NẤU PHỞ, LÀM THƠ


 

Thu Tứ

19 tháng 06 năm 2008

 

Ăn: vay từ ý phở đến cọng bún

Văn: mượn từ, mượn chữ viết, mượn ý

Mượn rồi sửa: ai nấy đều làm

Cái chính là cái sửa rồi có “hay” không

Ai sửa hay được, ai không...

 

Ăn: vay từ ý phở đến cọng bún 

Có lẽ chưa món ăn dân tộc nào được thế giới biết đến nhiều bằng phở. Vũ Bằng, mở đầu Miếng ngon Hà Nội, nhiệt liệt bày tỏ: "... tôi muốn đem phân tách và giải thích (...) những miếng ngon mà người Việt Nam ăn vào (...) thấy thích thú, kiêu hãnh được trời cho làm người Việt Nam." Một trong những "miếng" ấy, mà ông cho là "quà căn bản" và chọn đem ra phân tách trước tiên, là phở. Trong một bài ký nổi tiếng, Nguyễn Tuân cũng hồ hởi: "phở (...) một thứ tiếng hát yêu đời của tất cả những tấm lòng con người Việt Nam chân chính và bình dị."(1) Lòng người hát lên phở!

Phở hát được hay không, "ý" phở có lẽ không sinh ra trên đất nước này. Theo Tô Hoài, phở là ngưu nhục phấn của Trung Quốc được Hà Nội hóa.(2)

Nhắc phở, nhớ bún. Dĩ nhiên người Tàu không phát minh bún ốc, bún riêu, bún thang, bún chả, bún bò v.v. Nhưng căn cứ vào số lượng rất phong phú những nhãn hiệu bún khô của Trung Quốc trên thị trường, có thể đặt vấn đề: cọng bún phải chăng cũng vốn từ bên kia biên giới?

Nói chuyện gốc gác, thì còn mới rành rành là trường hợp bánh mì và cà-phê. Do 100 năm Pháp chiếm, người Việt mới biết ăn bánh mì, biết uống cà-phê.

 

Văn: mượn từ, mượn chữ viết, mượn ý

Cái ăn của ta một phần có gốc bên ngoài. Trong cái nói, vai trò của "ngoài" càng rõ. Tiếng Việt, khi lý luận, chứa rất nhiều từ gốc Hán. 

Ta không chỉ mượn người Tàu từng từ lẻ tẻ mà thôi đâu. Trong thể hát nói, ngay giữa những câu thơ tiếng Việt, ta vô tư chen vào hai câu tiếng Tàu!(3)

Ðể dễ dàng phát triển, ngoài tiếng nói, văn chương cũng cần thêm ít nhiều phương tiện khác. Căn bản nhất là chữ viết. Người Việt không phát minh ra món ấy. Chữ nôm xuất phát từ chữ Hán. Chữ quốc ngữ là sáng kiến của một ông tây.

Văn chương Việt Nam có đặc điểm này khá nổi bật. Là thường mượn ý của người. Nguyễn Du mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Tư tưởng trong văn học cổ điển nói chung chứa nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc. Tư tưởng trong văn học thế kỷ 20 mang dấu vết văn hóa Âu châu.

Ta mượn của người nhiều như vậy, nhưng ta không hề biến thành người.

           

Mượn rồi sửa: ai nấy đều làm

Hình như người Nhật hay băn khoăn về chỗ ít phát minh. Cách nay mười bốn năm, trong tác phẩm gây dư luận một thời, Shintaro Ishihara khoe dân tộc Nhật giỏi mài giũa, trau chuốt, làm cho mọi thứ trở nên tinh xảo, giá trị hơn. Ông nêu mỹ thuật Phật giáo, công nghệ vi điện tử, và cả kỹ thuật chế gươm võ sĩ đạo để dẫn chứng.(4) Bất kể có nguồn gốc bản địa hay ngoại lai, phát minh nào cũng được dân xứ Phù Tang dày công tinh luyện, nâng chất lượng đến mức tuyệt cao.

Người Việt, khi cố hiểu chính mình, thấy đưa ra ý niệm "dung hóa"(5), "vượt gộp"(6), "dung hợp"(7) v.v., ngụ ý ta sở trường thu sáng kiến của người rồi biến hóa nó cho thành cái mới của ta.

Thiết tưởng mài giũa hay dung hóa hay chà láng tử công phu hay pha trộn cầu kỳ quái ảo hay gì gì nữa cũng đều... không có gì lạ, vì tất cả đều được hầu hết dân tộc trên thế giới thường xuyên thực hành! Nào chỉ có ta biết khôn khéo mượn xài thứ nọ thứ kia của Trung Quốc của Tây phương. Chắc chắn Nhật, Hàn, Thái-lan, Ma-lai-xi-a, Mễ-tây-cơ, Chí-lợi v.v. đang ngày đêm làm y hệt. Hơn nữa, chính các "nhà" phát minh "chuyên nghiệp" cũng đều đặn mượn của nhau xài thoải mái, cũng mài giũa, gò nắn, sửa sang lại tùm lum. Khắp mặt đất, trừ một số rất ít dân tộc sống thực sự biệt lập, đâu đâu cũng có người đang rộn rịp thu góp, trau chuốt, "dung hóa", "dung hợp", "vượt gộp" sáng kiến của người.

 

Cái chính là cái sửa rồi có “hay” không

Mượn là sửa. Sửa một lúc, hóa thành món khác. Món của người sửa.

Mấu chốt của vấn đề dường như không nằm trong chi tiết của quá trình tiếp thu - biến hóa (vốn dĩ không độc đáo), mà chủ yếu tập trung ở kết quả, ở cái "hóa phẩm".

Tô phở là hóa phẩm, Truyện Kiều là hóa phẩm. Tất cả những cái đi trước - bất kể là sợi phở, lát thịt bò, bút, mực, chữ viết, hay cái ý "ngưu nhục phấn", cái suy tư "tài mệnh tương đố" - đều hoặc chỉ là phương tiện hoặc chẳng qua cái cớ để ta miên man cảm xúc mà... nấu phở, làm thơ. Tất cả sáng tạo, phát minh "tiền phở", "tiền Kiều" chỉ như là kỹ thuật nhằm phục vụ cho nghệ thuật phở, nghệ thuật Kiều.

Hóa phẩm bộc lộ bản sắc văn hóa. Văn hóa không độc đáo thì hóa phẩm xoàng xĩnh, tầm thường. Văn hóa hay ho thì có thể vay đủ thứ của người mà nấu ra những "miếng" ta hấp dẫn, ngon lành hơn cả món gốc: phở ngon hơn "bát canh bánh" ở Quảng Châu, Truyện Kiều hay hơn Kim Vân Kiều truyện v.v.

 

Ai sửa hay được, ai không...

Liệu người Tàu có công nhận tính ưu việt của phở, có thưởng thức hóa phẩm của Nguyễn Du không? Liệu ông tây bà đầm bên Paris nghĩ sao về món bánh mì kẹp giò lụa rắc muối tiêu?

Vừa định tìm cách thuyết phục Tàu, tây, sực nhớ lời Phật: "Bất khả thuyết."

Không giảng được tại sao Kiều hay, nhưng giải thích tại sao có Kiều lại không khó.

Nguyễn Du có "tay không" mà hóa truyện Tàu thành thơ Việt tuyệt tác được đâu. Ðằng sau ông là cả một nền văn hóa kỳ cựu. Là cả một thứ ngôn ngữ độc đáo đấy chứ.

 

12 – 2002

(In trong Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005)

 

-----------------------------------------

Chú thích:

(1) Nguyễn Tuân, Cảnh sắc và hương vị đất nước, nxb. Tác Phẩm Mới, Việt Nam, 1988, tr. 242.

(2) Tô Hoài, Chuyện cũ Hà Nội, nxb. Hà Nội, VN, 2000, tr. 613-614.

(3) Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Tú Xương, Tản Ðà để lại nhiều bài hát nói bất hủ. "Rằng hay thì thật là hay", nhưng đọc những bài thơ Việt Hán đề huề như thế không khỏi cảm tưởng như ăn bát phở có giò cháo quảy. "Khúc giò cháo quảy" rồi đã nhiều người thử thay bằng hai câu tiếng Việt, nhưng đến khi ấy chính bản thân thể thơ độc đáo đã sống hết thời của nó.

(4) Shintaro Ishihara, The Japan that can say No, nxb. Simon & Schuster, Mỹ, 1989, tr. 57-58.

(5) Ðào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, nxb. TPHCM, Việt Nam, 1992 , tr. 24.

(6) Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Việt Nam, 1998, tr. 28-29.

(7) Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, Việt Nam, 2001, tr. 553.

 

Trở về Trang Chính