|
Vào đầu thập niên 70
thử hỏi những cô thiếu nữ mới lớn nào lại không từng
nhỏ lệ cho cuộc tình của Jenny Cavalleri và Oliver Barrett
trong cuốn phim đạt giải Oscar Love Story? Chuyện phim dựa
trên cuốn sách cùng tên của Erich Segal. Dù là tác phẩm
đầu tay nhưng Love Story đã nhanh chóng trở thành
Bestseller trong năm. Ngoài Love Story Erich Segal còn cho
xuất bản nhiều cuốn khác như là Fairy Tales (1973),
Oliver's Story (1977)Man, Woman and Child (1980),
The Class (1985), Doctors (1988), Acts of Faith
(1992) và Prizes (1995) …
Prizes của Erich Segal
được Gisela Stege dịch sang Đức ngữ dưới tên „Der Preis des
Ruhms“, tạm dịch là „Cái Giá Vinh Quang“.
Erich Segal đưa người
đọc qua „Cái Giá Vinh Quang“ vào thế giới sôi động của
những người đam mê nghiên cứu Vật Lý, Hóa Sinh hay nghiên
cứu về Gen v.v….trong những trường đại học danh tiếng như
Standford tại California, Harvard, MIT tại Boston. Đây là
những nơi làm việc mà các khoa học gia trên toàn thế
giới hằng mơ ước. Được một số chuyên gia về các ngành
y, vi sinh học và vật lý cố vấn, Erich Segal đẩy đưa
người đọc vào những chi tiết chuyên ngành thật chính
xác nhưng với lời văn dể hiểu phù hợp cho cuốn sách
theo thể loại tiểu thuyết.
Người đọc say mê với
một Sandy Raven nhà vi sinh học, trẻ tuổi tài cao đam mê
nghiên cứu Hóa học ngay từ thời còn bé. Sandy Raven đạt
đến đỉnh cao danh vọng về nghiên cứu khoa học nhưng lại
phải trả với cái giá thật đắt: Hai lần thất vọng trên
tình trường. Một cuộc tình không bao giờ đạt được và
một cuộc hôn nhân đỗ vỡ. Cộng thêm là nỗi thất vọng
lớn lao khi bị ngay chính người Thầy đỡ đầu và cũng
chính là người Cha vợ cướp công nghiên cứu.
Người đọc cũng phải
say mê và nhỏ nước mắt cho một Adam Coopersmith, nhà vi
trùng học trẻ tuổi tài ba nhưng gặp phải số phận
nghiệt ngã. Adam Coopersmith thừa hưởng một gia tài nghiên
cứu quý báu của người Thầy đầy lương tâm Max Rudolf sau
khi ông qua đời vì tai nạn xe hơi. Adam Coopersmith đạt
được những gì mà một xã hội bình thường mong muốn: Yêu
và lấy được người mình yêu, con gái cưng của một người
đầy thế lực trong chính phủ Hoa Kỳ, rồi có thêm được
Heather, một đứa con gái ngoan ngoãn thông minh. Về mặt
nghề nghiệp Adam Coopersmith cũng lại là một khoa học gia
được trọng vọng tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên cái mà Adam
Coopersmith thiếu và mong ước là được yêu. Heather thiếu
vòng tay che chở của một bà Mẹ, phần Adam Coopersmith
lại ao ước được một ánh mắt nồng ấm, một bàn tay dịu
dàng săn sóc từ một người vợ đúng nghĩa chứ không phải
từ một người phụ nữ chung chăng gối đam mê nghề nghiệp
hơn là cuộc sống gia đình. Adam Coopersmith đã không cưỡng
lại được lòng mình khi gặp Anja Avilows, một người di dân
gốc Nga thông minh và đặc biệt có một trái tim nhân hậu
đang bị chồng xua đuổi khinh rẻ vì không có khả năng sinh
sãn. Hôn nhân tan vỡ. Nhưng Adam lại được hồi sinh với
Anja, được yêu và được đền bù tình cảm bị đánh mất
trong thời gian chung sống với người vợ trước. Cuộc sống
hạnh phúc gia đình chưa được bao lâu thì Adam Coopersmith
lại lâm bệnh Alzheimer. Trong tình trạng nửa tỉnh nửa mơ
Adam nhận được tin hội đồng Nobel tại Stochholm quyết
định trao giải Nobel y khoa cho mình. Vì không chịu nỗi
số phận quá sức tàn nhẫn, trong một giây phút chợt
tỉnh táo hiếm hoi, Adam Coopersmith đã quyết định tự
sát.
