|
Sáng
thứ bảy, ngồi nhâm nhi ly cà phê một mình trong bếp, chợt nhìn
lên tấm lịch Tam tông Miếu trên tường, Mai không khỏi buông
tiếng thở dài. Chỉ còn một tuần nữa là đám giỗ mẹ. Cái đám giỗ
thứ năm. Nhớ mẹ. Nhớ da diết. Mái tóc trắng như bông. Những năm
cuối đời, bệnh hoạn liên miên, từ một người tướng mạo phương
phi, mẹ trở nên gầy gò, khô héo, bước đi xiêu vẹo! Thân xác có
thay đổi, nhưng tấm lòng từ bi, thương con, thương cháu, thương
tha nhân... vẫn không suy giảm. Mẹ lúc nào cũng vậy. Trái tim
rộng như biển cả, như bầu trời. Hồi trước, nhận những cánh thư
từ các trại tị nạn, của những người quen thân, quen sơ, hay chưa
hề quen (có thể là người quen của một người quen nào đó!) cầu
cứu, mẹ đều hối hả gởi tiền bạc, thuốc men qua giúp đỡ. Có lần
bé Châu cằn nhằn: - Ai quen lạ gì bà cũng cho. Rồi bà còn tiền
đâu mà xài?
Mẹ cười hiền:
-Bà tích đức cho tụi bây đó. Đời bà đã gần cuối
nhưng đời tụi bây còn dài. Đừng bao giờ quên mình ăn thì hết,
người ta ăn thì còn đó con ơi. Vả lại bà già rồi, đâu cần mua
sắm gì nhiều.
....
Ngày xưa mẹ đẹp lắm. Đẹp và thông minh nhứt trong số năm cô con
gái của ông bà ngoại. Người dong dỏng cao, da trắng nõn, cặp mắt
lá răm. Hai bàn tay búp măng tuyệt đẹp. Ông ngoại là điền chủ
miệt Hậu giang. Nhưng không giống những người cùng thời, ông rất
cấp tiến. Trai gái đều được cho đi học như nhau. Trong nhà ông
đặt mua tất cả các thứ sách báo để mọi người cùng đọc, cùng học
hỏi. Ông có một người em làm Đốc phủ sứ tại Sóc Trăng. Ông bà
Bảy có hai trai, cậu Thuận và cậu Hòa. Rất thèm có một cô con
gái, nhưng sau hai cậu, bà không còn sanh thêm lần nào nữa. Một
hôm về Đốc Vàng dự đám giỗ nhà ông ngoại, thấy năm cô tố nữ sàng
sàng tuỗi nhau, cô nào cũng tươi như ngọc như ngà, ông bà ngỏ ý
muốn xin một cô làm con nuôi. Sẵn dịp mẹ vừa học xong hết lớp
tại trường làng, lại là đứa lanh lợi, thông minh, ngoại liền cho
mẹ về làm con nuôi ông bà Bảy. Năm đó mẹ vừa tròn mười một tuổi.
Từ nhỏ quen sống trong cảnh vui nhộn với anh chị em ( cả nhà ba
trai, năm gái). Tự do cười giỡn, chạy nhảy. Quanh nhà vườn tược
rộng mênh mông... Bây giờ phải sống gò bó trong phủ, cậu Thuận
và cậu Hòa lại học tuốt trên Sàigòn, chỉ Ngày Tết hay nghỉ hè
mới về nên mẹ cảm thấy lẻ loi, nhớ mấy đứa em, buồn vô tả! Mỗi
lần bà ngoại xuống Sóc Trăng là mẹ lại khóc lóc đòi về. Ngoại
phải dỗ dành, khuyên nhủ mẹ ráng học thành tài, bỏ ngang uổng
lắm. Nhưng ráng tới hai năm là mẹ đuối! Một lần bà ngoại xuống
Sóc Trăng thăm, lúc về chở đầy một ghe than đước, lợi dụng lúc
hai bà đang bận rộn từ giã nhau, mẹ lẻn trốn xuống ghe. Đi được
mấy tiếng đồng hồ, biết chắc ghe không thể nào trở lui lại được,
mẹ mới ló đầu ra. Tuy tức giận hết sức, nhưng nhìn thấy mặt mũi,
mình mẫy mẹ như con lọ lem, bà ngoại phải phì cười... Về tới nhà
mẹ bị ông ngoại cho một trận đòn nhớ đời! Bị đòn đau lắm nhưng
mẹ nhứt định không trở xuống Sóc Trăng nữa. Ông bà ngoại đành
cho mẹ theo dì Trâm học nữ công, gia chánh.
