Vài chi tiết trong sử cần phải điều chỉnh



 

 

            Các nhà nghiên cứu sử Việt Nam ai cũng biết là cuốn sử khá đầy đủ đầu tiên của Việt Nam là cuốn Đại Việt Sử Ký của soạn gỉa Lê văn Hưu (1230-1322) là cuốn sử Việt Nam cổ nhất. Lê văn Hưu người Phủ Lý, huyện Đông Sơn Tỉnh Thanh Hóa là một danh sĩ đời nhà Trần, ông đậu Bảng Nhãn năm Đinh Mùi (1247). Từng làm đến Binh Bộ Thương Thư (tức là Tổng Trưởng Quốc Phòng thời nay), tước Nhân Uyên Hầu rồi còn làm Biên Tu Quốc Sử quan tước Hàn Lâm Học Sĩ. Theo lệnh vua Trần Thái Tông (1225-1258), đã soạn ra bộ Đại Việt Sử Ký gồm 30 quyển, bộ sử này chép từ đời Triệu Đà tức Triệu Vũ Đế (207-137BC) đến đời vua Lý Chiêu Hoàng (1225). Bộ sử này Lê Văn Hưu soạn xong vào năm 1272 đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Điều vô cùng đáng tiếc là bộ sử này nay đã thất truyền.

            Bộ sử Việt thứ hai được kể là quan trọng nhất hiện còn lưu hành là bộ Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Ông đậu Tiến Sĩ năm 1442 (nhâm tuất) làm quan dưới triều vua Lê Nhân Tông (1443-1459) và Lê Thánh Tông (1460-1497).Theo lệnh vua Lê Thánh Tông ông soạn ra bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gồm 15 quyển chia làm hai phần : Phần đầu gọi là ngoại kỷ từ thời Hồng Bàng đến hết thời Thập Nhị Xứ Quân (945-967AD). Phần hai gọi là Bản Kỷ chép từ thời Ngô Quyền (939-965AD) đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (1428) gồm 10 quyển. Bộ sử này Ngô Sĩ Liên dựa vào hai bộ sử có trước là Bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu ghi  trên và bộ Quốc Sử do Phan Phù Tiên theo lệnh vua Lê Nhân Tông soạn ra (1453) chép từ thời vua Trần Thái Tông đến khi nước ta bị nhà Minh xâm chiếm (1414) gồm 10 quyển.

            Bộ Sử quan trọng thứ hai mà hầu hết người Việt ai có học sử Việt đều biết là bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Ông Trần Trọng Kim (1882-1953) sinh quán Hà Tĩnh, lúc nhỏ học tại trường Vinh rồi lớn lên học trường Thông Sự ở Ninh Bình. Năm 1905 ông sang Pháp theo học trường thương mại La Salle tại tỉnh Lyon, sau chuyển qua học trường thuộc địa Pháp  rồi trường sư phạm Melun. Năm 1911 ông tốt nghiệp sư phạm và trở về nước dạy trường Trung Học Bảo Hộ (Lycée du Protectotat) và trường Sĩ Hoạn tại Hà Nội. Sau làm Thanh Tra Tiểu Học Bắc Kỳ. Năm 1942 ông về hưu. Năm 1943 bi Pháp nghi ngờ có tham gia các hoạt động chống Pháp định bắt nhưng được người Nhật giúp đưa vào Saigon cùng ông Dương Bá Trạc rồi sau đưa cả hai ông qua Singapore (năm 1944). Ông Dương Bá Trạc mất tại Singapore vì bệng lao phổi cuối năm 1944. Tháng Giêng năm 1945 ông Trần Trọng Kim đi Bangkok và sau khi Nhật đảo chánh Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 thì ông trở về nước và được vua Bảo Đại ủy thác đứng ra lập Chính Phủ Việt Nam độc lập đầu tiên của Việt Nam lúc bấy giờ (17-4-1945). Chính Phủ Trần Trọng Kim đứng vững được đến sau khi Việt Minh chiếm chính quyền ngày 19-8-1945 ở Hà Nội thì giải tán sau khi vua Bảo Đại thoái vị trao ấn kiếm cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu tại Huế. Tháng 9-1945 Việt Minh đưa ông Kim ra Hà Nội quản thúc. Ông lợi dụng lúc đó tình hình còn xáo trộn giữa năm 1946 đã bỏ trốn lên Lạng Sơn rồi sang Tầu. Năm 1947 ông về Saigon. Ông soạn khá nhiều sách trong đó có bộ Việt Nam Sử Lược ghi trên được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam thời đó dùng làm sách giáo khoa, do đó những ai di học ở các thành phố và các vùng do chính phủ quốc gia kiểm soát thì đều học sử Việt Nam theo bộ sử này.