Đặc biệt nhất và cũng
là mục đích của „Cái Giá Vinh Quang“ là cô bé Isabele da
Costa. Isabele không phải là một cô bé gái nhỏ nhắn bình
thường mà lại là một thiên tài của thế kỷ. Thất vọng
vì không đạt được học vị Tiến sỹ vật lý, Da Costa cha
của cô bé Isabel đã bất chấp mọi hậu quả, bất chấp
phản đối từ gia đình, chấp nhận đỗ vỡ hôn nhân v.v… để
lèo lái, cưỡng ép lôi cô bé thần đồng 12 tuổi ra khỏi
vòng tay của Mẹ đưa vào đại học Standford xa nhà hàng
trăm cây số để theo đuổi ngành Vật lý. Da Costa chỉ muốn
đạt được một mục tiêu mà ông ta chỉ gặp được trong giấc
mơ đó là giải Nobel Vật Lý.
Ngoài những đêm ngày
ray rức nhớ Mẹ, nhớ người anh trai, nhớ bạn bè thân
thiết Isabel còn bị bắt buộc từ bỏ thú vui kéo đàn
Violine, đây là điều đau đớn nhất cho cô bé. Dưới mắt
của Da Costa tất cả mọi việc đều vô bổ, làm chia trí
không giúp cho Isabele tập trung trong việc học.
Người đọc phải thắt
tim xót ruột cùng Isabele khi vào tuổi dậy thì bắt đầu
có kinh nguyệt mà cô bé lại không biết thổ lộ cùng ai.
Mẹ quá xa, Cha lại rất nghiêm khắc.
Áp bức của Da Costa
dành cho Isabel dần dần cũng phải gia giảm khi tuổi đời
cô bé ngày càng cao. Dù là một thiên tài, ham học hỏi
nhưng Isabel cũng nhận ra, cô chỉ là một công cụ của Da
Costa để thỏa mãn ước vọng không tưởng của mình. Dù
biết ơn người cha đã dành suốt cuộc đời, hy sinh tất cả
cho tương lai sự nghiệp của cô, Isabel quyết định vùng
thoát để sống cuộc đời tự lập, dành lại tự do cần
phải có của một con người.
Cuối cùng, một Erich
Segal nhân hậu đã cho “Cái Giá Vinh Quang“ một “Happy
Ending“. Hai cha con chia tay nhau đẩm nước mắt khi Da Costa
chấp nhận ra đi để nhận một chức giảng nghiệm viên về
Vật Lý cho một đại học xa nhà cũng như Isabel trở thành
một Giáo sư Tiến sỹ Vật Lý tại Đại học MIT và cô đã
dành trọn những lời cám ơn cho Da Costa Cha của cô cũng
cùng hiện diện trong buổi lễ nhận giải Nobel Vật lý khi
Isabel được 24 tuổi.
Đọc „Cái Giá Vinh
Quang“ với một Isabel bị áp bức từ người Cha làm người
ta không thể không liên tưởng đến hàng vạn Isabel hiện nay
tại Việt Nam. Người ta còn có thể hiểu được vì tư chất
thông minh khác người mà Isabel của Erich Segal bị Cha ép
buộc học, ép buộc từ bỏ mọi thứ để đạt được những
gì ông ta mong muốn. Hàng vạn „Isabel hiện nay tại Việt
Nam“ lại là khác. Chúng cũng chẳng có gì đặc biệt hơn
người mà lại bị dày vò, áp lực bắc buột phải học.
