NGHIÊN CỨU CHỌN GIỐNG CÂY CÓ CƠ CHẾ TẠO TRẦM TỰ NHIÊN CÂY TRẦM HƯƠNG (DÓ BẦU) AQUILARIA CRASSNA PIERRE 20 NĂM TUỔI TRÊN VÙNG ĐẢO PHÚ QUỐC VIỆT NAM

                                         TS. Thái Thành Luợm, Thái Bình Hạnh Phúc

                                            Sở Tài Nguyên và Môi Trường Kiên Giang

                                            Nguyễn Văn Tiệp , Phạm Hoàng Dũng

                                            Vườn Quốc Gia Phú Quốc Kiên Giang 


 

TS. Thái Thành Luợm

06 tháng 09 năm 2007

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

            Cây Dó bầu còn có tên là cây Trầm hương, tên khoa học là Aquilaria crassna Pierre thuộc họ Trầm hương (Thymeleaae), bộ Trầm hương (Thymeleales), phân bố trong rừng tự nhiên ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, nhiều nhất là Gia Lai, Kon Tum, Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ở Phú Quốc, Hòn Chông - Kiên Giang và vùng đồi núi An Giang. Do đặc tính quí hiếm của loài cây  là tìm trầm trong thân cây, một vùng gỗ bị tụ nhựa và có tỉ trọng nặng hơn tỉ trọng nước nên chìm trong nước gọi là trầm kỳ, từ đặc tính qúi hiếm nên người ta đã săn lùng hầu hết các vùng rừng tự nhiên để  tìm trầm và kết qủa tất cả các cây đều bị chặt nhỏ dẫn đến có nguy cơ tuyệt chủng. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì đây là loài cây có gía trị kinh tế rất cao và việc tìm trầm trong cây tự nhiên khó khăn vì tỉ lệ cây có trầm là rất nhỏ. Giá trị của trầm hương tùy theo chất lượng mà 1kg biến động từ vài trăm USD đến vài ngàn USD và ngày càng hiếm trên thị trường vì trong rừng tự nhiên đã bị săn lùng và khai thác đến cạn kiệt. Chính lý do đó việc tìm hiểu cơ chế tạo trầm từ thân cây trong tự nhiên là cơ sở quan trọng để đề xuất biện pháp tạo trầm bằng phương pháp tác động tự nhiên là rất cần thiết, qua phát hiện nguồn gen trong tự nhiên có cơ chế tạo được trầm hương chúng ta sẽ thực hiện phương pháp tác động cơ học tự nhiên mà không cần phải dùng đến hóa chất hoặc các biện pháp làm bệnh thân cây sẽ làm ra được trầm hương có nguồn gốc từ thiên nhiên. Nghiên cứu nầy được thực hiện trên rừng giống 20 năm tuổi tại Phú Quốc - Kiên Giang, từ cơ sở đó có những giải pháp sử dụng nguồn tài nguyên bền vững trên cơ sở bảo tồn thiên nhiên rừng nhiệt đới trên vùng đảo phía Tây Nam tổ quốc. Theo GSTS Đỗ Tầt Lợi (1977) trong tinh dầu trầm các thành phần chủ yếu là benzylaceton C6H5CH2COCH3 26%, metozylaceton 53% và tecpen alcol 11%. Ngoài ra còn axit xinamic và các dẫn xuất của nó là các hydrocarbon thơm rất có gía trị. Điểm mới của đề tài nầy là :

            - Điều tra 332 cây mẹ 20 năm tuổi có mặt trong rừng giống, qua tính tóan sinh trưởng chọn ra 94 cây mẹ có năng suất cao nhất về chiều cao, đường kính thân cây, hình dạng thân cây, thể tích thân cây cao nhất.

            - Tác động vào thân cây bằng phương pháp cơ giới với số lần lập lại giống nhau, tiết diện và thể tích của khối bị tác động nhỏ nhất, nếu khối tác động bị tụ nhựa hình thành trầm với thể tích cao nhất thì được chọn lọc thành dòng cây mẹ có nguồn gen qúi gía nhất để triển khai nhân giống đại trà phục vụ xây dựng “vùng mỏ trầm hương” trên mặt đất.

