NHÂN TẾT ẤT DẬU NHỚ LẠI CHIẾN THẮNG KỶ DẬU

CỦA VUA QUANG TRUNG



 

 

Năm nay chúng ta ăn Tết Ất Dậu 2005, nhiều người Việt tha hương ở độ tuổi trên 60 chắc còn nhớ tới năm Ất Dậu 1945 năm nước nhà bị nạn một cổ hai tròng, vừa bị thực dân Pháp đô hộ, lại thêm bị quân phiệt Nhật đè đầu. Rồi cũng chính bọn ngoại xâm này đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu khiến gần hai triệu dân ta ở miền bắc chết đói năm đó. Thảm cảnh năm đó đã hằn sâu vào ký ức người Việt và mãi mãi còn ghi trong sử sách nước ta.

            Nhân đây, trong dịp Tết Ất Dậu 2005, xin thuật lại chiến thắng Kỷ Dậu của người anh hùng áo vải đất Tây Sơn, đã đánh đuổi 20 vạn quân Thanh, giành lại độc lập cho nước ta. Chiến thắng oai hùng của vua Quang Trung là chiến thắng lẫy lừng không những

vô tiền khoáng hậu trong sử Việt mà còn là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử toàn thế giới.

 

Tình hình bắc hà trước và khi quân thanh xâm chiếm nước ta.

            Năm Mậu Tuất, niên hiệu Chiêu Thống thứ 2 (1778), sau khi Nguyễn Hữu Chỉnh, một danh tướng Bắc Hà, lợi dụng sự tin dùng của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, khi Huệ rút quân về Nam sau khi đã diệt xong họ Trịnh, tái lập vương quyền cho vua Lê Chiêu Thống, để Chỉnh ở lại giúp vua Lê, Chỉnh muốn thay thế họ Trịnh nắm toàn quyền ở Bắc hà hống hách lạm quyền.

            Vũ Văn Nhậm con rể của vua Thái Đức (tức Nguyễn Nhạc anh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ) lúc đó đóng quân ở Thanh Hoá, được lệnh của Bắc Bình Vương đem quân ra Bắc dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh.

            Chỉnh bị thua ở trận Mục Sơn (thuộc xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ngày nay), bị tướng Nguyễn Văn Hòa dưới quyền Vũ Văn Nhậm bắt sống giải về Thăng Long. Nhậm cho xử xé xác Chỉnh ở cửa thành để răn chúng.

            Sau khi giết Chỉnh Nhậm trở nên kiêu căng, tự đúc ấn, chuyên quyền trong mọi việc cắt đặt sắp xếp. Trước đó khi sai Nhâm đem quân ra Bắc diệt Chỉnh, Bắc Bình Vương vốn đã nghi ngờ Nhậm, nên đã sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tham tán (tức như sĩ quan tham mưu ngày nay) để một mặt chia bớt quyền của Nhậm, một mặt ngầm theo dõi hành vi của Nhậm và mật báo cho Nguyễn Huệ mỗi khi Nhậm có ý khác.

            Ngay khi được mật báo của Ngô Văn Sở, Nguyễn Huệ lập tức đem quân ra Thăng Long, bắt Nhậm giết đi, cho Ngô Văn Sở thay thế chỉ huy toàn quân và trấn thủ Thăng Long. Lúc đó các quan lại nhà Lê nhiều người muốn tôn Nguyễn Huệ lên làm vua, nhưng Nguyễn Huệ e lòng dân chưa hoàn toàn thần phục nên không chịu, cử hoàng thân Sùng Nhượng Công Lê Duy Kỳ làm giám quốc và cho Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ Tả Thị Lang, Phan Huy Ích làm Hình bộ Tả thị lang để giúp sức, lại dùng bọn Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn, Nguyễn Du (xin đừng nhầm Nguyễn Du này ngưới làng Văn Xá huyện Thanh Oai, Hà Đông với Nguyễn Du tác gỉa Truyện Kiều), Nguyễn Bá Lan làm Hàn Lâm Học Sĩ cùng với Ngô Văn Sở giúp Sùng Nhượng Công rồi rút quân về Nam.

            Trong khi đó vua Chiêu Thống có tướng là Nguyễn Viết Tuyển thắng được tướng Nguyễn Quỳnh bộ tướng của Ngô Văn Sở ở sông Vị Hoàng, vua Lê lúc đó đang trốn ở vùng Kinh Bắc bèn dời xa gía về Thủy Đường (nay là huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng), rồi từ đây vượt biển đi Chân Định (nay là Huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình) để đến hội với Nguyễn Việt Tuyển tại Vị Hoàng.