Phải nói „Những Isabel Việt Nam“ là những máy học. Mới
2, 3 tuổi cũng bị bắt buộc học. Học luyện thi để vào
mẫu giáo. Học luyện thi để vào tiểu học, vào trung
học, học thêm ngoài giờ để được lên lớp…
Trẻ con ngày nay không
còn cảnh đi học về vất cặp lên bàn để ra xóm tụ họp
đánh thẻ, nhảy dây, đánh bi đánh đáo. Không còn những
buổi chiều thanh thản lội bơi qua sông, quần nhau trên sân
bóng đá. Chúng không còn náo nức một mùa hè được về
quê ngoại để lang thang trên những cánh đồng xanh mướt,
tát nước bắt cá v.v… để rồi nôn nao nhớ trường nhớ bạn
trông hè qua mau chờ đón ngày tựu trường trở lại. Trẻ
con ngày nay, ngày nào cũng là ngày học. Bị áp lực từ
gia đình, từ xã hội, từ học đường, chúng bị buộc học
để chạy theo quy định của nhà trường, để Cha Mẹ vui, để
thỏa mãn những gì mà Cha Mẹ chúng ước mong mà không
đạt được và cũng để Thầy Cô Giáo có thêm cơ hội kiếm
thêm tiền.
Không gì nghịch lý hơn
khi người lớn tỏ ra thấm mệt sau một ngày với 8 tiếng
đồng hồ lao động trí óc hay tay chân mà trẻ nhỏ phải
học hành liên tục với 12 tiếng đồng hồ hoặc nhiều hơn
nữa (Tính trung bình mỗi ngày có 5 giờ học ở trường, 4
giờ học luyện thêm, và tối thiểu 3 giờ vào buổi tối
để làm bài vở ở trường). Cho một tương lai tươi sáng
hơn? Một sự sáng sủa ở cuối con đường nhọc nhằn đèn sách? hoặc
rằng để hơn con nhà hàng xóm? v.v…Dù có biện minh gì
chăng nữa, người ta cũng không thể chấp nhận được lối
hành hạ trẻ con qua việc bắt buộc phải học như ngày
nay.
Hậu quả của việc ép
bức trẻ con phải học ngoài sức của chúng là tạo ra
một số học sinh giỏi đoạt giải quốc tế, đoạt nhiều học
bổng, thành công vượt bực tại các đại học quốc tế danh
tiếng. Tuy nhiên đây chỉ là một con số rất nhỏ nhưng lại
được báo chí thổi phồng lên.
Con số 114.000 học sinh
hiện đang bỏ học cũng là một hệ quả tất yếu cho lối
giáo dục áp bức hiện nay. Chán ngán lề lối giáo dục
cộng thêm nghèo khó không đủ khả năng chạy đua theo lối
học thêm ngoài giờ bất tận, trẻ em dể dàng buông xuôi.
Nghèo khó không chỉ xảy ra ngày hôm nay nhưng là chuyện
đã xảy ra từ hàng thập niên kỷ trước. Nghèo khó và
chiến tranh đã không tạo nên hiện tượng bỏ học đến mức
báo động như ngày hôm nay. 114.000 học sinh bỏ học trên
toàn quốc hiện nay là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy
trẻ em hiện nay không tìm thấy niềm háo hức, niềm vui
trong việc học. Học đường không còn là thiên đường của
tuổi thơ mà nay đã biến thành nơi chốn để kèn cựa tranh
giành không lành mạnh.
Thật là điều không
phải khi đem nền giáo dục Việt nam so sánh với một nước
Tây Âu nhưng thiết nghĩ cũng sẽ không sai lầm khi chúng ta
phóng cái nhìn vào lối sinh hoạt của trẻ em tại Phần
Lan là nơi học sinh trung học 15 tuổi đã ba lần xếp hạng
đầu khi thi chung với 57 quốc gia khác. Bài báo „What
Makes Finnish Kids So Smart? „ đăng trên tạp chí Wall Street
Journal vào ngày 29.02.08
cho thấy các học sinh trung học ở Phần Lan mỗi tối mất không
tới nửa giờ để làm bài tập về nhà. Không có loại lớp chuyên,
lớp chọn. Chính vì không phải cạnh tranh để vào những trường
điểm đã cho phép học sinh Phần Lan được hưởng một tuổi thơ ít bị
áp lực hơn. Các nhà giáo dục của Phần Lan thì tin rằng thành
tích trung bình của họ cao hơn là vì tập trung cho các học sinh
yếu chứ không phải là chăm lo cho các học sinh giỏi để chúng
vượt hẳn lên các bạn khác. Ngoài ra Học sinh Phần Lan hầu như
không bị áp lực phải vào được các trường đại học hàng đầu và
cũng không phải lo lắng phải trả học phí cao để vào được những
trường danh tiếng nhất. Giáo dục là miễn phí. Một giáo viên
tại Phần Lan đã kể một câu chuyện mà đa số giáo chức
ở nước ta khó lòng chấp nhận:“ Vào một buổi chiều gần
đây trong một lớp học toán ở trường ông, có một học sinh ngủ gục
trên bàn. Giáo viên đã để yên cho em ngủ. “Ngủ trong lớp dù
không thể tha thứ nhưng chúng tôi phải chấp nhận thực tế rằng
chúng là những đứa trẻ và chúng đang học cách sống”.