            Bộ Sử thứ Ba nhiều người biết là bộ Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ (cũng còn gọi là Ngô Thời Sĩ) bản dịch của ban liên lạc văn hóa Á châu, nay nhà xuất bản Thanh niên ở trong nước tái bản năm 2001. Ngô Thì Sĩ (1726-1780) tự là Thế Lộc, hiệu là Ngọ Phong Tiên sinh và Nhị Thanh cư sĩ sinh năm Bính Ngọ (1726) đời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái thứ 21. Người làng Thanh Oai, phủ Thanh Oai, nay là xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Dòng họ Ngô của ông nổi tiếng có nhiều người đỗ đại khoa, Thủa nhỏ ông theo học với ông nội là Đan Nhạc Công (tức Ngô Trân 1679-1760). Năm 13 tuổi đậu Quận Trường (tương dương Tú Tài thời Nguyễn), Năm 18 tuổi đậu Hương Tiến (tương đương Cử Nhân thời Nguyễn). Tiếp đó theo học với hai vị đại khoa là Tiến Sĩ Nghiêm Bá Đĩnh (Tiến Sĩ khoa Qúy Sửu 1733) quê ở Tây Mỗ và Tiến Sĩ Nhữ Đình Toản (tiến Sĩ khoa Bính Thìn 1736) ở Hoạch Trạch. Vì Ngô Thì Sĩ có tài văn học nên được chúa Ttịnh Sâm yêu dùng cất nhắc lên chức Cấp Sự Trung. Năm 41 tuổi (1766) ông đậu Hoàng Giáp Đình Nguyên (tức là Thủ khoa Tiến Sĩ). Ông mất năm 1780 sau một trận ốm nặng. Ông để lại khoảng 10 tác phẩm trong đó có 5 tác phẩm về lịch sử (Đại Việt  Quốc Thống Ca, Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, Đại Việt Sử Ký Tục Biên, Nam Quốc Vũ Công và Việt Sử Tiêu Án. Trong 5 tác phẩm này cuốn thứ 3 soạn chung với các vị Phạm nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá, 4 cuốn kia của riêng ông).

            Bộ sử thứ tư tương đối mới do nhà viết sử quân đội VNCH Đại Tá Pham Văn Sơn viết là bộ Việt sử toàn thư, bộ sử này được tác gỉa viết trước năm 1975 nay đã được nhà xuất bản Đại Nam ở Hoa Kỳ tái bản.

            Trong cả mấy tác phẩm trên các tác gỉa khi viết về giai đoạn cổ đại của lịch sử nước ta đều đã dựa vào các tài liệu lịch sử của người Tầu để viết ra tác phẩm của mình. Không hiểu có phải vì lười biếng suy xét hay vì tinh thần lệ thuôc vào cái học của Trung Hoa thời xưa mà cả mấy vị đó khi viết về giai đoạn cổ đại của sử Việt đều cho rằng các vị Sĩ Nhiếp, Tích Quang và Nhâm Diên là những người "có công" dậy dỗ dân ta, Nhờ họ mà người dân cổ Việt "biết" sống văn minh, biết tổ chức xã hội theo lối "văn hoá Tầu" và đặc biệt là biết chế tạo và sử dụng các nông cụ trong việc trồng lúa nước (!).