            Ngô Văn Sở đem quân đi đánh Nguyễn Việt Tuyển ở Vị Hoàng, Tuyển thua nặng, vua Chiêu Thống cùng Tuyển rút về Quần Anh ở huyện Nam Chân (nay là Nam Trực tỉnh Nam Định). Đêm bị bão lớn, thuyền vua Chiêu Thống bị trôi vào tận  Thiết Giáp (tức xã Thiết Giáp huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá), còn thuyền của Việt Tuyển giạt vào đến tận cửa Cần hải (tức xã Hải Thuận huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An), lúc đó quân của Nguyễn Huệ đã làm chủ tình hình ở trấn Thanh Nghệ nên Tuyển ra Thăng Long hàng Ngô Văn Sở nhưng sau bị giết. Vua Chiêu Thống theo đường bộ từ Thanh Hoá ra Kim Bảng thuộc Sơn Nam (nay là Hà Nam) rồi lên Kinh Bắc đóng ở Lạng Giang.

            Tháng 7 mùa thu năm Mậu Tuất (1778) Hoàng Thái Hậu nhà Lê được bọn Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, Địch quận công Hoàng Ích Khiêm, Tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống bảo vệ do cửa ải Thủy khẩu chạy sang Long Châu cầu viện với nhà Thanh. Quan Châu nhà Thanh là Trần Tốt báo lên Tổng Đốc lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị và Tuần Phủ Quảng tây là Tôn Vĩnh Thanh. Bọn Sĩ Nghị tâu lên vua Càn Long nhà Thanh, trong sớ tâu có đoạn như sau :"Tự Hoàng nhà Lê đang phải bôn ba, đối với đại nghĩa ta nên cứu viện vả lại An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc, ta nhân giúp khôi phục nhà Lê rồi ở lại đóng giữ luôn, tức vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm được An Nam, thật là nhất cử lưỡng tiện."

            Vua Càn Long nghe theo, bèn giao cho Tôn Sĩ Nghi toàn quyền lo toan mọi việc.

            Sĩ Nghị điều động quân 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Qúy Châu cả thẩy hơn 20 vạn, chia làm 3 đường tiến vào nước ta với danh hiệu giúp vua Lê khôi phục đất nước.

            Tháng 10, nùa Đông Sĩ Nghị cho quân tiến vào nước ta.

Đạo thứ nhất do Tổng Đốc Vân Nam và Qúy Châu chỉ huy tiến vào theo ngả Tuyên Quang.

Đạo thứ hai do Tri Phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống tiến vào theo ngả Cao Bằng.

Đạo thứ 3 do chính Tôn Sĩ Nghị và Đề Đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy tiến vào qua ải Nam Quan (nay là Mục Nam Quan vừa bị nhà cầm quyền trong nước dâng cho Tầu).

Khi quân Sĩ Nghị tiến đến Kinh Bắc (Tức Bắc Giang Và Bắc Ninh ngày nay), Ngô Văn Sở sai Nội hầu Phan Văn Lân đem 1 vạn quân tinh nhuệ lên đóng ở Thi Càu. Quân Thanh tiến chiếm núi Tam Tầng rồi bất ngờ xua quân đánh úp quân của Lân ở Thị Càu. Quân Thanh dùng sung hóa sang và cung tên tập trung bắn quân của Lân từ hai phía khiến Lân thua to phải rút về Thăng Long. Sĩ Ngjị xua quân đuổui theo đến đóng ở bờ Bắc sông Nhị.

Ngô Văn Sở bàn với Ngô Thì Nhậm là Thăng Long trống trải khó giữ, bèn rút quân về Thanh Hóa, đóng Thủy quân ở hải phận Biện Sơn, bộ quân thì đóng chẹn ở đèo Ba Đội (tức núi Tam Điệp) rối cho phi mã báo vế với Bình Định Vương.

Trong lúc đó vua Chiêu Thống đang ở Phượng Nhãn (nay là Phượng Nhãn , Bắc Giang)bèn đem trâu bò rượu thịt về khao thưởng quân Thanh rồi vào Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị làm cầu phao cho quân di chuyển qua song Nhị ở bến Bồ Đề và đặt bộ chỉ huy ở cung Tây Long bên bờ song. Doanh trại quân Thanh đóng san sát rất là hùng dũng.

Sau đó Nghị lấy sách văn và ấn chưởng của vua Thanh ban sẵn ra phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.

Sau khi thụ phong vua Chiêu Thống thăng chức cho một số quan theo hầu hộ gía như bọn Phan Trích Dữ, Lê Huy Đản, Vũ Trinh, Nguyễn Đình Giản, Nguyễn Duy Hiệp, Chu Doãn Lệ, Trần Danh Án, Lê Quýnh. Lại ban lệnh phế Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích xuống hàng thứ dân. Giáng chức bọn Nguyễn Hoãn, Phan Lê Phiên, Mai Thế Uông. Giết bọn Phạm Như Tụy và Dương Bành. Thậm chí còn giết cả một người đàn bà thuộc tôn thất đã lấy một viên tướng của Nguyễn Huệ, lúc đó đang có bầu, vua sai mổ bụng cho chết, rồi lại sai chặt chân một vị hoàng thúc và vứt ra chợ. Sau đó bắt nhân dân khắp nơi phải đóng góp quân lương rất nặng nề nhưng lại đem dâng cho quân Thanh vì việc tiếp tế của quân Thanh từ qúa xa có nhiều trở ngại.

Nhân dân khắp nơi ai cũng oán than, thậm chí chính hoàng Thái Hậu khi từ bên Tàu về đến Thăng Long thấy vua Chiêu Thống ra oai tác phúc như thế cũng phải khóc và than rằng :"Trải bao cay đắng, ta mới cầu xin được quân cứu viện sang đây, nước nhà phỏng chịu được bao phen phá hoại bằng cách đền ơn báo oán thế này ? Thôi diệt vong đến nơi rồi !"

Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế và đem quân ra bắc đại phá quân thanh.

Tin của Ngô Văn Sở về đến Phú Xuân, đọc báo cáo của Sở nói thế quân Thanh qúa ghê gớm, Bình Định Vương cười mà rằng :"Việc gì mà cuống quýt lên vậy? Chúng nó chỉ tự đến để tìm chỗ chết mà thôi. Ta trước hết hãy lên ngôi để danh nghĩa được quang minh chính đại, ràng buộc lấy lòng người trong Nam ngoài Bắc rồi sẽ ra bắt sống chúng nó cũng chưa muộn nào !"

Bắc Bình Vương liền đó chọn ngày lành tháng tốt, 25 tháng Một (tức là tháng mười một năm Mău Thân) (1788) làm lễ tế trời ở Bàn Sơn (thuộc địa phận An Cựu quận Hương Trà ngày nay) xưng là Quang Trung Hoàng Đế. Ngay ngày hôm sau vua Quang Trung đem hết quân vưỡt sông ra Bắc. Đến Nghệ An và Thanh Hóa dừng lại nghỉ 10 ngày tuyển thêm quân sĩ  được 8 vạn tất cả tổng cộng thành 10 vạn quân và hơn 100 thớt voi, bèn đóng quân ở Thọ Hạc (nay thuộc huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa), trước hết để quân Thanh không đề phòng, sai người ruổi ngựa đưa thư đến Sĩ Nghị xin đầu hàng. Lời lẽ trong thư rất nhũn nhặn khiêm tốn.

Sĩ Nghị từ khi đến được Thăng Long, tự cho là việc đã xong, có ý khinh địch, nay nhận được thư xin hàng của Nguyễn Huệ lại càng khinh thường.

Trong khi đó quân của Quang Trung tiến đến đèo ba đội, nhập với quân của Ngô văn Sở. Vua Quang Trung điểm duyệt quân sĩ, truyền dụ cho mọi người phải gắng sức diệt giặc cứu nước. Hôm đó là ngày 20 tháng chap năm Mậu Thân (1789).

Bọn Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm đều ra tạ tội kể chuyện quân Tàu thế mạnh đánh không nổi nên phải lui quân về giữ chỗ hiểm yếu.

Vua Quang Trung cười nói rằng :" Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này than coi việc quân. Đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta. Sau khi thua trận tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này ta phải nhờ Thì Nhậm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta đâu cần phải sợ chúng nữa."

Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, để đến hôm trừ tịch (tức là 30 tết) thì xuất quân. Vua cũng định ngày mùng 7 tháng giêng năm Kỷ Dău thì sẽ mở tiệc ăn mừng chiến thắng trong thành Thăng Long.