Trong thời gian còn ở Sóc Trăng với ông bà Bảy, có
nhiều chuyện nho nhỏ xảy ra khiến cho khối óc non nớt của mẹ nhớ
hoài và cũng là tấm gương sáng cho mẹ sau này. Số là một hôm mẹ
theo chị bếp xách giỏ đi chợ. Mua xong nải chuối già hương chín
vàng, hai người ngồi xề xuống gánh bánh canh kêu hai tô. Cái giỏ
có nải chuối đặt bên cạnh. Say sưa với tô bánh canh bột lọc, giò
heo, tôm cua béo ngậy.. không ai để ý đến cái giỏ. Chừng ăn xong
quay qua kiếm, thì cái giỏ cùng nải chuối đã không cánh mà bay
mất tiêu! Hai người dáo dác chạy đi kiếm. Cuối cùng bắt gặp cái
giỏ có nài chuối trên tay một chị nhà quê. Chị bếp giận dữ giựt
cái giỏ lại, nhưng chị kia cũng không vừa, nhất định không
buông. Hai bên vừa dằng co vừa cãi lộn om sòm, người nào mặt
mũi cũng đỏ như gấc, thì may có chú Đội đi qua. Chị bếp mừng
quá gọi chú lại. Có mẹ làm chứng, nên chú Đội bắt người đàn bà
kia dẫn về phủ, phạt nhổ cỏ trước sân.
Tan buổi hầu, dùng cơm trưa xong, ông Bảy đi thơ
thẩn trước hàng ba cho tiêu cơm, chợt nhìn thấy một người đàn bà
đang lom khom nhổ cỏ dưới cái nắng chang chang. Nhưng điều làm
ông ngạc nhiên là ngoài cổng có một người đàn ông, tay bồng đứa
nhỏ chừng một tuổi, đi qua đi lại, cặp mắt nhìn chăm chăm vào
người đàn bà. Đứa trẻ thỉnh thoảng lại dẩy dụa, khóc ré lên.
Người đàn ông vừa dỗ con vừa nhăn nhó ra chiều rất đau khổ!
Ông Bảy kêu người nhà ra hỏi. Biết được nguyên nhân, ông cho gọi
chú Đội lên rồi quở rằng:
-
-Làm người
ai cũng biết xấu hổ. Nếu cô ta có đánh liều ăn cắp nải chuối,
cũng bởi cô ta thèm mà không có tiền mua. Tội này không đáng bị
trừng phạt như vậy, nhứt là bắt đứa trẻ phải chịu khát sữa,
tội nghiệp quá!
Ông bảo
tha người đàn bà về và cho luôn nải chuối. Giáp ranh nhà ông
ngoại ở Đốc Vàng là nhà ông Ba Thạnh. Ông này có bà con xa. Tuy
không nghèo nhưng bản tánh keo kiệt, tham lam, nhiều lần lén lút
lấn ranh đất nhà ông ngoại nên hai gia đình thường xảy ra cải
cọ. Sau này giặc giả, gia cảnh sa sút, ông ba Thạnh xoay qua
buôn bán. Có lần ông chở một ghe đồ gỗ đi bán dọc theo các tỉnh
hai bên bờ sông Cửu Long. Ghé tới Sóc Trăng, ông ta bị bắt vì
tội không đóng thuế thân. Lúc bị đưa vào công đường, nhìn thấy
ông Bảy, ông ta hồn bất phụ thể, chắc mẻm phen này thế nào cũng
bị ông Phủ phạt nặng để trả thù cho ông anh. Nào ngờ, khi nhận
ra ông ba Thạnh, ông Bảy niềm nở hỏi han và còn ứng ba đồng bạc
cho ông ta đóng thuế. Nói làm sao hết nỗi vui mừng và lòng biết
ơn của ông ba Thạnh! Khi trở về Đốc Vàng, đi tới đâu ông ta cũng
hết lòng ca ngợi ông Bảy và cuộc chiến tranh lấn đất với ông
ngoại cũng tự động tan biến luôn...
Mẹ lấy ba năm mười bảy tuổi, qua sự mai mối của một
bà bác dâu. Bà này góa chồng sớm, một tay bương chải nuôi đàn
con thơ. Quanh năm với chiếc áo dài đen, tay xách cây dù xuôi
ngược khắp nơi. Nhà nào có cam quít, soài, dừa...là có bà đến
thăm. Bà cũng là thân chủ thường xuyên bao trái cây vườn nhà ông
nội của Mai. Khâm phục sự đảm đang, giỏi dắn của bà, một hôm ông
hỏi bà có cô cháu gái nào đến tuổi cập kê thì làm ơn mai mối cho
con trai của ông (ngược lại với ông ngoại, ông nội có năm trai,
ba gái). Ông nói: - Tui chắc cháu chị cũng sẽ giỏi giang như
chị. Nói dại sau này con tui có qua đời sớm, tui cũng yên tâm
cho lũ cháu- không ngờ lời tiên đoán này lại trúng phóc! Cha
chả, gì chớ cháu gái bà đâu có thiếu! Vả lại một bên là ông Cả,
một bên là ông Chủ, môn đăng hộ đối quá rồi còn gì nữa? Bà bèn
nhận lời và về bàn bạc với ông bà ngoại.