            Những chi tiết trên có thể tìm thấy trong các tác phẩm của các sử gia nói trên như dưới đây :

            Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Muc Tiền Biên Quyển 3 ghi :

Lời bàn của Ngô Sĩ Liên 

Người nước ta thông Thi Thư hiểu lễ nhạc, trở thành một nước văn hiến là bắt đầu từ Sĩ Nhiếp. Tục truyền: sau khi Sĩ Nhiếp mất, đến cuối đời nhà Tấn cách xa hơn 600 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mả Sĩ Nhiếp lên, thấy thân thể diện mạo vẫn nguyên như lúc sống, liền đắp trả lại. Nhân dân vùng ấy cho thế là thần, dựng miếu để thờ, gọi là Sĩ Vương tiên. 

            ...Đến khi Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, dựng ra trường học, dìu dắt nhân dân theo đường lễ nghĩa.

                                                                                           (KDVSTGCM TB quyển 1)

 

 

Việt Sử Toàn Thư (Pham Văn Sơn)

 Bộ Máy Cai Trị Của Giao Chỉ Dưới Thời Tây Hán.

Nhà Tây Hán để nguyện vẹn bộ máy cai trị của Giao Chỉ đã do nhà Triệu thiết lập. Xin nhắc rằng nhà Triệu xưa kia cũng tôn trọng tình trạng và chế độ của dân bản địa nên ta đã có thể coi dù thay thầy đổi chủ dân Lạc Việt ta vẫn giữ được nề nếp xưa về chính trị cũng như phong tục, bởi vậy một vài học giả ngày nay cho rằng trên thực tế nước ta đã là một nước phụ dung dưới đời nhà Triệu. Nhà Tây Hán vẫn dùng hai quan Điển Sứ của nhà Triệu, và họ được đổi sang chức mới là Thái Thú. Trên các Thái Thú có quan Thứ Sử tất nhiên là người Trung Quốc. Các Lạc hầu, Lạc tướng dưới quyền Thái Thú coi việc trị dân như cũ. Họ vẫn giữ quyền thế tập và chỉ phải mỗi năm nộp thuế cống cho Thái Thú, các Lạc dân vẫn làm ruộng nộp lúc cho các Lạc hầu, Lạc tướng như dân Mường, Thổ, đối với các quan Lang ngày nay. Họ có bổn phận phục dịch vào các việc xây thành, đắp đường, dựng lâu đài, doanh trại. Bên cạnh quan Thái Thú có một võ quan chức Đô Úy, chỉ huy một số quân đồn trú để (p78 Việt Sử Toàn Thư) giữ trật tự. Tóm lại, nhà Tây Hán trong 119 năm đô hộ đối với dân Lạc Việt buổi đầu bằng một chính sách tương đối tự do và nhân nhượng, nhưng sau khi Vương Mãng thoái vị, nhà Hán trung hưng đối với các châu quận xa có sự thây đổi do mục đích kiểm soát ráo riết các miền ngoại biên. Trước kia, quan Thử sử (như chức Thủ Hiến, hay Toàn quyền thời Pháp thuộc) cứ tháng 8 bắt đầu đi kinh lý, rồi đến đầu năm sau về Kinh trình bày mọi việc. Như vậy vị Thứ sử không ở nhất định tại châu trị. Đến đời Trung Hưng, các Thứ sử không được dời châu trị, dù có tang cha mẹ. Sự ngặt nghèo này gián tiếp cho ta biết trong thời Tây Hán, mầm cách mạng của dân ta thường hay nẩy nở làm cho Bắc Triều phải ngày đêm thắc mắc, nên buộc các Thứ Sử phải luôn luôn có mặt tại trị sở để đối phó với tình thế, đề phòng sự bất trắc, và thi hành những luật lệ khắc nghiệt. Cơ cấu hành chính thời đó đã thiết lập như sau đây: Thứ sử có các Lạc viên tức là Tòng sự sử giúp việc. Dưới là quan Thái thú có một viên Quận thừa thay mặt Thái thú khi có nhiều việc. Chung quanh Thái thú có các Duyên sử chia ra các Tào tức là các phòng giấy. Tỉ dụ Công tào sử lựa chọn người có công lao để tuyển dụng. Mỗi Tài có 1 số Thư tá (thư ký) chuyên việc giấy tờ, bẩm báo. Các quan lại cấp trên giúp việc Thức sử và Thái thú là người Trung Quốc còn từ Duyên sử và Thư tá thì không nhất định phải là người Trung Quốc, tức là người bản xứ cũng được dùng đến, miễn có văn tự. Trước cơ cấu chính trị và hành chính trên đây, ta nhận thấy tuy nhà Tây Hán có đặt ra nhiều phép tắc để ràng buộc dân chúng bản thổ, quân đội thường trú lúc nào cũng có mặt đẻ đề phòng mầm loạn, nhưng việc cai trị trực tiếp nhân dân vẫn ở trong tay quý tộc ta. Và chỉ có quý tộc bản thổ mới có đủ uy lực tinh thần và vật chất để cai trị nhân dân, khi đó còn sống lẻ tẻ từng đoàn thể theo hệ thống phong kiến. Vì vậy, nhà Hán không thể bãi bỏ cái vai trò của quý tộc Giao Chỉ, mặc dầu bao giờ cũng nghi ngờ, e ngại. Có điều khiến ta phải suy nghĩ là chế độ Lạc hầu, Lạc tướng thời bấy giờ rõ rệt giống chế độ phong kiến thời Trung Cổ ở Âu Châu sau này, các công, hầu, bá, tử, đã sống nhởn nhơ trên mồ hôi nước mắt đám nông nô. Duy tình trạng quý tộc và dân chúng Giao Chỉ thuở đó có sự đặc biệt là họ cùng bị áp chế mỗi giới một cách. Do chỗ đồng thuyền đồng điệu này, sau trên một thế kỷ đau khổ, họ đã hợp sức với nhau để đánh đuổi kẻ thù chung.

