|
Khi
quê hương Việt Nam đón Xuân về và tưng bừng chuẩn bị ăn Tết thì
tại Mỹ vẫn còn là mùa đông, tuyết lạnh vẫn còn bao phủ thiên
nhiên ở những vùng miền Bắc. Nhưng vào khoảng giửa tháng 3 Xuân
lại đến, những chòm hoa uất-kim-hương (tulip) đầy màu sắc chớm
nở giữa những thảm cỏ xanh. Khi nói đến Xuân, tại thủ đô
Hoa-Thịnh-Đốn người ta không thể quên nói đến mùa hoa anh đào.
Vào khoảng cuối tháng 3, hoa anh đào trắng và hồng nở rộ quanh
Jefferson Memorial cạnh bờ hồ Tidal và ven giòng sông Potomac.
Mỗi năm vào mùa này, khoảng một triệu du khách khắp nước Mỹ và
thế giới đến đây để ngắm hoa và dự Lễ Hội Hoa Anh Đào (Cherry
Blossom Festival).
Lễ Hội Hoa Anh Đào mỗi năm tại Hoa-Thịnh-Đốn là dịp để nhớ lại
tình hữu nghị của Nhật Bản đã trao tặng nước Mỹ 3000 cây anh đào
vào năm 1912. Sau đó, vào năm 1965, Nhật Bản đã trao tặng thêm
3800 cây. Rồi vào năm 1999, một loạt cây anh đào đã được trồng
cạnh bờ hồ Tidal, những cây này được gây giống từ một cây anh
đào nổi tiếng xưa, đã có cách đây 1500 năm tại tĩnh Gifu của
Nhật Bản.

Hoa anh đào bên hồ Tidal, Washington DC.
Vào năm 1930, thành phố Vancouver (Canada) cũng đã được Nhật Bản
tặng 500 cây anh đào. Hiện nay thì Vancouver đã có 36000 cây.
Thành phố này cũng tổ chức
Lễ Hội Hoa Anh Đào vào khoảng cuối tháng 3. Nhưng đặc biệt trong
lễ hội này, họ tổ chức thi làm thơ Haiku. Mỗi năm có khoảng hơn
một nghìn bài thơ được gửi đến dự thi từ 30 quốc gia, với đề tài
chính là hoa anh đào. Bài thơ nào được chọn mỗi năm được khắc
vào tảng đá dựng ở vườn VanDusen Botanical Garden. Haiku là một
thể thơ ngắn của Nhật, chỉ gồm vỏn vẹn 3 hàng, ngắn nhưng diễn
tả được ý tưởng của thi nhân qua hình ảnh. Sau đây là một bài
thơ Haiku. Mới đọc thoáng qua, chúng ta thấy bài thơ rất đơn
giản, nhưng nó chứa đựng một ý tưởng sâu sắc:
Con đường dài
Những cành hoa anh đào trắng
Soi sáng lối đi.
(The long road
boughs of white blossoms
light the way)
Helen Baker, Vancouver
Làm thơ cũng như uống trà là một nghệ thuật trong văn hóa Nhật
Bản. Người Nhật đã kết hợp thú uống trà với tinh thần Thiền của
Phật Giáo, do đó sự phát triển nghệ thuật uống trà đã trở thành
"trà đạo". Bối cảnh nơi uống trà có thể là một khu vườn nhỏ,
được trang trí đơn sơ như những nét chấm phá trong một bức tranh
thủy mạc, nhưng vẫn tạo được ấn tượng thanh bình của một thung
lũng, hay núi non hùng vĩ. Người Nhật hay dùng biểu tượng để
diển đạt ý tưởng. Chúng ta đã có dịp thấy khu vườn Thiền (Zen
garden) của Nhật. Nó rất đơn giản, chỉ có vài tảng đá nhỏ (tượng
trưng cho núi hay đảo) dựng ở giửa cát trắng được cào thành
những vòng tròn (tuợng trưng cho biển) quanh các tảng đá. Nhưng
cách trình bày đơn sơ như vậy cũng đủ tạo nên sự tĩnh lặng và
trong sáng trong tâm hồn dẫn đến thiền định.
Ở Nhật có ba loại hoa anh đào nổi tiếng nhất, đó là
somei-yoshino, ooshima-zakura, và yama-zakura, với màu hồng nhạt
hay trắng.