Không chỉ về mặt
tinh thần mà hiệu quả của lối giáo dục gò bó cưỡng ép
cũng làm cho những người có suy tư về tương lai của đất
nước cũng phải lo lắng. Hãy lắng nghe tâm sự của cô
Nguyễn Kiều Liên, một tiến sĩ trẻ tuổi nhất
của Việt Nam tốt nghiệp tại đại học Cambridge , Anh quốc
vào lúc 24 tuổi
: “ Đã có quá nhiều người tâm huyết với
giáo dục Việt Nam nói về vấn đề này và tôi đồng ý với hầu hết
những ý kiến đó. Đúng là nền giáo dục ở Việt Nam còn nhiều nhược
điểm quá. Tôi biết có thể nhiều người sẽ nghĩ tôi học ở nước
ngoài nên nói thế, nhưng tôi nghĩ để đi lên được trước hết chúng
ta phải đánh giá chúng ta một cách trung thực. Vì yêu nước nên
tôi mới nói ra những điều này. Một trong những nhược điểm mà tôi
thấy buồn nhất là dường như giáo dục Việt Nam có mục đích đào
tạo ra những người chỉ biết vâng lời chứ không nhằm đào tạo ra
những người có tư duy độc lập và sáng tạo. Học sinh được dạy
nghe lời thầy cô giáo, lấy thầy cô giáo làm tấm gương chứ không
được khuyến khích tự suy nghĩ, không được phản kháng lại ý kiến
của thầy cô cũng như được khuyến khích để trở nên giỏi giang hơn
thầy cô…“ .
Những băn khoăn của
Nguyễn Kiều Liên càng được thấy rõ hơn ở khu vực đại
học. Theo một báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng Thế
giới (World Bank), trong năm 2006, cả hai trường đại học hàng
đầu của Việt Nam là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách
khoa Hà Nội chỉ có 34 công trình nghiên cứu được công bố và có
tên trong danh sách ISI (Viện Thông tin Khoa học Hoa Kỳ). Trong
lúc đó, trường Đại học Quốc gia Seoul
(Nam Hàn) có tổng cộng 4.556 công trình nghiên cứu khoa học, Đại
học Bắc Kinh cũng có gần 3.000 công trình nghiên
cứu. Cũng theo báo cáo này, trong năm 2006, Trung Quốc có đến
40.000 ứng dụng sáng chế trong lúc Việt Nam chỉ có 2 .
Để giải quyết khả năng
yếu kém sáng tạo, Bộ Giáo Dục Đào Tạo lại chuẩn
bị đưa ra một sáng kiến đầy đột phá… không tưởng. Một
mặt ông Nguyễn Thiện Nhân Bộ trưởng Bộ Giáo Dục
Đào Tạo đưa ra chỉ tiêu đến năm 2015 phải đào tạo được
20 000 Tiến sĩ , một mặt theo bà
Nguyễn Thị Lê Hương Phó Vụ trưởng Vụ Đại Học và Hậu Đại Học
thuộc Bộ Giáo Dục – Đào Tạo : „…Cụ thể, mỗi luận án phải
có ít nhất 1 bài báo đăng ở các tạp chí uy tín nước ngoài…“.
