|
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Dó bầu còn có tên là cây Trầm
hương, tên khoa học là Aquilaria crassna Pierre thuộc họ
Trầm hương (Thymeleaae), bộ Trầm hương (Thymeleales),
phân bố trong rừng tự nhiên ở các tỉnh miền Trung và miền Nam,
nhiều nhất là Gia Lai, Kon Tum, Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều
ở Phú Quốc, Hòn Chông - Kiên Giang và vùng đồi núi An Giang. Do
đặc tính quí hiếm của loài cây là tìm trầm trong thân cây, một
vùng gỗ bị tụ nhựa và có tỉ trọng nặng hơn tỉ trọng nước nên
chìm trong nước gọi là trầm kỳ, từ đặc tính qúi hiếm nên người
ta đã săn lùng hầu hết các vùng rừng tự nhiên để tìm trầm và
kết qủa tất cả các cây đều bị chặt nhỏ dẫn đến có nguy cơ tuyệt
chủng. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì đây là loài cây
có gía trị kinh tế rất cao và việc tìm trầm trong cây tự nhiên
khó khăn vì tỉ lệ cây có trầm là rất nhỏ. Giá trị của trầm hương
tùy theo chất lượng mà 1kg biến động từ vài trăm USD đến vài
ngàn USD và ngày càng hiếm trên thị trường vì trong rừng tự
nhiên đã bị săn lùng và khai thác đến cạn kiệt. Chính lý do đó
việc tìm hiểu cơ chế tạo trầm từ thân cây trong tự nhiên là cơ
sở quan trọng để đề xuất biện pháp tạo trầm bằng phương pháp tác
động tự nhiên là rất cần thiết, qua phát hiện nguồn gen trong tự
nhiên có cơ chế tạo được trầm hương chúng ta sẽ thực hiện phương
pháp tác động cơ học tự nhiên mà không cần phải dùng đến hóa
chất hoặc các biện pháp làm bệnh thân cây sẽ làm ra được trầm
hương có nguồn gốc từ thiên nhiên. Nghiên cứu nầy được thực hiện
trên rừng giống 20 năm tuổi tại Phú Quốc - Kiên Giang, từ cơ sở
đó có những giải pháp sử dụng nguồn tài nguyên bền vững trên cơ
sở bảo tồn thiên nhiên rừng nhiệt đới trên vùng đảo phía Tây Nam
tổ quốc. Theo GSTS Đỗ Tầt Lợi (1977) trong tinh dầu trầm các
thành phần chủ yếu là benzylaceton C6H5CH2COCH3
26%, metozylaceton 53% và tecpen alcol 11%. Ngoài ra còn axit
xinamic và các dẫn xuất của nó là các hydrocarbon thơm rất có
gía trị. Điểm mới của đề tài nầy là :
- Điều tra 332 cây mẹ 20 năm tuổi có
mặt trong rừng giống, qua tính tóan sinh trưởng chọn ra 94 cây
mẹ có năng suất cao nhất về chiều cao, đường kính thân cây, hình
dạng thân cây, thể tích thân cây cao nhất.
- Tác động vào thân cây bằng phương
pháp cơ giới với số lần lập lại giống nhau, tiết diện và thể
tích của khối bị tác động nhỏ nhất, nếu khối tác động bị tụ nhựa
hình thành trầm với thể tích cao nhất thì được chọn lọc thành
dòng cây mẹ có nguồn gen qúi gía nhất để triển khai nhân giống
đại trà phục vụ xây dựng “vùng mỏ trầm hương” trên mặt đất.
- Không áp dụng phương pháp hóa học,
không dùng phương pháp cấy vi khuẩn và vi rus để tạo bệnh hại
cây tạo sự phản kháng tạo nhựa trong cây phương pháp nầy đã qua
chỉ tạo sự hình thành vết tụ bao bọc thân cây thể tích không
đáng kể nhưng là phương pháp cực đoan gây hại cho môi trường
không thể lường trước được hậu qủa.
- Xây dựng vùng nguyên liệu trầm
hương với thể tích tụ trầm cao nhất trong thân cây theo mong
muốn của con người, trong đó đảm bảo 100% cây đều có khả năng
tạo trầm và dự đóan được năng suất trầm trong xây dựng rừng.
- Để tạo khả năng đa dạng sinh học
cao tác gỉa sẽ chọn ra 20 dòng có năng suất thể tích tạo trầm
cao nhất phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu giống trong tương lai.
