|
Ăn: vay từ ý phở đến cọng bún
Văn: mượn từ, mượn chữ viết, mượn ý
Mượn rồi sửa: ai nấy đều làm
Cái chính là cái sửa rồi có “hay” không
Ai sửa hay được, ai không...
Ăn: vay từ ý phở đến cọng bún
Có lẽ chưa món ăn dân tộc nào được thế giới biết đến nhiều bằng
phở. Vũ Bằng, mở đầu Miếng ngon Hà Nội, nhiệt liệt bày
tỏ: "... tôi muốn đem phân tách và giải thích (...) những miếng
ngon mà người Việt Nam ăn vào (...) thấy thích thú, kiêu hãnh
được trời cho làm người Việt Nam." Một trong những "miếng" ấy,
mà ông cho là "quà căn bản" và chọn đem ra phân tách trước tiên,
là phở. Trong một bài ký nổi tiếng, Nguyễn Tuân cũng hồ hởi:
"phở (...) một thứ tiếng hát yêu đời của tất cả những tấm lòng
con người Việt Nam chân chính và bình dị."(1) Lòng người hát
lên phở!
Phở hát được hay không, "ý" phở có lẽ không sinh ra trên đất
nước này. Theo Tô Hoài, phở là ngưu nhục phấn của Trung Quốc
được Hà Nội hóa.(2)
Nhắc phở, nhớ bún. Dĩ nhiên người Tàu không phát minh bún ốc,
bún riêu, bún thang, bún chả, bún bò v.v. Nhưng căn cứ vào số
lượng rất phong phú những nhãn hiệu bún khô của Trung Quốc trên
thị trường, có thể đặt vấn đề: cọng bún phải chăng cũng vốn từ
bên kia biên giới?
Nói chuyện gốc gác, thì còn mới rành rành là trường hợp bánh mì
và cà-phê. Do 100 năm Pháp chiếm, người Việt mới biết ăn bánh
mì, biết uống cà-phê.
Văn: mượn từ, mượn chữ viết, mượn ý
Cái ăn của ta một phần có gốc bên ngoài. Trong cái nói, vai trò
của "ngoài" càng rõ. Tiếng Việt, khi lý luận, chứa rất nhiều từ
gốc Hán.
Ta không chỉ mượn người Tàu từng từ lẻ tẻ mà thôi đâu. Trong thể
hát nói, ngay giữa những câu thơ tiếng Việt, ta vô tư chen vào
hai câu tiếng Tàu!(3)
Ðể dễ dàng phát triển, ngoài tiếng nói, văn chương cũng cần thêm
ít nhiều phương tiện khác. Căn bản nhất là chữ viết. Người Việt
không phát minh ra món ấy. Chữ nôm xuất phát từ chữ Hán. Chữ
quốc ngữ là sáng kiến của một ông tây.
Văn chương Việt Nam có đặc điểm này khá nổi bật. Là thường mượn
ý của người. Nguyễn Du mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.
Tư tưởng trong văn học cổ điển nói chung chứa nhiều ảnh hưởng
của Trung Quốc. Tư tưởng trong văn học thế kỷ 20 mang dấu vết
văn hóa Âu châu.
Ta mượn của người nhiều như vậy, nhưng ta không hề biến thành
người.
Mượn rồi sửa: ai nấy đều làm
Hình như người Nhật hay băn khoăn về chỗ ít phát minh. Cách nay
mười bốn năm, trong tác phẩm gây dư luận một thời, Shintaro
Ishihara khoe dân tộc Nhật giỏi mài giũa, trau chuốt, làm cho
mọi thứ trở nên tinh xảo, giá trị hơn. Ông nêu mỹ thuật Phật
giáo, công nghệ vi điện tử, và cả kỹ thuật chế gươm võ sĩ đạo để
dẫn chứng.(4) Bất kể có nguồn gốc bản địa hay ngoại lai, phát
minh nào cũng được dân xứ Phù Tang dày công tinh luyện, nâng
chất lượng đến mức tuyệt cao.
Người Việt, khi cố hiểu chính mình, thấy đưa ra ý niệm "dung
hóa"(5), "vượt gộp"(6), "dung hợp"(7) v.v., ngụ ý ta sở trường
thu sáng kiến của người rồi biến hóa nó cho thành cái mới của
ta.
Thiết tưởng mài giũa hay dung hóa hay chà láng tử công phu hay
pha trộn cầu kỳ quái ảo hay gì gì nữa cũng đều... không có gì
lạ, vì tất cả đều được hầu hết dân tộc trên thế giới thường
xuyên thực hành! Nào chỉ có ta biết khôn khéo mượn xài thứ nọ
thứ kia của Trung Quốc của Tây phương. Chắc chắn Nhật, Hàn,
Thái-lan, Ma-lai-xi-a, Mễ-tây-cơ, Chí-lợi v.v. đang ngày đêm làm
y hệt. Hơn nữa, chính các "nhà" phát minh "chuyên nghiệp" cũng
đều đặn mượn của nhau xài thoải mái, cũng mài giũa, gò nắn, sửa
sang lại tùm lum. Khắp mặt đất, trừ một số rất ít dân tộc sống
thực sự biệt lập, đâu đâu cũng có người đang rộn rịp thu góp,
trau chuốt, "dung hóa", "dung hợp", "vượt gộp" sáng kiến của
người.
Cái chính là cái sửa rồi có “hay” không
Mượn là sửa. Sửa một lúc, hóa thành món khác. Món của người sửa.
Mấu chốt của vấn đề dường như không nằm trong chi tiết của quá
trình tiếp thu - biến hóa (vốn dĩ không độc đáo), mà chủ yếu tập
trung ở kết quả, ở cái "hóa phẩm".
Tô phở là hóa phẩm, Truyện Kiều là hóa phẩm. Tất cả những
cái đi trước - bất kể là sợi phở, lát thịt bò, bút, mực, chữ
viết, hay cái ý "ngưu nhục phấn", cái suy tư "tài mệnh tương đố"
- đều hoặc chỉ là phương tiện hoặc chẳng qua cái cớ để ta miên
man cảm xúc mà... nấu phở, làm thơ. Tất cả sáng tạo, phát minh
"tiền phở", "tiền Kiều" chỉ như là kỹ thuật nhằm phục vụ
cho nghệ thuật phở, nghệ thuật Kiều.
Hóa phẩm bộc lộ bản sắc văn hóa. Văn hóa không độc đáo thì hóa
phẩm xoàng xĩnh, tầm thường. Văn hóa hay ho thì có thể vay đủ
thứ của người mà nấu ra những "miếng" ta hấp dẫn, ngon lành hơn
cả món gốc: phở ngon hơn "bát canh bánh" ở Quảng Châu, Truyện
Kiều hay hơn Kim Vân Kiều truyện v.v.
Ai sửa hay được, ai không...
Liệu người Tàu có công nhận tính ưu việt của phở, có thưởng thức
hóa phẩm của Nguyễn Du không? Liệu ông tây bà đầm bên Paris nghĩ
sao về món bánh mì kẹp giò lụa rắc muối tiêu?
Vừa định tìm cách thuyết phục Tàu, tây, sực nhớ lời Phật: "Bất
khả thuyết."
Không giảng được tại sao Kiều hay, nhưng giải thích tại
sao có Kiều lại không khó.
Nguyễn Du có "tay không" mà hóa truyện Tàu thành thơ Việt tuyệt
tác được đâu. Ðằng sau ông là cả một nền văn hóa kỳ cựu. Là cả
một thứ ngôn ngữ độc đáo đấy chứ.
12 – 2002
(In trong Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005)
-----------------------------------------
Chú thích:
(1) Nguyễn Tuân, Cảnh sắc và hương vị đất nước, nxb. Tác
Phẩm Mới, Việt Nam, 1988, tr. 242.
(2) Tô Hoài, Chuyện cũ Hà Nội, nxb. Hà Nội, VN, 2000, tr.
613-614.
(3) Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Tú Xương, Tản
Ðà để lại nhiều bài hát nói bất hủ. "Rằng hay thì thật là hay",
nhưng đọc những bài thơ Việt Hán đề huề như thế không khỏi cảm
tưởng như ăn bát phở có giò cháo quảy. "Khúc giò cháo quảy" rồi
đã nhiều người thử thay bằng hai câu tiếng Việt, nhưng đến khi
ấy chính bản thân thể thơ độc đáo đã sống hết thời của nó.
(4) Shintaro Ishihara, The Japan that can say No, nxb.
Simon & Schuster, Mỹ, 1989, tr. 57-58.
(5) Ðào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, nxb. TPHCM,
Việt Nam, 1992 , tr. 24.
(6) Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa -
Thông Tin, Việt Nam, 1998, tr. 28-29.
(7) Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb.
TPHCM, Việt Nam, 2001, tr. 553.
Trở về Trang Chính
|