người đó có thể mua vé máy bay trực tuyến đi Los Angeles, mua trước cả vé đi xi-nê ở đó nếu muốn – hoặc, hay hơn, xem phim xi-nê ngay trên màn ảnh trước mặt - tìm bạn gái trên mạng, nghe một bản nhạc mới phát hành bên Anh chưa đầy một giờ, tán dóc miễn phí với bạn bè kèm theo với hình ảnh truyền hình trực tiếp, theo dõi lớp học ở đại học, vẽ họa đồ chung với đồng nghiệp ở tuốt Seoul, mua bán cổ phiếu ở Hong Kong, và ngay cả... làm tình trong thế giới ảo!  Tất cả những chuyện này bây giờ đã trở thành khá tầm thường, không còn làm ai ngạc nhiên nữa.

Nhưng với tất cả những tiến bộ này, internet cũng đem lại nhiều vấn nạn. Đầu tiên là sự bội thực tin tức. Cái gì chúng ta cũng biết hết, nhưng chỉ biết hời hợt, nghe qua chưa đầy vài giây, cho nên tuy biết nhiều nhưng hiểu sâu sắc thì không bao nhiêu. Bạn bè trên Facebook cũng có hàng chục tá, nhưng quen thật, hiểu thật và chia sẻ nhiều tâm tình đậm đà với một ai đó thì khó lắm –  khó hơn xưa gấp bội.

Song song, vì mọi tin tức đến quá nhanh, chỉ với một cái bấm của “con chuột” hay một cái chạm nhẹ trên màn ảnh, cho nên chúng ta trở nên nóng nẩy, thiếu kiên nhẫn, khó tính và hay chê bai. Vì thói quen phải nhảy từ chuyện này sang chuyện nọ nhanh hơn cả tia chớp, chúng ta đánh mất khả năng tập trung lâu dài vào một điều gì sâu thẳm. Chúng ta luôn luôn cần sự ồn ào chung quanh, cần kích thích tố cho mọi chuyện và sự nóng bỏng cho mọi tình huống. Dần dần chúng ta mất đi đức tính im lặng. Quan trọng hơn, chúng ta không còn thấy cái đẹp ngay cả khi nó đang hiện diện trước mắt, bởi vì chúng ta đang mải... nhìn sang chỗ khác!   

Thêm vào đó là bệnh nghiện. Xưa kia có thể nghiện cờ bạc, nghiện hút thuốc,... thì ngày nay nghiện internet, mobile phone và nghiện chơi game có lẽ là những căn bệnh phổ thông nhất. Chúng ta lệ thuộc vào internet. Không có nó, hình như không còn sống nổi nữa. 

Nói như thế thì đủ hiểu sự bùng nổ của công nghệ truyền thông trong mọi lãnh vực của cuộc sống đã thay đổi mỗi người trong chúng ta, gia đình, cộng đồng và nhân loại một cách ghê gớm, vừa tốt lẫn xấu. Có người còn bảo rằng internet đã biến cải não trạng con người và cách giao tiếp giữa các tế bào não của chúng ta! Người khác thì so sánh mạng nhện chằng chịt gồm hàng tỷ chiếc computer được nối liền bằng xa lộ thông tin như những tế bào trong bộ óc khổng lồ của một “siêu con người” - một nhân loại lần đầu tiên được kết hợp thành một. Dù là gì đi nữa thì hình như nhân loại đang bắt đầu ý thức rằng mình đã vô tình dấn bước vào một vùng đất mới lạ, nơi đó có cả bụt lẫn ma quỷ, một vùng hoang vu chưa từng được khám phá bao giờ. Tương lai sẽ đưa chúng ta về đâu? Các nhà xã hội học, sinh vật học, đạo đức học và triết học sẽ phải bỏ ra nhiều thời gian nữa mới bắt đầu hiểu nổi phần nào...

 

Khủng bố và sự suy yếu của Hoa Kỳ

Tuy khủng bố đã có từ lâu ở nhiều nước và từ nhiều thành phần, nhưng chưa bao giờ khủng bố lại chiếm trung tâm điểm của cục diện thế giới bằng cái ngày định mệnh vào tháng 9 năm 2001 ở New York. Từ đó trở đi, khủng bố đã thay đổi cách chúng ta di chuyển, đi máy bay, bước vào công sở hay làm giấy tờ...