Mẹ mười sáu, ba hai mươi. Hôm đàng trai đến xem mắt,
vẻ khôi ngô tuấn tú của ba làm mẹ xiêu lòng liền và nét duyên
dáng, yểu điệu của mẹ cũng khiến ba khó mà từ chối!
Sau đám hỏi, mẹ bắt đầu sửa soạn may áo quần, mùng
mền...chuẩn bị cho cuộc đời làm vợ tương lai. Nhưng mẹ đâu có
ngờ giấc mộng đầy hoa gấm của mình tan tành như mây khói, chỉ
vài ngày sau khi bước chân qua ngưỡng cửa nhà chồng! Bà nội là
người có đầu óc cổ hủ. Bà khắt khe với tất cả các con dâu. Bác
ba Đại là trưởng nam của ông nội. Lúc còn học trên Sàigòn, bác
gặp và thương bác gái, ông bà phải lên Sàigòn tổ chức đám cưới.
Gia đình bác gái dân tây, quen cách sống phóng khoáng nên về quê
làm dâu chưa đầy một tháng, bác chịu không nổi, nhứt định đòi
trở về với gia đình trên Sàigòn. Cuối cùng bác trai cũng đành
cuốn gói chạy theo tiếng gọi của con...tim! Rồi lập nghiệp luôn
trên đó.
Bà ngoại biết mẹ yếu đuối, không quen cực khổ, nên
lúc về nhà chồng, bà cho một cô tớ gái đi theo, hầu đỡ đần những
công việc nặng nề. Nhưng bà nội có một lập trường dứt khoát,
chắc như đinh đóng cột: - Nhà tôi là nhà làm ăn, không phải chỗ
cho mọi người bẹo hình bẹo dạng, quần là aó lượt!
Mẹ đành thở dài, xót xa xếp những chiếc áo gấm, áo
thêu, mà mẹ đã bỏ ra biết bao nhiêu tâm huyết để hoàn tất, xuống
tận đáy rương. Những chiếc quần cẩm tự, sa ten tuyết nhung trắng
muốt được đem nhuộm đen... Từ một tiểu thư đài các, nếu không
thêu may thì cũng đọc sách hoặc làm các thứ bánh trái, bây giờ
phải thức khuya dậy sớm, suốt ngày làm quần quật không ngơi tay,
nên mẹ cứ bịnh hoài. Bà nội càng ghét, cho là mẹ làm bộ nhõng
nhẽo với ba để trốn việc!
Lúc anh Tùng chào đời, mẹ mừng lắm, tưởng sẽ được tự
tay săn sóc cho con, nào ngờ bà nội dành luôn nhiệm vụ đó. Nhiều
lúc anh khát sữa khóc lả người, bà vẫn điềm nhiên cho anh bú...
vú da! Mẹ đứt từng đoạn ruột nhưng không dám phản đối. Ông nội
biết tánh bà nên hay binh mẹ. Điều này chẳng những không có lợi,
mà còn bị " ép phê" ngược!!
Ba là một người đàn ông rất đẹp trai, tính tình hào
hoa, ăn nói lại duyên dáng, nên các bà các cô mê như điếu đổ.
Trong đám tá điền của ông nội có gia đình ông Sáu Can ở cách nhà
độ ba cây số. Hai ông bà có một cô con gái rất đẹp tên Kim
Phụng. Người đẹp nhưng tính nết lẳng lơ. Không hiểu cô ta ỏn
thót làm sao, mà ông thân sinh hào hoa phong nhã của Mai quyết
định lập cô ta làm... phòng nhì ( tất nhiên bà chánh thất không
hề được đức lang quân thông báo cái chương trình rất ư là kém
hấp dẫn này!). Có điều ổng mù tịt là bà có một màn lưới gián
điệp rất bén nhạy. Nhờ Mai có một bà cô họ nổi danh Sư Tử Hà
Đông: ông chồng bà thuộc loại già không bỏ nhỏ không tha nên bà
có tai mắt khắp nơi. Mấy " con đĩ ngựa" vừa mới nhúc nhích ngón
tay út là bà đã được ...vô tuyến truyền miệng thông báo liền tức
khắc . Vì vậy mẹ biết đích xác ngày giờ và nơi chốn của buổi
tiệc " tân hôn" sắp diễn ra.
