|
Khi
doanh gia đọc sách Phật là cốt tìm sự lắng đọng trong tâm hồn.
Không ngờ từ những giờ phút bình yên này lại nhận biết thêm
nhiều điều mới mẻ, sâu sắc… Quả là đạo Phật có sức
dẫn dụ lòng người, kể cả những
người quanh năm bận rộn mua và bán.
Sách Phật viết
rằng: có một bài kinh do Đức Phật dạy cho đại thương gia
Anàthappindika nói về bốn niềm hạnh phúc an lạc của doanh gia:
lạc sở hữu, lạc thụ dụng, lạc không mắc nợ và lạc không phạm
tội. Đọc đến đầy nhiều người trong giới khinh doanh không
khỏi ngạc nhiên: Đức Phật chưa từng hoạt động kinh doanh, thế mà
trong hằng hà sa số niềm hoan lạc của con người lại chắt lọc
được đúng “tứ lạc” của doanh gia mà cho mãi đến giờ vẫn còn
nguyên giá trị.
Thêm
nữa, cũng từ bài Đức Phật dạy đại thương gia Anàthappindika,
giới kinh doanh còn phát hiện, nhận thức của con người vào thời
đại đó có nhiều điểm tiến bộ hơn bây giờ, như: khẳng định quyền
sở hữu của doanh gia, nghiệp chủ. Những quan điểm mà gần ba ngàn
năm sau thế giới vẫn chưa tìm được sự đồng thuận. Trong hương vị
của tách trà vào những ngày mừng Phật Đản 2552, chúng ta hãy
cùng chiêm nghiệm niềm lạc được Đức Phật nêu lên hàng đầu trong
tứ lạc của doanh gia: Lạc sở hữu
Giả
định, có ai đó cầm lòng không được, buột miệng vỗ vai nhắc nhở
doanh gia: Anh (chị) kiếm thêm tiền nữa để làm gì, không biết
thế nào là “đủ” sao? Có thể, người hỏi sẽ nhận một câu trả lời
rất tỉnh táo như sau: “Kinh doanh với chúng tôi là một cái
nghiệp (không phải nghề), cũng như bác sĩ thì phải điều trị, nhà
giáo thì phải dạy học, doanh gia thì phải kinh doanh, vậy”.
Doanh gia tư duy rằng: nếu bác sĩ chỉ vào số bệnh nhân đã điều
trị để hãnh diện, nhà giáo nhìn số học sinh mình dạy để vui
sướng, thì doanh nhân sẽ đếm vật sở hữu để tự hào. Đó là vì họ
đi tìm kiếm niềm lạc
trong sở hữu. Với doanh gia, sở hữu càng nhiều thì lạc càng cao!
Chính
nỗi khát khao, niềm đam mê sở hữu ngày một nhiều đã trở thành
động lực thúc đẩy giới kinh doanh không ngừng mở rộng các loại
hình đầu tư, kinh doanh, sản xuất. Nhiều khi vì trách nhiệm với
doanh nghiệp, cộng đồng, đất nước, mà họ chấp nhận đương đầu với
những cam go ở chốn thương trường, đôi khi quên cả hưởng thụ bản
thân. Trên đường tìm kiếm, tích lũy vật sở hữu một cách
chính đáng, các doanh gia luôn ý thức hướng “lạc” của
riêng mình hòa quyện vào hạnh phúc chung của cộng đồng và thịnh
vượng chung của dân tộc; vì thế họ được xã hội tôn vinh. Niềm an
lạc của doanh gia được nhân lên gấp bội.
Ngay
từ thời kinh tế mới manh nha thì sự văn minh, giàu có, thịnh
vượng của nhiều bộ tộc, nhiều quốc gia đã có sự tham gia của
giới doanh gia, nghiệp chủ. Ngày nay, trong thời toàn cầu hóa,
sự hưng thịnh của nền kinh tế, tiến bộ khoa học - công nghệ và
cả tiến bộ xã hội cũng không thể thiếu sự đóng góp quan trọng
của giới này với nhiều tư cách: lúc giữ vai trò quyết định trên
mặt trận kinh tế, khi giữ vai trò xúc tác giữa các giới khác
nhau trong xã hội, và thường xuyên chung vai, hỗ trợ, chia sẻ
với Nhà nước, nhất là vào những thời điểm kinh tế chật vật, khó
khăn. Lạc sở hữu như thế thật đáng trân trọng.
Tuy
vậy, muốn được lạc từ sở hữu không hề đơn giản, vì nếu niềm lạc
mà đạt được dễ dàng như nhặt một cái lá rơi thì chẳng còn là
“lạc” nữa. Thương trường rất khe khắt, kén chọn người tham gia.
Hiện nay số người được hưởng lạc từ sở hữu ở nước ta, so với các
nước bạn, chưa phải là nhiều. Nhằm khuyến khích tầng lớp doanh
nhân nhân lên gấp bội trong thời gian tới, Nhà nước cần sớm công
nhận trọn vẹn quyền sở hữu để họ yên tâm làm giàu cho mình và
cho đất nước. Không nên để một ai còn mang tâm trạng nghi ngại,
e dè “có phải đang vỗ béo để làm thịt?”. Có như thế, giới kinh
doanh mới dốc hết của cải, tâm
lực ra để mong được lạc sở hữu một cách đàng hoàng, công khai,
minh bạch.
Thế
nhưng, trong xã hội không phải ai ai cũng tìm thấy niềm vui và
hạnh phúc trong lạc sở hữu, vì nhiều lẽ: có người chỉ thích “lạc
công hữu” - có thể vì nó giống “chùm khế ngọt” (?). Có người dị
ứng với lạc sở hữu vì cho nó là nguồn gốc gây ra phân hóa giàu
nghèo. Thậm chí có người cho sở hữu là nghiệp chướng, tai ương,
không phải “lạc”, nên bỏ chốn phồn hoa chống gậy “lên non tìm
động hoa vàng”. Cũng có người nhìn lạc sở hữu rất khắt khe; theo
họ, nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra chiến tranh, kỳ thị,
tha hóa, lũng đoạn… cũng từ lòng ham muốn chiếm hữu.
Đương
nhiên, “lạc” của giới này chưa hẳn là “lạc” của giới kia, như
thế mới là lẽ tự nhiên của cuộc sống. Biết vậy, chúng ta phải
cùng nhau trân trọng niềm lạc của từng giới, từng người; sẵn
lòng bớt lạc của mình để nhường chỗ cho một lạc đồng thuận
chung. Đừng bao giờ vì niềm lạc của riêng mình mà xâm phạm nỗi
lạc của người khác. Càng không nên vì “lạc” một người, một nhóm
mà vi phạm đạo đức, pháp luật, gây thương tổn cho cả cộng đồng.
Nhưng cũng đừng ai nuôi mộng áp đặt người khác phải “lạc” theo
kiểu của mình (cho dù rất thiện ý), và cũng đừng tìm cách tước
đoạt hoặc không thừa nhận niềm lạc của nhau. Nếu được vậy, cuộc
sống sẽ “cực kỳ lạc”!
Sau
cùng, điều làm cho giới kinh doanh trăn trở, nghĩ suy lại chính
là Đức Phật. Ngài nhận biết tỏ tường niềm hạnh phúc an lạc từ
lạc sở hữu cớ sao lại thanh thản rũ bỏ nhiều thứ đang sở hữu để
đi tu? Phải chăng trên cõi đời
này còn rất nhiều điều lớn lao hơn lạc sở hữu mà doanh gia không
phải ai cũng đủ đức độ để ngộ?
Phật lịch2552
Tạ Thị Ngọc Thảo
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về:
tathingocthao@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|