Và cũng chính khủng bố – một cách hữu lý hay vô lý – đã đẩy nước Mỹ vào hai cuộc chiến ở vùng Trung Đông, Afghanistan và Iraq. Có lẽ khi Tổng thống G.W Bush lấy quyết định tung quân vào Iraq, ông không ngờ được rằng kể từ đó, uy tín và thế lực nước Mỹ bị hao mòn một cách tệ hại. Không nói đến những tổn thất nhân sự, những tổn phí lên tới hàng trăm tỷ Mỹ kim; cũng khoan nói tới vụ tranh chấp ở Palestine bị kẹt cứng không tìm ra giải pháp và chuyện Iran bắt đầu trang bị võ khí nguyên tử... sự chạm trán giữa Hoa Kỳ và các thế lực Hồi giáo cực đoan đã dấy lên cả một mặt trận nội tại không chiến tuyến nơi nhiều quốc gia Tây phương như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Đức,... Nhiều vụ khủng bố đẫm máu xảy ra mà thủ phạm không ai khác hơn là con cháu của những người Hồi giáo đã nhập cư làm lao động ở những xứ này – những người mà ai cũng gọi là Hồi giáo ôn hòa. Thế mới biết, chạm động vào mạch của tôn giáo là mở ra cái Hộp Pandora, với vô số những vấn đề phức tạp làm sôi sục lòng người, kích thích sự cuồng tín và chia rẽ những dân tộc. Tinh thần bài Hồi giáo được dịp chớm nở ở một số quốc gia với những hơi hám kỳ thị nhức nhối, trong khi đó thì một số thành phần Hồi giáo ôn hòa bị lôi kéo dần vào quỹ đạo của lòng cố chấp cực đoan.

Kết quả có lẽ rõ ràng nhất của thập niên 2000 là sự xuống dốc của ảnh hưởng nước Mỹ trên thế giới.

Ngay sau khi Liên Xô cùng Cộng sản Đông Âu sụp đổ vào cuối thập niên 1980, để lại Hoa Kỳ như là siêu cường duy nhất, triết gia người Mỹ Francis Fukuyama từng đưa ra giả thuyết nổi tiếng của ông gọi là “Sự tận cùng của lịch sử”, theo đó sự tiến hoá của nhân loại về mặt xã hội văn hoá đã đi đến điểm chung cuộc với sự toàn thắng của chủ nghĩa dân chủ tự do.

Chỉ cần hơn một chục năm sau, lý thuyết này đã bị chính lịch sử làm cho phá sản. Không những dân chủ đã không toàn thắng, mà người ta còn chứng kiến sự hiện hữu dai dẳng của nhiều thế lực độc tài đủ mọi kiểu ở khắp mọi nơi, đương đầu rất thành công với khối dân chủ Âu Mỹ, thậm chí còn làm cho Âu Mỹ phải chùn bước trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là kinh tế và an ninh. Từ những chế độ thần quyền toàn trị (kiểu như Iran, Ả Rập Saudi...) qua những quốc gia cai trị bởi các nhóm quân phiệt không hơn gì đảng cướp (như Zimbabwe, Miến Điện, Libya...), những nước bị phá sản gần như vô chủ (như Angola, Yemen...), những chế độ cộng sản thuần túy (như Bắc Hàn, Cuba), những nước cộng sản biến thái và tư bản bộ tộc man sơ (Trung quốc, Việt Nam...), cho đến những nước dân chủ giả hiệu (như Nga, Cambốt, Venezuela...), thế giới thật là không thiếu những thể chế phản dân chủ.  

Có thể nói siêu cường Hoa Kỳ, tuy vẫn mạnh nhất và giàu nhất địa cầu, đã chấm dứt thập niên 2000 trong một vị thế suy yếu, bi quan chưa từng thấy. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ từ chính trị, ngoại giao, kinh tế cho tới quân sự đều bị sứt mẻ. Hoa Kỳ từ hai thập niên trước đã hết là “ngân hàng của thế giới” thì bây giờ cũng hết là “ông cảnh sát của thế giới”. Quan trọng hơn, nước Mỹ không còn là ngọn hải đăng tinh thần sáng ngời soi đường cho một cộng đồng thế giới ngày càng phân hóa và phức tạp.