            - Không áp dụng phương pháp hóa học, không dùng phương pháp cấy vi khuẩn và vi rus để tạo bệnh hại cây tạo sự phản kháng tạo nhựa trong cây phương pháp nầy đã qua chỉ tạo sự hình thành vết tụ bao bọc thân cây thể tích không đáng kể nhưng là phương pháp cực đoan gây hại cho môi trường không thể lường trước được hậu qủa.

            - Xây dựng vùng nguyên liệu trầm hương với thể tích tụ trầm cao nhất trong thân cây theo mong muốn của con người, trong đó đảm bảo 100% cây đều có khả năng tạo trầm và dự đóan được năng suất trầm trong xây dựng rừng.

            - Để tạo khả năng đa dạng sinh học cao tác gỉa sẽ chọn ra 20 dòng có năng suất thể tích tạo trầm cao nhất phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu giống trong tương lai.

            Việc tìm ra nguồn gen có cơ chế tạo trầm tự nhiên trên các dòng có năng suất tạo trầm cao nhất là tiền đề để xây dựng kế họach khai thác bền vững trữ lượng tài nguyên rừng có hiệu qủa kinh tế cho nhu cầu xã hội và phát triển kinh tế đất nước.

 

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

            Phương pháp chọn giống ưu thế sinh trưởng và tác động hình thành trầm tự nhiên bằng biện pháp cơ học thông qua trắc nghiệm đặc tính sinh học nguồn gen cây giống.

            Phương pháp nghiên cứu chia thành các bước sau :

            - Bước 1: Lập lý lịch cây mẹ ở rừng giống bằng cách điều tra thu thập số liệu các chỉ tiêu về đường kính, chiều cao và tính thể tích thân cây của tòan bộ rừng giống có 332 cây, sau đó chon những cây ưu trội nhất về sinh trưởng chiều cao, đường kính D1,3, độ thẳng cây. Tổng số cây chọn ưu trội nhất về sinh trưởng là 94 cây.

            - Bước 2: Tiến hành tác động kích thích tụ trầm cơ giới bằng biện pháp cơ giới tác động giống nhau 6 lần đồng nhất, bằng cách khoan trên thân cây ở vị trí giống nhau , mỗi cây chọn được khoan 6 lỗ cách đều nhau 10cm, kích thước lổ khoan bằng nhau là 10mm, chiều sau lổ khoan trong thân cây sâu giống nhau để dễ tính thể tích khồi trầm được tác động trong thân cây.

            - Bước 3: Sau 6 tháng tiến hành điều tra phạm vi tụ nhựa trầm theo mặt cắt dọc thân cây , đo đạc kích thước bị kích thích nhựa trầm theo mặt cắt, đo chiều ngang R(mm) và chiều dài D(mm), sau đó tính diện tích bị kich thích lan rộng trong mặt cắt, nhân với chiều sâu 10cm để tính thể tích khối trầm bị kích thích.

            - Bước 4: Dùng chương trình excel 5.0 để phân tích Anova và tính tóan sự khác biệt giữa các dòng cây mẹ khác nhau, có phạm vi tụ nhựa khác nhau trong thân cây.

            - Bước 5: So sánh và tìm ra những dòng cây mẹ có nguồn gen ưu trội có cơ chế tạo trầm trong thân cây có thể tích bị lan rộng lớn theo 3 chiều trong thân cây, thể hiện tính chất tụ nhựa nhiều nhất dễ bị kích thích ra trầm trong thân cây. Sau đó chọn giống có năng suất trầm cao nhất và đề xuất công nhận giống có nguồn gen đặc biệt qúi hiếm để có kế họach khai thác tiềm năng lợi thế nguồn tài nguyên trầm hương cho đất nước.

            - Ký hiệu tên goi cho các dòng cây mẹ nghiên cứu gồm 4 ký tự cho một dòng là: A (Aquilaria tên đầu của lòai), L (viết tắt tên tác gỉa), PQ ( viết tắt tên địa phương xuất xứ Phú Quốc)

            - Mả số dòng số thứ tự của các dòng được điều tra lập lý lịch trong rừng giống được đánh số từ 0001 đến 0332

            Tên một dòng cây mẹ xác định như sau: ALPQ 0059 ( tên dòng cây mẹ có số thứ tự 59)

 

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Biểu 1: Kết quả nghiên cứu tụ nhựa trầm tính theo chiều bình quân chiều ngang R(mm) của lổ khoan trên dòng cây mẹ trong 6 lần lập lại