Trong mùa hoa anh đào nở, nước Nhật
thường tổ chức lễ hội mừng hoa khắp nước. Thanh niên nam nữ tổ
chức cắm trại vui chơi. Các cụ già ngồi uống rượu sake dưới gốc
cây. Trong khi uống sake, nếu có một cánh hoa rơi rụng vào chén
rượu thì mọi người thường hân hoan cho đó là điều may mắn.
Hoa đào tại Việt Nam cũng rất đẹp nhưng không cùng loại với hoa
anh đào của Nhật Bản. Ở ven đô Hà nội,
phía Bắc Hồ Tây là làng Nhật Tân, nổi tiếng về nghề trồng bích
đào và đào phai (đào ăn quả). Hoa bích đào có màu hồng thắm,
nhụy vàng tua tủa. Bích đào là loại hoa đẹp và hiếm quý vì khó
trồng. Nhưng đào phai thì dể trồng và sức sống của nó rất mạnh.
Thị trấn Sapa thuộc vùng Hoàng Liên Sơn là nơi có rất nhiều đào
phai. Dân làng xứ Nhật Tân mua cây đào phai còn non về trồng,
một năm sau cây đủ mạnh, họ xử dụng làm gốc ghép. Trước tháng
11, họ cắt một nhánh bích đào ghép vào gốc cây đào phai, chờ đến
Tết là họ có một cành đào bích thật đẹp đem bán. Mỗi năm mỗi gốc
đào phai chỉ ghép được một cành đào bích.
Tại Đà Lạt, có một nơi trồng cây đào rất nổi tiếng, đó là "Thung
Lũng Đào Hoa Mười Lời", do ông Bùi-Văn-Lời (mà người Đà Lạt
thường gọi là Mười Lời) sáng lập. Ông Lời đã thành công trong
việc ghép đào Nhật Tân nổi tiếng của miền Bắc với đào Đà Lạt để
tạo thành những sắc hoa mới thật đặc sắc của hồng đào, bích đào
và liễu đào.

Cây đào ven hồ Xuân Hương, Dalat
Trong tâm trí của kẻ sống tha hương, những hình ảnh của hiện tại
và quá khứ như hòa lẫn với nhau. Có khi nào chúng ta ngồi bên
giòng sông Seine, Danube hay Potomac mà lòng không tưởng nhớ đến
một giòng sông quê hương? Và khi hoa anh đào nở rộ vào mùa Xuân
nơi đất khách, chúng ta lại nhớ đến những cánh hoa đào hồng hay
đỏ thắm, chen lẫn với những cành mai chậu cúc vàng rực rỡ ở
những vườn hoa, chợ Tết. Một nỗi buồn man mác như xâm chiếm tâm
hồn, buồn vì luyến tiếc hay cách xa những gì thuộc về quá khứ và
kỷ niệm. Cảnh đẹp nhưng lòng ngậm ngùi vì cách xa đã được thi sĩ
Tản Đà diễn đạt qua hai câu thơ trong bài "Tống Biệt":
Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.
Hoa đào và hình ảnh người yêu như không bao giờ cách xa nhau
trong thơ văn. Chúng ta còn nhớ cây đào ở cuối vườn nhà Kiều,
Kim Trọng thường ghé mắt nhìn sang và thấy Kiều duới tàn cây
đào:
Cách tường phải buổi êm trời
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
hay "hoa đào nở sớm" vì người yêu đã ghé qua:
Hoa đào trước ngõ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa.
(Chế Lan Viên, Hoa đào nở sớm).
Riêng đối với tôi, đã sống xa quê hương mấy chục năm nay, mỗi
khi Xuân về trên đất khách, tôi thường trở lại với những hàng
cây anh đào quen thuộc bên sông, nhìn những cánh hồng rơi nhẹ
trong làn gió mát tháng Tư, để rồi cảm thấy cơn mưa tràn ngập
tâm hồn ...
Và từng cánh đào hồng rơi rụng
Nhớ thương về dĩ vãng xa xưa
Hồng rơi mà tưởng cơn mưa
Đêm Xuân từng hạt gió đưa vào hồn.
(Thu Phong, Hương Thoảng)
Thu Phong
Xuân 2008
Trở về Trang Chính
|