Đây là một mối lo lớn cho nhân loại khi mà những lực lượng của bóng tối hình như đang cười vang đắc thắng. Liệu Hoa Kỳ có phục hồi được hay không, điều này không những tùy thuộc vào chính quyền mới của ông Barack Obama, mà còn tùy vào sự thức tỉnh của mỗi người dân Hoa Kỳ phải hành động làm sao cho xứng đáng với những lý tưởng cấp tiến của các vị lập quốc, cũng như của mọi thành phần tiến bộ khác khắp thế giới. Nhưng tiến bộ thì không ai có thể cản được – lịch sử đã chứng minh như thế – chỉ có cái là... lâu lâu nó chạy lòng vòng mà thôi!

Cách đây 10 năm, thật là không ai ngờ được một tên trùm phiến quân tăm tối mang tên bin Laden lại có khả năng – một cách gián tiếp và rất có thể là vô tình – làm lộ ra những nhược điểm của nước Mỹ và xui khiến cho nước này bước vào một đường hầm vẫn chưa thấy lối ra.

 

Trung quốc theo chân Đức Quốc Xã?

Hai vấn nạn lớn khác của thế giới – biến đổi khí hậu và cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu – đã là dịp để cho, lần đầu tiên, con beo Trung quốc nhe răng nanh, chiếm lĩnh một vùng ảnh hưởng mà nó chưa từng có trước đó.

Vào cuối tháng 12 năm 2009, Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu ở Copenhagen lâm vào bế tắc. Sau mấy năm dài chuẩn bị, với hàng chục ngàn đại biểu, hàng trăm vị nguyên thủ quốc gia về tham dự, cuối cùng con voi đã đẻ ra... một con chuột bé tí tẹo. Hóa ra nhân loại vẫn chưa đủ trưởng thành để ngồi xuống hợp tác với nhau một cách thực tâm trước một hiểm họa chung vô cùng khủng khiếp.

Giữa những cãi vã, lên án, bắt chẹt, đổ tội và hờn dỗi xảy ra liên tục trong gần hai tuần đàm phán, thế trận Copenhagen có thể được tóm tắt như sau: Các xứ gọi là nghèo” (thật ra không nghèo lắm) đòi hỏi các xứ gọi là “giàu” (thật ra không giàu lắm) phải giảm khí carbon quyết liệt hơn nữa. Họ viện lẽ khối giàu đã từ lâu tàn phá môi trường, bóc lột khối nghèo để kỹ nghệ hóa, và vì vậy, giờ đây không ai được cấm cản khối nghèo cũng theo chân! Cách nhận định này không sai, nhưng nó chỉ đem lại đổ vỡ giữa lúc mà ngay tại các xứ “giàu”, các cánh bảo thủ lại nổi lên nhao nhao bác bỏ thuyết hâm nóng địa cầu và ngăn chặn không cho các chính phủ thông qua những đạo luật giảm khí thải có ý nghĩa. Thế là mọi chuyện đi vào ngõ cụt. Thay vì mỗi nước, vì quyền lợi chung, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình một chút ít, thì bây giờ ai nấy đều lui về cái thế thật ích kỷ nhưng lại có vẻ rất ái quốc: “Tôi sẽ chỉ hy sinh nếu tất cả mọi người đều chịu hy sinh”, và “tôi sẽ không hy sinh nhiều hơn là quyền lợi của tôi cho phép.”

Nhưng điều đáng chú ý hơn cả tại Copenhagen là cái thế mới của Trung quốc trên trường quốc tế. Đảo ngược lại thái độ mềm mỏng trước đó, Bắc Kinh lần đầu tiên lộ rõ chân tướng khi hô hoán đàn em hành xử một cách hung hãn, bạo ngược. Cốt ý làm nhục Tổng thống Obama ở bàn hội nghị, Thủ tướng Trung quốc chỉ sai một đại diện thứ yếu ngồi vào bàn họp và gạt ngang mọi đề nghị thỏa hiệp mà không đưa ra một lời giải thích nào. Đại diện Bắc Kinh đã khiến cho những vị có tiếng là điềm đạm như Thủ tướng Angela Merkel của Đức và Kevin Rudd của Úc cũng phải nổi đóa. Phải chăng, vì nhận rõ cái thế siêu cường rất mới của mình, Bắc Kinh đã quyết định hành xử như “Thiên tử”?