Việc tìm ra nguồn gen có cơ chế tạo
trầm tự nhiên trên các dòng có năng suất tạo trầm cao nhất là
tiền đề để xây dựng kế họach khai thác bền vững trữ lượng tài
nguyên rừng có hiệu qủa kinh tế cho nhu cầu xã hội và phát triển
kinh tế đất nước.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp chọn giống ưu thế sinh
trưởng và tác động hình thành trầm tự nhiên bằng biện pháp cơ
học thông qua trắc nghiệm đặc tính sinh học nguồn gen cây giống.
Phương pháp nghiên cứu chia thành các
bước sau :
- Bước 1: Lập lý lịch cây mẹ ở rừng
giống bằng cách điều tra thu thập số liệu các chỉ tiêu về đường
kính, chiều cao và tính thể tích thân cây của tòan bộ rừng giống
có 332 cây, sau đó chon những cây ưu trội nhất về sinh trưởng
chiều cao, đường kính D1,3, độ thẳng cây. Tổng số cây chọn ưu
trội nhất về sinh trưởng là 94 cây.
- Bước 2: Tiến hành tác động kích
thích tụ trầm cơ giới bằng biện pháp cơ giới tác động giống nhau
6 lần đồng nhất, bằng cách khoan trên thân cây ở vị trí giống
nhau , mỗi cây chọn được khoan 6 lỗ cách đều nhau 10cm, kích
thước lổ khoan bằng nhau là 10mm, chiều sau lổ khoan trong thân
cây sâu giống nhau để dễ tính thể tích khồi trầm được tác động
trong thân cây.
- Bước 3: Sau 6 tháng tiến hành điều
tra phạm vi tụ nhựa trầm theo mặt cắt dọc thân cây , đo đạc kích
thước bị kích thích nhựa trầm theo mặt cắt, đo chiều ngang R(mm)
và chiều dài D(mm), sau đó tính diện tích bị kich thích lan rộng
trong mặt cắt, nhân với chiều sâu 10cm để tính thể tích khối
trầm bị kích thích.
- Bước 4: Dùng chương trình excel 5.0
để phân tích Anova và tính tóan sự khác biệt giữa các dòng cây
mẹ khác nhau, có phạm vi tụ nhựa khác nhau trong thân cây.
- Bước 5: So sánh và tìm ra những
dòng cây mẹ có nguồn gen ưu trội có cơ chế tạo trầm trong thân
cây có thể tích bị lan rộng lớn theo 3 chiều trong thân cây, thể
hiện tính chất tụ nhựa nhiều nhất dễ bị kích thích ra trầm trong
thân cây. Sau đó chọn giống có năng suất trầm cao nhất và đề
xuất công nhận giống có nguồn gen đặc biệt qúi hiếm để có kế
họach khai thác tiềm năng lợi thế nguồn tài nguyên trầm hương
cho đất nước.
- Ký hiệu tên goi cho các dòng cây mẹ
nghiên cứu gồm 4 ký tự cho một dòng là: A (Aquilaria tên đầu của
lòai), L (viết tắt tên tác gỉa), PQ ( viết tắt tên địa phương
xuất xứ Phú Quốc)
- Mả số dòng số thứ tự của các dòng
được điều tra lập lý lịch trong rừng giống được đánh số từ 0001
đến 0332
Tên một dòng cây mẹ xác định như sau:
ALPQ 0059 ( tên dòng cây mẹ có số thứ tự 59)
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Biểu 1: Kết quả nghiên cứu tụ nhựa trầm tính theo
chiều bình quân chiều ngang R(mm) của lổ khoan trên dòng cây mẹ
trong 6 lần lập lại
(đơn vị: milimet)
|
Số hiệu cây |
R(mm) |
Số hiệu cây |
R(mm) |
Số hiệu cây |
R(mm) |
Số hiệu cây |
R(mm) |
|
020 |
20,33 |
325 |
12,33 |
305 |
12,00 |
037 |
11,83 |
|
032 |
17,17 |
270 |
12,33 |
261 |
12,00 |
318 |
11,67 |
|
019 |
16,17 |
140 |
12,33 |
223 |
12,00 |
243 |
11,67 |
|