                                                                                     (đơn vị: milimet)

Số hiệu cây

R(mm)

Số hiệu cây

R(mm)

Số hiệu cây

R(mm)

Số hiệu cây

R(mm)

020

20,33

325

12,33

305

12,00

037

11,83

032

17,17

270

12,33

261

12,00

318

11,67

019

16,17

140

12,33

223

12,00

243

11,67

014

15,67

139

12,33

222

12,00

227

11,67

012

15,17

085

12,33

208

12,00

224

11,67

017

14,50

026

12,33

197

12,00

182

11,67

013

14,50

005

12,33

119

12,00

159

11,67

011

14,50

320

12,17

100

12,00

155

11,67

312

13,83

304

12,17

050

12,00

132

11,67

272

13,83

276

12,17

330

11,83

113

11,67

051

13,83

135

12,17

322

11,83

112

11,67

317

13,33

114

12,17

307

11,83

111

11,67

308

13,33

110

12,17

269

11,83

103

11,67

263

13,33

088

12,17

268

11,83

064

11,67

015

13,33

081

12,17

253

11,83

177

11,67

237

13,33

078

12,17

211

11,83

228

11,50

311

13,00

025

12,17

209

11,83

152

11,50

027

13,00

007

12,17

178

11,83

316

11,33

087

12,83

066

12,17

161

11,83

141

11,33

004

12,83

309

12,17

137

11,83

101

11,33

078

12,83

327

12,00

098

11,83

256

11,00

326

12,67

322

12,00

059

11,83

058

10,50

086

12,67

319

12,00

175

11,83

 

 

324

12,50

306

12,00

323

11,83

 

 

                                             Kết quả phân tích:  Pvalue>0,001

                                                                            Ftính: 7,9652>Fbáng: 1,2983

            Nhận xét kết qủa bảng 1: Khi khoan 6 lổ trên thân cây ở vị trí cách đều nhau trên thân cây 10cm trên 93 cây sinh trưởng ưu trội trong 332 cây mẹ ở rừng giống tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc (VQGPQ) thì thấy có 5 dòng cây mẹ có phản ứng tụ nhựa trầm cao với lổ khoan tác động cơ giới kích thước 10cm, trong đó, có 5 dòng tụ nhựa kích thước theo chiều ngang từ 15mm đến 20mm nghĩa là từ 1,5 đến 2 lần kích thước của lổ khoan, có 12 dòng tụ nhựa từ 13mm đến 14mm, có 36 dòng có kích thước phản ứng từ 12mm đến 13mm, có 33 dòng phản ứng từ 11mm đến 12mm và chỉ có 1 dòng có phản ứng tụ nhựa rất nhỏ chỉ có 10mm đến 11mm nghĩa là không có hoặc có tụ nhựa nhưng phân bố theo chiều ngang thì không đáng kể, kết qủa trên cho thấy trong quần thể là rất ít cá thể có phản ứng tích tụ nhựa theo chiều ngang vì phần lớn mạch gỗ chạy theo chiều dọc, chỉ có 1 dòng có tụ nhựa chiều ngang gấp đôi so với lổ khoan là 10mm bằng 1/94 chiếm  1,06% số dòng cây mẹ và có 4 dòng cây mẹ có tụ nhựa từ 15mm đến 17mm bằng 1,5 đến 1,7 lần lỗ khoan 4/94 dòng chiếm 4,25% số cá thể cho thấy việc tích tụ nhựa theo chiều ngang trong mạch gỗ là rất hạn chế. Đa số sự tích tụ nhựa các dòng theo chiều ngang so với lổ khoan từ 1mm đến 4mm .

 

Biểu 2: Kết quả nghiên cứu tụ nhựa trầm tính theo chiều dọc Hd(mm) bình quân của lổ khoan trên dòng cây mẹ trong 6 lần lập lại

                                                                                           (đơn vị: milimet)

Số hiệu cây

H(mm)

Số hiệu cây

H(mm)

Số hiệu cây

H(mm)

Số hiệu cây

H(mm)

32

137,83

59

60,33

222

47,83

111

38,17

272

125,5

182

59,83

19

47,33

103

38,17

27

102,5

4

58

58

47,17

152

38

237

86

101

57,67

305

46,17

320

37

135

85

87