Đối với cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu, Bắc Kinh đã không hành xử như Thiên tử mà như một vị Cứu thế. Trong khi hầu hết các nước kỹ nghệ lâm vào suy thoái, Trung quốc là nền kinh tế lớn duy nhất vẫn có thể vỗ ngực phát triển cao hơn 5%. Thừa thắng xông lên, Trung quốc giành ưu thế cho nhóm G20 để thay thế G8, thậm chí có lúc còn kêu gọi thế giới dùng đồng Yuan thay thế cho đồng Mỹ kim làm đồng tiền căn bản.

Nhìn tình hình Trung quốc ngày nay, người ta khó lòng nào mà không liên tưởng đến Đức Quốc Xã vào thập niên 1930. Cũng là một cường quốc mới trồi dậy mãnh liệt sau những năm dài bị “làm nhục” bởi ngoại bang, cũng là một nước vừa mới tổ chức thành công Thế Vận Hội để nở mặt nở mày với đời, cùng một phong trào khuấy động niềm tự hào dân tộc và lòng ái quốc của người dân từ quá lâu đã chìm trong nghèo đói, cùng một ý thức hệ tự cho mình là “dân tộc tiên tiến”, cùng một thái độ hung hãn thô bạo với tất cả các nước lân bang và ngay cả với các vùng sắc tộc của mình... có quá nhiều những hình ảnh của Trung quốc ngày nay nhắc lại thảm kịch của nước Đức Quốc Xã thời đó. Nếu chẳng mạy quả bong bóng kinh tế Trung quốc do những đợt kích cầu khổng lồ vừa rồi tạo ra bị bể, đưa đến nạn thất nghiệp ồ ạt và bất ổn xã hội, thì coi như những yếu tố đã đưa Đức Quốc Xã lên ngôi cũng gần như đủ bộ ở Trung quốc ngày nay.

Dĩ nhiên là không ai mong mỏi một Thế chiến thứ 3 xảy ra, nhưng người ta không thể quên được bài học chua cay của tất cả những đế quốc hung bạo đã bị tàn lụi bởi chính sự kiêu căng vô hạn của mình.

Đối với chủ nghĩa tư bản, cuộc khủng hoảng tài chánh cũng đặt ra nhiều câu hỏi chưa có câu giải đáp ổn thỏa về khả năng gọi là “tự thích ứng, tự điều chỉnh” của thị trường tự do. Rõ ràng là khủng hoảng subprime ở Hoa Kỳ đã không biết tự điều chỉnh chút nào, kéo theo sự đông lạnh của hệ thống tín dụng thế giới và sự sụp đổ của nhiều đại doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ. Ngành tài chánh ở Hoa Kỳ đã thoát chết lần này gần như hoàn toàn là nhờ sự can thiệp của chính quyền các nước. Âu cũng là thêm một cái lỗ thủng trên con tàu của chủ nghĩa tư bản không kềm chế (các nước phản dân chủ đừng nên lấy điều này làm vui, bởi vì cái tư bản của họ còn bừa bãi, vô trách nhiệm hơn cả tư bản Hoa Kỳ nữa!). Ấy thế mà chỉ vài tuần sau khi cơn khủng hoảng có vẻ lắng bớt, các tay đại tư bản lại nhộn nhịp chạy lên vết xe cũ tưởng chừng như không có gì xảy ra...

 

Nhìn chung lại thì thập niên “Noughties” đáng quên hơn là đáng nhớ. Không phải vì nó không có chuyện gì để mà nhớ, mà vì những chuyện đó có lẽ người ta chỉ muốn quên đi cho khỏi thêm bận lòng. Nhưng đây là điều nguy hiểm lắm đó. Những khó khăn, thất bại hay thử thách của thập niên 2000, nếu quên đi mà không rút tỉa được bài học nào thì e rằng thập niên 2010 – gọi là gì nhỉ, “the Teens” chăng? – sẽ chỉ là sự nối tiếp tất nhiên của những vấn đế rất cũ.

 

Phụng Nhân

 

1. Tên của bạn::
   'huong nguyen'
2. E-Mail của bạn::
   'phamnguyenhuong
3. Góp ý cho bài ? :
   'thap nien 00, de nho va quen'
4. Góp ý, Phê bình::
   'hai viet rat hay, phan tich chinh xac ,cam on tac gia'

Trở về Trang Chính