014 |
15,67 |
139 |
12,33 |
222 |
12,00 |
227 |
11,67 |
|
012 |
15,17 |
085 |
12,33 |
208 |
12,00 |
224 |
11,67 |
|
017 |
14,50 |
026 |
12,33 |
197 |
12,00 |
182 |
11,67 |
|
013 |
14,50 |
005 |
12,33 |
119 |
12,00 |
159 |
11,67 |
|
011 |
14,50 |
320 |
12,17 |
100 |
12,00 |
155 |
11,67 |
|
312 |
13,83 |
304 |
12,17 |
050 |
12,00 |
132 |
11,67 |
|
272 |
13,83 |
276 |
12,17 |
330 |
11,83 |
113 |
11,67 |
|
051 |
13,83 |
135 |
12,17 |
322 |
11,83 |
112 |
11,67 |
|
317 |
13,33 |
114 |
12,17 |
307 |
11,83 |
111 |
11,67 |
|
308 |
13,33 |
110 |
12,17 |
269 |
11,83 |
103 |
11,67 |
|
263 |
13,33 |
088 |
12,17 |
268 |
11,83 |
064 |
11,67 |
|
015 |
13,33 |
081 |
12,17 |
253 |
11,83 |
177 |
11,67 |
|
237 |
13,33 |
078 |
12,17 |
211 |
11,83 |
228 |
11,50 |
|
311 |
13,00 |
025 |
12,17 |
209 |
11,83 |
152 |
11,50 |
|
027 |
13,00 |
007 |
12,17 |
178 |
11,83 |
316 |
11,33 |
|
087 |
12,83 |
066 |
12,17 |
161 |
11,83 |
141 |
11,33 |
|
004 |
12,83 |
309 |
12,17 |
137 |
11,83 |
101 |
11,33 |
|
078 |
12,83 |
327 |
12,00 |
098 |
11,83 |
256 |
11,00 |
|
326 |
12,67 |
322 |
12,00 |
059 |
11,83 |
058 |
10,50 |
|
086 |
12,67 |
319 |
12,00 |
175 |
11,83 |
|
|
|
324 |
12,50 |
306 |
12,00 |
323 |
11,83 |
|
|
Kết
quả phân tích: Pvalue>0,001
Ftính: 7,9652>Fbáng: 1,2983
Nhận xét kết qủa bảng 1: Khi khoan 6
lổ trên thân cây ở vị trí cách đều nhau trên thân cây 10cm trên
93 cây sinh trưởng ưu trội trong 332 cây mẹ ở rừng giống tại
Vườn Quốc Gia Phú Quốc (VQGPQ) thì thấy có 5 dòng cây mẹ có phản
ứng tụ nhựa trầm cao với lổ khoan tác động cơ giới kích thước
10cm, trong đó, có 5 dòng tụ nhựa kích thước theo chiều ngang từ
15mm đến 20mm nghĩa là từ 1,5 đến 2 lần kích thước của lổ khoan,
có 12 dòng tụ nhựa từ 13mm đến 14mm, có 36 dòng có kích thước
phản ứng từ 12mm đến 13mm, có 33 dòng phản ứng từ 11mm đến 12mm
và chỉ có 1 dòng có phản ứng tụ nhựa rất nhỏ chỉ có 10mm đến
11mm nghĩa là không có hoặc có tụ nhựa nhưng phân bố theo chiều
ngang thì không đáng kể, kết qủa trên cho thấy trong quần thể là
rất ít cá thể có phản ứng tích tụ nhựa theo chiều ngang vì phần
lớn mạch gỗ chạy theo chiều dọc, chỉ có 1 dòng có tụ nhựa chiều
ngang gấp đôi so với lổ khoan là 10mm bằng 1/94 chiếm 1,06% số
dòng cây mẹ và có 4 dòng cây mẹ có tụ nhựa từ 15mm đến 17mm bằng
1,5 đến 1,7 lần lỗ khoan 4/94 dòng chiếm 4,25% số cá thể cho
thấy việc tích tụ nhựa theo chiều ngang trong mạch gỗ là rất hạn
chế. Đa số sự tích tụ nhựa các dòng theo chiều ngang so với lổ
khoan từ 1mm đến 4mm .
Biểu 2: Kết quả nghiên cứu tụ nhựa trầm tính theo
chiều dọc Hd(mm) bình quân của lổ khoan trên dòng cây mẹ trong 6
lần lập lại
(đơn
vị: milimet)
|
Số hiệu cây |
H(mm) |
Số hiệu cây |
H(mm) |
Số hiệu cây |
H(mm) |
Số hiệu cây |
H(mm) |
|
32 |
137,83 |
59 |
60,33 |
222 |
47,83 |
111 |
38,17 |
|
272 |
125,5 |
182 |
59,83 |
19 |
47,33 |
103 |
38,17 |
|
27 |
102,5 |
4 |
58 |
58 |
47,17 |
152 |
38 |
|
237 |
86 |
101 |
57,67 |
305 |
46,17 |
320 |
37 |
|
135 |
85 |
87 |
| |