Tối " hôm đó", sau bữa cơm chiều, ba lấy xe đạp ra
đi, trên tay có cầm một gói giấy khá lớn. Mẹ hỏi đi đâu, ông trả
lời đi họp. Mẹ vẫn thản nhìên, mặt không hề đổi sắc. Độ mươi
phút sau, bà tập hợp đám tay chân bộ hạ gồm có chị Xuân, chị Yến
(con cô hai Bạch) và chị Thư (con bác ba Chung). Tất nhiên là mẹ
phải trả tiền công và năn nỉ gãy lưỡi họ mới chịu hợp tác. Mấy
cô sợ bị chú Tân đánh đòn. Năm đó lớn nhất là chị Xuân, mười ba
tuổi, chị Thơ mười hai, chị Yến mới mười một. Nhà quê ban đêm
trời tối như mực. Mấy thiếm cháu phải đốt đuốc mới thấy đường
đi. Gần tới nhà cô Phụng, mẹ tắt đuốc đứng xa xa rình. Trong nhà
đèn đuốc sáng choang, tiếng cười nói vang ra tới ngoài lộ. Khi
nghe tiếng ba dặn người câu đêm được bao nhiêu tôm cá cũng phải
đem lại hết thì mẹ mất bình tĩnh, kéo đám lâu la tới ngay trước
cửa. Tội nghiệp đám nhi đồng run như cầy sấy! Mẹ sôi gan khi
nhìn thấy ông chồng yêu quí của bà đứng song song với " con "
Kim Phụng trước bàn thờ gia tiên nghi nghút khói hương. Lại còn
dám diện cái áo dài gấm xanh nữa mới là động thiên đình! Cặp mắt
toé lửa, bà xông vô nhà, túm ngay vạt áo dài của ông kéo mạnh.
Vạt áo tét lên tới nách! Tay kéo miệng la:
- Anh
làm cái gì đây? Đám cưới hả?
Ba Mai thấy vợ thì rụng rời. Một tay bụm miệng bà,
một tay ôm ngang eo ếch, lôi ra khỏi nhà. Mẹ dãy dụa kịch liệt,
nhưng vốn yếu đuối nên chống cự không nổi, bị lôi trở ra đường
lộ. Để bà đứng đó dậm chân khóc lóc, ông vội chạy đi lấy xe đạp,
rồi kéo bà lên ngồi trên đòn dong, hối hả đạp đi, mặc cho đám
nhỏ vừa chạy theo sau vừa khóc ỏm tỏi vì... sợ ma!! Hôm sau,
biết được chuyện, mẹ bị bà nội rầy cho một trận :
-Trai năm thê bảy thiếp là chuyện thường. Nó đi
chán rồi lại về, có... hao mòn, sứt mẻ gì đâu mà phải ghen!?
Mỗi lần được về thăm ông bà ngoại là mẹ mừng còn
hơn bắt được vàng. Mặc sức ăn, ngủ, cười giỡn. Càng gần tới
ngày phải trở về nhà chồng, mẹ càng u sầu, ủ dột. Bà ngoại chuẩn
bị đủ thứ quà cáp để mua lòng bà sui. Mẹ kể, ghe về gần đến nhà,
xa xa nhìn thấy cái cầu tàu nhà ông bà nội, mẹ chỉ muốn nhảy
xuống sông tự tử phứt cho rồi! Có lần Mai nói nếu là con thì con
không thèm trở về. Ở luôn nhà ông ngoại cho khỏe! Mẹ lắc đầu,
chép miệng:
-Bộ con tưởng mẹ chưa từng nghĩ đến điều đó sao?
Nhưng thời xưa, con gái bỏ chồng là một điều sỉ nhục cho gia
đình. Ai gặp trường hợp của mẹ cũng đành phải cắn răng chịu đựng
thôi.
Mai
thầm nghĩ các cụ ngày xưa quả có một " nội lực" phi thường. Có
lần cô Tư Xuân của Mai phát biểu một cách khinh bỉ, khi nghe
cặp bạn của con bà sắp sửa ly dị vì lý do... hổng hợp tính tình:
-Chèn ơi, hồi đó mà như bây giờ, chắc tao đã bỏ ba tụi bây
cả trăm lần rồi! Ngày nay thay vợ đổi chồng còn lẹ hơn thay áo.
Tao thấy mà bắt chóng mặt!
... Có
điều an ủi là mẹ được mọi người trong làng yêu mến. Bất cứ ai
cần gì mