|
Vai trò của văn hóa trước khi
khoa học phát triển.
Mấy
ngàn năm về trước, lúc con người còn sống trong những bộ lạc,
văn hóa bắt nguồn từ những buổi hội họp các gia đình chung quanh
lửa trại. Những người trong bộ lạc truyền cho nhau những kinh
nghiệm họ tin tưởng giúp ích cho cuộc sống của đoàn thể. Những
hành động nào không có lợi cho sự sống còn của đoàn thể được
liệt vào taboo (hành động tối kỵ). Những thành viên có hành động
taboo sẽ bị tù trưởng xử tội. Người đó có thể bị án tử hình hay
bị đuổi ra khỏi bộ lạc.
Văn
hóa là những gì một nhóm người tin. Những điều tin tưởng đó đôi
khi không có căn bản khoa học. Có thể nói văn hóa là sự tin
tưởng vào một tập hợp hành động hay cử chỉ nào đó được đoàn thể
cho là đúng hay sai. Thí dụ như khi nói chuyện ta nhìn thẳng vào
mặt người khác được coi là bất lịch sự ở văn hóa Á Châu. Ngược
lại, ở văn hóa Tây Phương thì nhìn thẳng mặt là điều cần thiết
để chứng tỏ lòng thành thật của mình. Văn hóa khác với tôn giáo
ở chỗ tuy là một nhóm người tin cùng một điều như nhau nhưng mục
tiêu của văn hóa là cuộc sống hàng ngày trong lãnh vực gia đình
và xã hội chớ không đề cập đến tâm linh.
Văn
hóa là những gì đứa trẻ học qua gia đình và xã hội từ nhỏ. Cái
nhìn xuyên qua lăng kính của văn hóa sẽ dần dần biến thành “sự
thật”. Trở lại thí dụ trên, “sự thật” của người có văn hóa Ðông
Phương là người đối diện với mình thật vô lễ khi họ nhìn thẳng
vào mặt mình làm mình rất khó chịu. Nhưng khi ta sống ở văn hóa
Tây Phương thì cái “sự thật” này sẽ không còn giá trị nửa. Nói
một cách khác giá trị của văn hóa bị giới hạn trong một nhóm
người chấp nhận, tin và lưu truyền những giá trị đó.
Chức
năng của văn hóa là một loại “ngôn ngữ ” của hành động giúp
những quan hệ con người trong cùng một xã hội trở thành đơn
giản. Thí dụ như khi gặp gỡ một người xa lạ ta chìa bàn tay ra
để bắt tay họ. Chìa tay ra được hiểu là một hành động thân thiện
mà không cần giải thích dài dòng qua lời nói. Hành động đó được
nhóm người trong cùng văn hóa hiểu một cách như nhau như là một
dấu hiệu thân thiện chớ không phải là dấu hiệu sỗ sàng hay muốn
tấn công họ. Tuy nhiên một số phụ nữ Á Châu quen với quan niệm
“nam nữ thọ thọ bất thân” rất e ngại khi bắt tay người khác
phái.
Nếu ta
không thấy được sự tương đối của văn hóa thì sẽ rất khó chịu khi
ta là người tị nạn phải sinh sống và giao thiệp hàng ngày với
người khác văn hóa của ta. Ðây cũng là nguồn gốc của biết bao
nhiêu xung đột gia đình (familial conflict) khi phụ huynh bắt
con em mình hoàn toàn theo văn hóa chính gốc của mình, trong lúc
đứa nhỏ bị áp lực của bạn bè (peer pressure) để theo những phong
tục của dân bản xứ, nơi mà nó hiện sinh sống.
Văn hóa và chính trị.
Khi xã hội phát triển phức tạp hơn,
những bộ lạc sống chung với nhau tạo thành xã hội. Chính trị là
những giải pháp để cai trị một số đông người. Nói một cách đơn
giản, những khác biệt của những đường lối chính trị là ở mức độ
của đa số (quần chúng) có thể làm thay đổi guồng máy của xã hội
hay không. Ở những chế độ độc tài thì nhóm thiểu số cầm đầu và
nhóm đa số không có tiếng nói trong guồng máy chính trị phải
chịu sống khổ cực làm lợi cho nhóm thiểu số. Nếu họ lên tiếng
phản đối thì sẽ bị trừng phạt. Còn ở những chế độ dân chủ thì
nhóm đa số có nhiều quyền hành hơn và họ có thể bầu những người
họ tin tưởng để đại diện cho họ cầm quyền.
Khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam ta
thấy rằng nước ta bị lâm vào trường hợp đầu tiên nhiều hơn. Khi
người dân không có quyền quyết định cho tương lai của họ thì
cách chọn lựa duy nhứt của họ là chịu đựng để cố gắng đáp ứng
với hoàn cảnh khó khăn chung quanh. Những quan niệm khuyến khích
người dân chịu đựng sẽ được dễ thâu nhập vào văn hóa. Những điểm
đáng lưu ý của văn hóa Á Châu mà ta thấy được là quan niệm về
“định mệnh an bài”, ta phải chịu đựng “trả nghiệp” chừng nào hết
“nghiệp” thì ta mới sung sướng được, ta phải cần cù làm việc,
lười biếng sẽ bị “làng xóm chê cười” hay “ông bà cha mẹ ăn ở
hiền lành để đức lại cho con cháu” (mặc dù trong cuộc sống hiện
tại ông bà hay cha mẹ chưa hưởng đức được).
Có thể
nhóm thiểu số cai trị đa số muốn dân chúng tin vào định mệnh để
tránh những cuộc nổi loạn. Cũng nên nhắc lại, vào thời đó nhóm
đa số không có phương tiện học cao hiểu rộng như nhóm thiểu số
nên những quan niệm trên dễ phổ biến trong quần chúng. Những
quan niệm đó có thể được rút ra từ tư tưởng Phật giáo và Lão tử
giáo đã từng thịnh hành trong xã hội phong kiến thời xưa. Những
tư tưởng Phật giáo và Lão giáo được biến đổi và bình dân hóa khi
đem vào đời sống hàng ngày để phù hợp với nếp sống thời đó. Sau
đó đạo Công giáo được gia nhập vào Việt Nam và một số tín đồ
thường tin rằng: “Chúa/Ơn Trên đã xếp đặt cuộc đời của ta”. Vào
thời điểm đó các thông tin khoa học rất hiếm, chưa có những thí
nghiệm kiểm chứng và cũng không có internet như thời nay. Chỉ có
một cách duy nhứt lưu truyền kiến thức là bằng miệng.
Dần
dần những tư tưởng trên bị thấm nhuần vào tiềm thức dân tộc lúc
nào không ai hay khi những quan niệm đó được cha mẹ truyền dạy
cho con cái từ thế hệ này qua thế hệ kia như là một “sự thật”
không chối cãi được. Ðầu óc suy luận của trẻ em chưa được phát
triển nên chúng dễ thâu nhập những gì phụ huynh tin là đúng.
Những quan niệm đó dần dần được trở thành “sự thật” của văn hóa
Việt Nam. Cái hữu dụng của chúng là giúp dân gian chịu đựng đời
sống khổ cực, xoa dịu phần nào nỗi khổ của người dân sống trong
một chế độ bất công, làm nhiều hưởng ít. Ngoài ra nước ta còn có
chiến tranh xảy ra triền miên kèm theo những nỗi khổ của chết
chốc và mất mát nửa, cho nên “chịu đựng” là một cách đáp ứng với
cuộc sống.
So sánh với văn hóa Tây Phương
Khác với văn hóa Ðông Phương đề cao
tinh thần tập thể, phải nể trọng những người có quyền thế (Trời,
vua, cha, và chồng), văn hóa Tây Phương phóng khoáng hơn, đề cao
tinh thần cá nhân tự lập. Văn hóa Tây Phương còn đề cao sư hiểu
biết khoa học và lý luận. Trong học đường học trò có quyền lý
luận với ông thầy để chứng minh lập luận của mình đúng. Học sinh
không bị bắt buộc phải hoàn toàn nghe theo ý ông thầy mình mà
được khuyến khích phát triển những ý nghĩ mới mẻ. Trong y khoa,
người bịnh nhân có quyền hạch hỏi cách trị bịnh của bác sĩ, tìm
hiểu về căn bịnh của mình và những loại thuốc mình uống.
Cái khó khăn của người chuyển từ văn
hóa này sang văn hóa kia là ngoài sự khác biệt ngôn ngữ hay màu
da, họ gặp rất nhiều khó khăn về tình cảm khi cái “sự thật” của
họ không đáp ứng được với “sự thật” của dân bản xứ. Nói một cách
khác những giá trị hay phong tục mà họ cho là đúng không được xã
hội mới hoàn toàn chấp nhận. Họ cảm thấy bị cô lập và đôi khi có
cảm tưởng rằng họ bị phân biệt chủng tộc, không được người dân
bản xứ tôn trọng. Những hiểu lầm đáng tiếc thường hay xảy ra
khiến sự hội nhập xã hội rất khó khăn. Thí dụ là khi người đó đi
phỏng vấn tìm việc làm, không nhìn thẳng mặt ông chủ sở và bị
hiểu lầm là không thành thật nên không được nhận.
Những chi tiết khác biệt của phong
tục mới nhìn không đáng kể nhưng sẽ đem lại hậu quả không tốt
cho người nhập cư (immigrant). Cái khó khăn là ít có ai nhận ra
những khác biệt này vì những hành động và ý nghĩa của phong tục
được coi là tự nhiên. Chúng ta đã học từ nhỏ những phong tục đó
và chúng trở thành một thói quen (second nature). Ông A không
nhìn mặt ông chủ là một hành động tự nhiên chứng tỏ sự lễ độ mà
có thể ông ta không ý thức được, diều ông ta ý thức là cảm giác
khó chịu khi nhìn thẳng mặt ông chủ. Cũng có thể ông chủ sở
quyết định không mướn ông A vì cảm giác chung về ông A không
tốt, chớ ông ta cũng không ý thức được là vì lý do ông A tránh
nhìn thẳng mặt mình.
Chính vì thế học hỏi về văn hóa người
bản xứ có tầm quan trọng không kém gì học ngôn ngữ mới. Nó giúp
ta tránh được những mâu thuẫn trong xã hội. Ngoài ra ta cũng
tránh được phần nào mâu thuẫn trong gia đình khi phải đối diện
với những khó khăn trong việc giáo dục con cái. Khi ta hiểu được
cả hai văn hóa thì ta có nhiều điểm tựa hơn trong việc giáo dục
con cái. Ta dễ tìm đến biện pháp dàn xếp bằng cách thỏa hiệp
(compromise). Con cái ta dễ nghe lời ta hơn vì ta thông cảm và
hiểu được phần nào nếp sống của chúng.
Văn hóa và bịnh tâm thần.
Thuở xưa người ta tin rằng con người
có thể làm chủ hoàn toàn hành động và suy nghĩ của mình bằng ý
chí (will). Người “quân tử ” là người tốt có thể khuất phục được
những tình cảm “nhỏ mọn” như ganh tị, giận dữ, hay tham lam. Kẻ
“tiểu nhân” là người theo những đòi hỏi hèn hạ của bản năng
không làm chủ được chính mình. Nhà triết gia Pháp Descarte
(1596-1650) đã từng nói: Je pense donc je suis (tôi suy nghĩ tức
là tôi hiện diện). Triết lý của ông ta là suy luận có thể dẫn
đến chân lý. Cái quan niệm khoa học thời đó là con người hoàn
toàn làm chủ được suy nghĩ và hành động của mình qua khả năng
suy luận và qua ý chí.
Quan niệm này tồn tại một thời gian
đến khi nhà phân tâm học Freud (1856- 1939) phát hiện ra con
người có tiềm thức (id, unconscious). Con người không phải lúc
nào cũng làm chủ được những dục vọng của mình. Ðôi khi họ còn
tìm cách tự lừa dối mình để thỏa mãn những dục vọng của mình.
Thí dụ như đổ thừa cho người khác dụ dỗ mình hay lừa gạt mình
(projection). Họ còn dùng lý trí để biện hộ cho dục vọng của
mình (rationalization). Ða số không ý thức được những phản ứng
tâm lý đó mà phải qua nhiều khóa (session) phân tích tâm lý mới
nhận ra. Nói tóm lại tình cảm núp bóng dưới lý trí điều khiển
cuộc đời con người mà ít người nhận ra được. Cũng vì thế mà tánh
tình rất khó thay đổi bằng lý trí. Ta hiểu được mà không thực
hành được. Nếu điều ngược lại là sự thật (lý trí lèo lái tình
cảm) thì trên thế giới này sẽ ít có chiến tranh. Hiện nay điều
duy nhứt ngăn cản thế chiến không phải là lý trí mà chính là sự
lo sợ chết chốc hàng loạt do vũ khí nguyên tử gây ra.
Bịnh
tâm thần là những căn bịnh mà bịnh nhân có những suy nghĩ hay
hành động bất bình thường. Gia đình Á Châu thường rất hổ thẹn
với những hành động này. Gia đình thường la rầy bịnh nhân vì
hiểu lầm là bịnh nhân không chịu dùng ý chí để thay đổi những
hành động bất bình thường. Mặt khác phụ huynh rất hổ thẹn
(shame) vì họ nghỉ rằng họ không dạy dỗ con cái đúng mức mới ra
nông nỗi này. Một số khác lại nghỉ rằng bịnh tâm thần là một tai
họa do gia đình ăn ở không phước đức, người con mới bị như vậy.
Gia đình thường giấu người bịnh tâm thần trong nhà vì sợ “làng
xóm chê cười”. Thông thường họ chỉ đem bịnh nhân đi khám bác sĩ
khi bịnh nhân có những hành động đập phá nhà cửa.
Bịnh tâm thần trở thành một điều kỵ
(stigma) trong xã hội. Xã hội có thành kiến với những người bị
bịnh tâm thần vì nhóm người này không có những hành động và suy
nghĩ bình thường mà xã hội mong đợi. Thông thường những gì khác
lạ thường bị xã hội không chấp nhận vì nó hay mang tính chất
nguy hiểm. Bịnh nhân còn làm rối loạn cái trật tự mà văn hóa đặt
ra. Những triệu chứng bịnh tâm thần rất khó được kềm chế khi
bịnh không được trị liệu. Thí dụ như người bịnh tâm thần hỗn
xược với gia đình, không chịu tắm rửa, không gìn giữ ý tứ khi đi
ra ngoài đường. Ðiều này gây rất nhiều khó khăn vì văn hóa Ðông
Phương đề cao việc cá nhân phải là một thành viên tốt của gia
đình và xã hội. Khi thành viên không làm được phận sự của mình
thì những người có bổn phận đầu tiên giáo dục thành viên đó (tức
là gia đình) bị khiển trách.
Những hiểu biết mới về bịnh tâm
thần.
Chỉ khoảng 5 năm trở lại gần đầy, với
sự phát triển của ngành quang tuyến neuroimaging, dùng những kỹ
thuật hiện đại như fMRI, PET scan để quan sát những hoạt động
của não bộ, các khoa học gia mới hiểu nhiều hơn về cơ chế hoạt
động của tâm lý và triệu chứng của những bịnh tâm thần. Nói
chung, hầu hết những bịnh tâm thần có cơ sở sinh lý liên quan
đến sự mất cân bằng những hóa chất trong não bộ
(neurotransmitter).
Ngày
nay khoa học hiểu rằng Serotonin bị mất quân bình gây ra bịnh
trầm cảm (depression), Dopamine hoạt động quá độ ở bịnh tâm thần
phân liệt (schizophrenia), Acetylcholine không hoạt động đúng
mức ở bịnh lãng trí Alzheimer. Khi ta dùng thuốc điều hòa những
hóa chất trên thì triệu chứng bịnh tâm thần được thuyên giảm.
Sau khi được điều trị và khi chụp hình trở lại thì ta thấy có sự
biến đổi ở hình chụp. Rất tiếc là những kỹ thuật chụp hình kể
trên còn rất mới và cần được điều chỉnh nên chưa được áp dụng
một cách rộng rãi trong việc chẩn đoán và trị bịnh.
Ðiều quan trọng nửa là chúng ta
thường có những quan niệm sai lầm về “tánh tình” của người bịnh
tâm thần. Thí dụ như ở bịnh trầm cảm, người bịnh được cho là có
“tánh tình lười biếng, không năng động”. Ít người hiểu rằng bịnh
nhân hết sức cố gắng nhưng không thể nào vượt qua được cảm giác
chán chường nặng nề do bịnh gây ra. Nhưng khi uống thuốc và bịnh
thuyên giảm rồi, mặc dù vẫn còn uể oải trong người nhưng họ có
khả năng vượt qua khỏi sự thụ động và bắt đầu tham gia vào sinh
hoạt gia đình và xã hội. Như thế cũng oan cho bịnh nhân nếu ta
gán cho họ những “tánh xấu” mà thật sự đó là những triệu chứng
của bịnh. Những triệu chứng này sẽ biến đổi một cách tốt đẹp khi
trị liệu đúng mức.
Khác với sự lo lắng của nhiều người,
thuốc tâm thần không có khả năng biến đổi tánh tình bịnh nhân
trở thành một người khác lạ. Những loại thuốc này chỉ có khả
năng làm giảm triệu chứng bịnh giúp bịnh nhân thoát khỏi cơn
bịnh. Khi hết bịnh, họ sẽ được tự do chọn lựa hướng đi cho cuộc
sống mình. Tâm lý trị liệu kèm với trị liệu thuốc men giúp bịnh
nhân hồi phục nhanh hơn. Tâm lý trị liệu đóng vai trò rất quan
trọng trong việc giúp đỡ bịnh nhân bỏ những thói quen xấu do cơn
bịnh gây ra và giúp họ chọn những quyết định đúng đắn cho cuộc
sống mình. Tôn giáo cũng đóng một vai trò quan trọng giúp bịnh
nhân phát triển đời sống tâm linh để tìm hạnh phúc trong cuộc
sống.
Tóm lại
Lúc mà khoa học chưa phát triển hoặc
những phương tiện truyền thông chưa có, văn hóa đóng vai trò rất
quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức và cách cư xử đúng
đắn (phong tục). Vai trò của văn hóa là giữ trật tự trong gia
đình và xã hội. Những kiến thức văn hóa giúp phụ huynh ở các thế
hệ trước dạy dỗ con cái. Vào cuối thế kỷ 20 và thế kỷ 21, hệ
thống truyền thông qua internet và qua vệ tinh phát triển vượt
bực. Kiến thức thay đổi rất nhanh, kèm theo đó những sản phẩm
khoa học của xã hội thay đổi một cách chóng mặt. Sự đổi mới này
như một cuồng phong làm những phong tục và những gì thế hệ trước
tin tưởng biến đổi một cách nhanh chóng. Những quan niệm về tính
tình và tâm lý cũng theo đó mà thay đổi.
Sự hiểu biết chín chắn về bịnh tâm
thần là một điều cần thiết trong xã hôi tân thời. Bịnh tâm thần
không khác gì bịnh thể xác, có nền tảng sinh lý là sự mất quân
bình các hóa chất tiết ra ở não bộ. Sự khác biệt là bịnh tâm
thần ảnh hưởng cách suy nghĩ và hành động của bịnh nhân nên đã
tạo nhiều hiểu lầm. Khi bịnh này xảy ra cho những người ở trong
một xã hội đề cao trật tự và phận sự thì bịnh nhân sẽ mắc phải
nhiều thành kiến của gia đình và xã hội. Những thành kiến này
ngăn cản căn bịnh được trị liệu đúng mức. Hơn bao giờ hết sự
giáo dục quần chúng về sức khỏe tâm thần rất quan trọng vì đa số
bịnh tâm thần đều có thể trị được bằng thuốc men và tâm lý trị
liệu. Khi bịnh tâm thần không được điều trị, chẳng những gây
căng thẳng cho bịnh nhân mà còn cho cả những người sống chung
quanh bịnh nhân nửa.
Bác Sĩ Thái Minh Trung
Associate Professor of Psychiatry, University of California,
Irvine
Trở về Trang Chính
|