Đối với điều kiện học tập về tinh thần lẫn cơ sở vật
chất hiện nay (Theo
báo cáo thống kê mà Giáo Sư Đỗ Trần Cát, Tổng Thư
ký Hội đồng chức danh Giáo Sư
Nhà nước trình bày về khả năng sử dụng công nghệ thông
tin của các
Giáo Sư, Phó
Giáo Sư. Qua
khảo sát 360
Giáo Sư và
1.100 Phó
Giáo Sư, còn
tới 30,3%
Giáo Sư, 28,5% Phó
Giáo Sư
không dùng máy vi tính. Và chỉ có 41,7%
Giáo Sư; 53,3%
Phó
Giáo Sư sử
dụng internet), đây lại là một đòi hỏi áp đặt mang tính
hoang tưởng. Chỉ cần so sánh con số Giáo Sư và số Tiến
sĩ tại Đại học Quốc gia Hà Nội có một đội ngũ cán bộ đông
đảo có uy tín và trình độ cao, với 2503 cán bộ, trong đó có 1548
cán bộ giảng dạy bao gồm 108 giáo sư, 249 phó giáo sư, 49 tiến
sĩ khoa học, 463 tiến sĩ và 477 thạc sĩ
và
tại Đại học Bách khoa Hà Nội với 1192 giảng viên và 394 cán
bộ phục vụ giảng dạy và Nghiên cứu Khoa Học. Nhà giáo nhân dân
và Nhà giáo ưu tú:
154, Viện sỹ:
3,
Giáo
sư và
Phó
giáo sư:
399, Tiến sỹ
khoa học và Tiến sỹ: 703, Thạc sỹ: 1200
với
34 công trình nghiên cứu,
2
ứng dụng sáng chế
trong năm được công bố cho thấy
trong khi các Thầy Giáo Sư hướng dẫn còn chưa làm được
thì thử hỏi, tại sao phải đẩy phần trách nhiệm khó khăn đó về
cho Trò là các Nghiên Cứu Sinh?
Tính theo chỉ tiêu ông
Nguyễn Thiện Nhân đưa ra và theo đòi hỏi của bà Nguyễn
Thị Lê Hương như đã nhắc đến ở phần trên, mỗi năm các Trò
Nghiên Cứu Sinh phải công bố tối thiểu 2000 bài báo được
đăng ở các tạp chí uy tín nước ngoài. Thử hỏi bà
Nguyễn Thị Lê Hương có bao giờ tìm hiểu với một nước có
điều kiện cơ sỡ vật chất như là Cộng Hòa Liên Bang Đức,
có dân số tương đương như Việt Nam, mỗi năm có bao nhiêu
Nghiên Cứu Sinh
có bài báo được đăng trên các tạp chí uy tín quốc tế ?
Bệnh chạy đua theo
thành tích, vội vã áp đặt những chỉ tiêu, chương trình,
lý thuyết viễn vông hoang tưởng v.v… xem ra là con bệnh khó chạy
chữa trong ngành giáo dục hiện nay!
Với tiểu thuyết, Erich
Segal dễ dàng tạo nên một kết cuộc „có hậu“ cho Isabel
và Cha của cô, nhưng với thực tế của xã hội, của nền
giáo dục ngày nay người ta khó tìm thấy một câu trả
lời toàn vẹn cho hàng vạn „Isabel Việt Nam“. Tuy nhiên
điều mọi người đồng chấp nhận, mục đích giáo dục là
để tạo ra những con người có tư duy độc lập và sáng
tạo. Điều kiện ắt có và đủ cho Sáng Tạo là Mộng Mơ
như nhà bác học Albert Einstein đã từng nói. Để đạt
được điều kiện ắt có và đủ này, những bậc sinh thành,
những nhà giáo dục hãy để cho trẻ con có đủ thì giờ
thả hồn theo những cánh diều trên cánh đồng thơm mùi
lúa chín để bay đến một tương lai tươi sáng. Hãy tháo
những đôi cùm nặng nề mà người lớn tự áp đặt trên
những bờ vai gầy guộc của trẻ nhỏ để trả lại cho
chúng những gì đang bị cướp mất: Thế giới hồn nhiên mộng
mơ của tuổi thơ.
Phương Tôn
Tháng 3/2008
Trở về Trang Chính |