Viên Thứ sử đầu tiên trên đất Việt là Thạch Đái, đóng ở Lũng khê (thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh bây giờ), không thiện mà cũng không ác. Trong một thời gian, việc giao dịch giữa Giao Chỉ bộ với nhà Tây Hán không thấy sử sách ghi chép mấy. Mãi đến năm Kỷ Sửu tức là năm Khiến Võ thứ năm, đời vua Hán Quang Vũ (nhà Đông Hán), mới thấy có chuyện Thứ sử Giao Châu là Đặng Nhượng cho sứ đem công vật về Trung Quốc. Trong thời Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, các quan cai trị Trung Quốc tại Giao Chỉ bộ không chịu thần phục (Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục...). Cuộc bang giao giữa Hán triều và Giao Chỉ bộ đứt đoạn hẳn. Sau này vua Quang Vũ trung hưng mới có sứ bộ Giao Chỉ đi lại. Đáng chú ý, một số quan lại, trí thức Trung Quốc lánh nạn chính trị chạy qua lưu trú ở Giao Chỉ đã góp một phần đáng kể trong việc mở mang văn hóa ở đây. Và các lương quan của nhà Tây Hán có một vài người như Tích Quang và Nhậm Diên (p79 Việt Sử Toàn Thư) (không phải là Nhâm Diên), Thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân đã tỏ được lòng chân chính với người Việt trong những năm đầu của Công lịch là lúc xảy ra cuộc đô hộ được ít lâu. Tích Quang sang bên ta từ đời vua Bình Vương (Tây Hán) vào khoảng năm thứ hai, thứ ba và Nhậm Diên từ năm Kiến Võ nhà Đông Hán. Họ khai hóa cho nhân dân, nhờ vậy dân mới được hiểu biết các điều lễ nghĩa, luân thường, đạo lý. Họ khuyến khích nông nghiệp bằng cách chỉ bảo trồng trọt canh tác, khẩn hoang dể tăng gia sản xuất. Trước kia, dân Giao Chỉ quen sinh sống bằng nghề săn bắn, chài lưới. Họ dạy việc lễ nghi, hiếu hỷ đặt thành quy tắc, và đáng chú ý học thực hành cả lòng nhân đạo bắt đầu ngay từ họ là những nhà cầm quyền (các lại thuộc phải san sẻ một phần lương bổng của mình để cấp đỡ dân chúng trong việc lấy vợ, lấy chồng). Do điểm này, ta hiểu nhân dân Giao Chỉ bấy giời túng quẫn như thế nào. Và ta nên nhớ rằng các công cuộc Nhậm Diên và Tích Quang làm chỉ là sự tiếp tục sự nghiệp của tướng Triệu Đà thuở trước. Tiếc rằng Nhậm Diên chỉ cai trị quận Cửu Chân có 4 năm rồi phải đổi đi nơi khác. (Dân ta nhớ ơn ông nên làm đền thờ và lấy tên ông để đặt cho con, có lẽ theo ý họ, nhờ có công mà có dòng có giống?).

Trong khi đó trong Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim ghi là :

Tích Quang và Nhâm Diên : Về đầu thế kỷ đệ nhất có hai người (Tầu) sang làm thái Thú, trị dân có nhân chính. Một người tên là Tích Quang, làm Thái Thú Giao Chỉ, một người tên là Nhâm Diên làm thái thú quận Cửu Chân.

Tích Quang làm Thái Thú quân Giao Chỉ từ đời vua Bình Đế nhà Tây Hán, vào quãng năm thứ hai, thứ ba thế kỷ đệ nhất. Người ấy hết lòng lo việc khai hóa, dạy dân lấy điều lễ nghĩa. Cho nên dân trong quận có nhiều người kính phục.

Nhâm Diên thì sang làm Thái Thú quận Cửu Chân từ năm Kiến Võ đời Đông Hán. Bấy giờ dân quận ấy chỉ làm nghề chai lưới và săn bắn, chứ không biết cầy cấy làm ruộng nương. Nhâm Diên mới dạy dân dung cầy bừa mà khai khẩn ruộng đất, bởi vậy chẳng bao lâu mà quận ấy có đủ thóc gạo ăn. Người ấy lại dạy dân làm lễ cưới hỏi trong khi lấy vợ, lấy chồng và bắt những lại-thuộc trong quận lấy một phần lương bổng của mình mà giúp cho những kẻ nghèo đói để lấy vợ, lấy chồng.

Nhâm Diên ở Cửu Chân được một năm thì được thăng chức về Tầu đi làm quan chỗ khác. Dân sự quận ấy ái mộ Nhâm Diên, làm đền thờ. Có người vì được nhờ quan Thái Thú cho nên sau sinh con ra lấy tên Nhâm mà đặt cho con mình để tỏ lòng biết ơn.

Tóm lại là trong tất cả các tác phẩm sử học ghi trên, tất cả các tác gỉa đều cho rằng Tích Quang và Nhâm Diên là hai viên quan cai trị người Tầu khi sang làm quan ở Giao Chỉ đã "có công" dậy dỗ dân Việt ta về hai điểm quan trọng :

1/ Về văn hóa, họ đã dậy dân ta biết đến nếp sống văn minh theo kiểu Tầu.

2/ Về canh nông, họ đã dậy dân ta biết cách canh tác lúa và biết cách sử dụng nông cụ.

Đây là hai diểm vô cùng quan trọng, nhưng các sử gia ghi trên như đã trình bầy ở phần đầu bài viết không hiểu vì lười biếng chỉ dựa vào những tài liệu sử học có sẵn của người Tầu hoặc vì thiếu suy xét nên đã "đồng quan điểm" như trên.

Về điểm thứ nhất ta cần đặt câu hỏi :

Phải chăng trước khi các quan Thái thú Tích Quang và Nhâm Diên đến Giao Chỉ nước ta đã tồn tại cả mấy ngàn năm. Trước khi bị người Tầu đô hộ lần thứ nhất từ thời vua Vũ Đế nhà Hán đến mãi thời Ngũ Qủi suốt một thời gian dài khoảng 1050 năm, chấm dứt khi Ngô Quyền nổi lên đánh đuổi người Tầu về nước mới chấm dứt giai đoạn Bắc thuộc lần thứ nhất này. Không lẽ dân Việt sống "vô văn hoá" không biết kỹ thuật canh tác thì làm sao có thể tồn tại mấy ngàn năm như thế?

Sử gia Phạm Văn Sơn cho ta thấy là dù người Tầu chiếm được nước ta, đặt quan chức cai trị dân ta nhưng rõ ràng là họ chỉ đặt các quan chức ở cấp cao nhất là hàng Thái Thú, còn các cấp dưới, nhất là các cấp làng xã và huyện vẫn do các quan lại của ta đảm nhận. Chi tiết này cũng minh chứng rằng dân cổ Việt qủa thật có nếp sống văn minh từ lâu không phải đợi đến khi có các quan Thái Thú Tầu đến mới biết đến đời sống văn minh.

Khởi đi từ thời Hồng Bàng (2897-258BC) nước ta có tên là nước Văn Lang. Vị vua đầu tiên cai trị nước Văn Lang là vua Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền ngôi cho người con trưởng xưng là Hùng Vương. Vua Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu bây giờ vào khoảng địa hạt huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên ngày nay. Họ Hồng Bàng truyền được 18 đời vua, đến năm Qúi Mão (158 BC) thì bị nhà Thục chiếm lấy.

Khoảng thời gian 18 đời vua Hùng kéo dài từ năm Nhâm Tuất (2979BC) đến năm Qúi Mão (258BC) là 2622 năm xem ra có vẻ không xác thực, gần đây đã có nhiều sử gia cho rằng thời gian này có thể ông cha chúng ta ngày xưa đã phóng đại hoặc nói đúng hơn là chỉ dựa theo "truyền thuyết" mà ghi lại, tuy biết có vẻ không chính xác nhưng không chịu sửa. Tuy nhiên chuyện thời gian như ghi trên là môt vấn đề khác không phải chủ điểm của bài viết này.

Điều người viết bài này muốn nêu lên là trong suốt 18 đời vua Hùng dù thời gian có được "điều chỉnh" cho chính xác thì ít ra cũng phải cả ngàn năm, không lý nước Văn Lang là nước "kém văn hóa" ? Trong khi đó theo các tài liệu của chính người Tầu ghi lại thì sau khi chiếm được Văn Lang Thục Phán sát nhập nước Văn Lang vào nước Thục, cần ghi rõ là nước Thục này khác hẳn nước "Tây Thục" thời Tam Quốc bên Tầu, nước Thục của Thục Phán ở kế cận nước Văn lang. Thục Phán lên ngôi xưng là An Dương Vương (275BC) đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê nay là huyện Đông Anh tỉnh Ninh Bình ngày nay. Hai năm sau An Dương Vương xây Loa thành hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh. Các nhà nghiên cứu về kiến trúc ngày nay đã công nhận rằng Loa Thành ngày xưa được xây dựng với kỹ thuật rất tân kỳ và văn minh.

Trong suốt chiều dài của triều đại các vua Hùng chúng ta có khá nhiều những truyện cổ được lưu truyền lại như các truyên Sơn Tinh Thủy Tinh, truyện Chủ Đồng Tử và bà Tiên Dong, truyện bánh dầy bánh chưng, truyện An Tiêm và qủa dưa đỏ, truyện Phù Đổng Thiên Vương, truyện trầu cau v..v.. sau này vào thời nước Âu Lạc truyện xây dựng thành Cổ Loa của vua An Dương Vương, truyện Mỵ Châu - Trọng Thủy v..v..ngoài tính cách ghi lại những dữ kiện lịch sử, các truyện kể trên còn cho chúng ta thấy nội dung của các truyện ấy còn bao hàm vũ trụ quan và nhân sinh quan rất cao thâm của người Việt thời cổ. Đó là những minh chứng về một nền văn hóa vững chắc lưu truyền rộng rãi trong dân chúng cả ngàn năm vậy sao lại phải đợi đến mãi khi các quan Thái Thú Tầu sang cai trị dân ta họ mới "khai hoá" cho dân Việt được (!). Xin đừng quên rằng thời xưa các sử quan người Tầu khi viết sử luôn luôn tìm cách "vơ vào" cho thời đại của họ, nhất là để chứng minh vua của họ là những "đấng anh quân".

Như vậy dựa trên những tuyện tích từ ngàn xưa truyền lại so sánh nếp sống của nguời cổ Việt và người Tầu ta có thể thấy có sự khác biệt giữa hai dân tộc. Người cổ Việt không có quan niệm trọng Nam khinh nữ, chủ trương chung của người Việt là sống chung hài hòa với nhau. Huyền thoại chia 50 con xuống biển và 50 con lên rừng là đặc tính cộng sinh của người Việt. 50 con lên rừng theo chế độ mẫu hệ và là hậu duệ của bà Âu Cơ. 50 con xuống biển theo chế độ phụ hệ, là con cháu của Lạc Long Quân. Nói khác đi là người cổ Việt theo chế độ đa hệ, tôn trọng mẫu hệ cùng một lúc với phụ hệ. Giải thích tính lưỡng hệ của người cổ Việt, khi phiên dịch bộ Quốc Triều Hình Luật của nhà hậu Lê (1428-1527) Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cho rằng một trong những thay đổi quan trọng mà người Trung Hoa khi đô hộ nước ta mang lại là: Về mặt phong tục, người Việt đã từ chế độ mẫu hệ bước sang chế độ phụ hệ. Cùng với việc làm lễ cưới hỏi theo lối trung Hoa, người Việt đã có họ và theo họ của người cha. Trong khi người Tầu sau khi Nho giáo được phổ biến thì rõ ràng là "trọng nam khinh nữ" (quan niệm nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô) đã nêu rõ tinh kỳ thị nam nữ của ngườ tầu. Từ đó ta có thể suy ra là các quan Thái Thú Tầu khi đến Giao Chỉ đã dậy dân Việt "lối sống của người Tầu" với mục đích dễ bề đồng hóa người Việt thành người Tầu chứ không phải với mục đích muốn dậy cho dân Việt trở nên "văn minh" hơn như các sử gia trong phần đầu bài viết này đã nêu lên.

Về điểm thứ hai theo các tài liệu của các nhà khảo cổ mới đây thì rất rõ ràng là người Việt Nam thời cổ đã là giống người biết sử dụng các nông cụ tối tân như cầy có lưỡi làm bằng đồng từ 1551 năm trước Tây Lịch (1551BC) tức là vào thời các vua Hùng Vương (xin xem The Timetables of Science [p 15] by Alexander Hellemans and Bryan Bunch A Touchstone Book published by Simon & Schuster New York, ấn bản cập nhật ấn hành hàng năm).

Theo những tài liệu mới được phát hiện, tại Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) thuộc quận Giao Chỉ, người ta tìm thấy nhiều bộ xương trâu đã có mặt tại đây (châu thổ sông Hồng) khoảng 2000 năm trước tây lịch (2000BC) và hai lưỡi cầy bằng đồng theo mô thức Đông Sơn dùng cho trâu cầy (KW Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press P.35).

Rồi nữa Edward H Schafer trong tác phẩm Ancient China (xb năm 1967) đã viết :"The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south" (thuật trồng lúa và thuần hóa gia súc chắc chắn (Trung Hoa) đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường  ở miền Nam xa xôi hẻo lánh)

Như vậy kỹ thuật canh tác lúa nước là của dân Việt cổ đã có cả hơn ngàn năm trước khi các quan Thái Thú Tầu tới đáo nhậm nhiệm sở ở Giao Chỉ. Vậy thì làm gì có chuyện Nhâm Diên dậy dân ta dùng cầy bừa, có lẽ là chính Nhâm Diên đã học được kỹ thuật dùng cầy bừa của dân Việt ta rồi đem về Tầu phổ biến cho người Trung Hoa, nhưng vì "sĩ diện" đại quốc khiến các sử gia Tầu như đã ghi trên đã cố tình sửa lại là Nhâm Diên dậy dân ta kỹ thuật canh tác (!).

Tóm lại là với những khám phá mới của các nhà khảo cổ ngày nay cùng những suy luận kỹ càng và thận trọng chúng ta có thể vững tin là người cổ Việt thật sự là một dân tộc có không những một nếp sống văn minh nếu không hơn người Tầu thì chắc chắn là không thua kém gì người Tầu và có một nền kỹ thuật nông nghiệp chắc chắn là cao hơn của người Tầu cùng thời rất nhiều. Từ dó dẫn đến việc các nhà viết sử của thời nay cần sửa lại các chi tiến ghi trên khi viết lại phần cổ sử của nước Việt Nam chúng ta vậy.

                                                                                          

                                                                                                                                             THANH VĂN

 Ý kiến, Phê bình xin gửi về : thanhvan@khoahoc.net

 

 

Trở về Trang Chính