Liền đó truyền cho tướng sĩ dưới quyền đến nghe lệnh điều khiển :

Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân đem tiền quân đi tiên phong, Hô Hổ Hàu đem hậu quân đi đốc chiến.

Đại Đô Đốc Lộc, Đô Đốc Tuyết, đem hữu quân và thủy quân vượt biển vào sông Lục đầu, sau đó Tuyết kinh lược mặt Hải dương, tiếp ứng đường mé Đông, Lộc thì kéo quân về vùng Lạng Giang, Phượng Nhỡn, Yên Thế, để chặn đường quân Tàu rút chạy về Tầu.

Đại Đô Đốc Bảo, Đô Đốc Mưu, đem tả quân cùng quân tượng mã, đi đường thượng lộ (đường núi) ra đánh phía Tây. Mưu thì xuyên qua huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ), kéo thẳng đến làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì đánh quân Điền Châu. Bảo thì thống xuất quân tượng mã, theo đường huyện Sơn Lãng ra làng Đại Áng huyện Thanh Trì tiếp ứng cho mặt tả.

Năm đạo quân sau khi nghe lệnh đều thu xếp để đúng đêm trừ tịch thì Bắc tiến. Vua Quang Trung vì muốn tốc chiến đã đặt ra cách hành quân như sau, chia quân thành từng tổ 3 người một, cứ hai người khiêng võng cho một người nằm nghỉ, thay nhau khiêng và nghỉ nên quân lính ai cũng khỏe hành quân như gió.

Khi quân sang sông Giản Thủy (tức là bến đò Giản giáp ranh giới Ninh Bình và Hà Nam bây giờ) phá tan cánh quân của nhà Lê ở đây. Vua Quang Trung đích thân đốc quân truy duổi đến huyện Phú Xuyên bắt được trọn đám quân Tầu đóng ở đãy, không một tên nào chạy thoát, vì thế quân Tầu đóng ở làng Hà Hồi và Ngọc Hồi không hề hay biết gì hết.

Nửa đêm ngày mồng 3 Tết Kỷ Dậu, quân ta vây làng Hà Hồi, thuộc huyện Thượng Phúc (nay là xã Hà Hồi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây) vua Quang Trung cho bắc loa gọi lính, lính dạ ran, tiếng dạ của hàng vạn người vang lên như sấm khiến quân Tầu trong đồn hoảng sợ vội xin hàng Quân ta thu được toàn bộ khí giới và quân lương.

Khi tiến đến làng Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì (nay là thôn Ngọc Hồi xã Ngọc Hồi huyện Thanh Trì Hà Nội), quân Tầu ở đây bắn súng ra  như mưa, vua Quang Trung sai lính lấy ván ghép lại, cứ 3 mảnh ghép làm một, lại cho quấn rơm tẩm nước ướt  ở ngoài rồi sai quân kiêu dũng cứ 20 người khiêng một tấm ván, mỗi người đều có giắt dao nhọn, theo sau lại có 20 người cầm khí giới. Vua Quang Trung cưỡi voi đi sau đích thân dốc chiến. Quân ta tiến sát đồn giặc, bỏ ván xuống lấp rào và chà cản rồi xông vào rút dao chém quân Tàu; quân đi sau cũng sấn lên tiến công. Quân Tàu địch không nổi, xôn xao, tán loan xéo lên nhau mà chạy. Quân ta thừa thế đánh tràn lên chiếm các đồn, giết quân Thanh thây nằm chật đất, máu chẩy thành sông. Các tướng Thanh như đề đốc Hứa Thế Hanh, Tiên Phong Trương Sĩ Long, Tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận. Quan Phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống, viên chỉ huy đạo quân thứ 2 của Thanh binh, đóng ở Loa Sơn (tục gọi là Đống Đa), bị quân ta vây ngặt qúa phải tự thắt cổ chết.

(sau này bọn thương buôn người Tàu cư ngụ ở Thăng Long làm đền thờ Sầm Nghi Đống ở ngõ Sầm Công sau phố hàng Buồm Hà nội, bà Hồ Xuân Hương có làm bài thơ vịnh như sau :

            Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

            Kìa đền thái thú đứng cheo leo.

            Ví đây đổi phận làm trai được,

            Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.)

Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được báo tin hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa, cùng vài tên tùy tùng vội vượt sônt bỏ chạy lên phía Bắc. Quân lính nghe tin chủ tướng đã bỏ chai, tan rã cũng chạy theo, tranh nhau qua cầu, cầu bị qúa tải xập gẫy, quân Tâu sa cả xuống song, xác quân Tàu chết đuối làm nghẽn cả dòng sông.

Vua Chiêu Thống cũng vội cùng bà Hoàng Thái Hậu và mấy người cận thần chạy theo Tôn Sĩ Nghị sang Tàu.

Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân diệt giặc, áo ngự bào bị thuốc sung bắn vào khiến đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long. Vua sai tướng đem quân đuổi theo Tôn Sĩ Nghị đến tận cửa Nam quan. Dân  Tàu ở bên kia biên giới Lạng Sơn nghe tin quân ta đuổi đánh sợ qúa bồng bế nhau bỏ nhà cửa chạy lên phía Bắc cả mấy trăm dặm. Suốt dọc biên giới Hoa Việt lúc đó về mặt Bắc hang mấy trăm dặm, tịnh không đâu có tiếng người nào nữa.

Vua Quang Trung vào Thành Thăng Long hôm đó là ngày mồng năm Tết Kỷ Dău, sớm hơn dự trù hai ngày, ban lệnh chiêu an bá tánh, phàm người Tàu trốn tránh ra đầu thú đều cấp cho áo mặc và lương ăn. Lại bắt được cả ấn tín và đồ văn phòng tứ bảo của Tôn Sĩ Nghị bỏ lại. Trong đống văn thư của họ Tôn có một mật chiếu của vua Thanh đại ý ra lệnh cho Sĩ Nghị phải xem xét nếu quân dân còn tưởng nhớ nhà Lê thì kêu gọi quân dân phò tá vua Lê dể diệt Nguyễn Huệ. Nhân đó sai tự quân đánh Nguyễn Huệ, quân Thanh chỉ kéo theo sau hỗ trợ, như vậy không tốn sức mà được việc. Nếu lòng dân nửa nọ nửa kia thì tìm cách giảng hòa với Huệ rồi đợi cho thủy quân ở Mân, Quảng đi đường biển vào đánh Thuận Hóa và Quảng Nam, lúc đó bộ binh sẽ tiến lên hai mặt giáp công thế nào cũng thắng. Nhân đó làm ơn cho cả hai bên, chia đất từ Thuận Hóa trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ, từ các châu Hoan, Ái trở ra Bắc thì phong cho tự quân nhà Lê. Quân Tàu đóng đại quân lại kiềm chế cả đôi bên rồi sẽ xử trí về sau.

Vua Quang Trung xem tờ mật chiếu của vua Thanh bảo với Ngô Thì Nhậm rằng :

Ta xem ra vua Thanh chỉ mượn cớ giúp nhà Lê để lấy nước ta mà thôi. Nay đã bị ta đánh thua tất sẽ xấu hổ, chắc không chịu ở yên. Hai nước cứ tiếp tục đánh nhau thì chỉ làm khổ dân. Vậy nên dùng lời nói khéo để cho khỏi sự đao binh. Việc ấy nhờ nhà ngươi chủ trương mới được.

Sau đó vua Quang Trung sai Ngô Thì Nhậm viết thư lời lẽ mềm mỏng đổ cho tại Tôn Sĩ Nghị, xin tạ tội và xin giảng hòa. Lại sai người đút lót cho bọn Hòa Khôn ở trong triều nhà Thanh và Phúc Khang An tân Tổng Đốc lưỡng Quảng vừa được vua Càn Long cử thay thế Tôn Sĩ Nghị để mưu phục thù, nhưng An nghe tin quân của Quang Trung qúa mạnh đã sợ không muốn xuất quân. Nay nhận được của hối lộ bèn hợp cùng bọn Hòa Khôn tâu lên Thanh Đế cho giảng hòa. Vua Thanh y theo cho thông hiếu và cho xứ sang phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam Quốc Vương.

Vua Quang Trung với chiến thuật thần sầu tốc chiến tốc thắng chỉ với quân số bằng một nửa quân Tàu và chỉ trong vòng chưa tới 10 ngày đã đánh tan đạo quân xâm lược nhà Thanh hơn 20 vạn quân tan tành không còn mảnh giáp. Chiến tích đó thật là thiên niên tiền hậu bất sánh

                                                                                                                                             THANH VĂN

 Ý kiến, Phê bình xin gửi về : thanhvan@khoahoc.net

 

 

Trở về Trang Chính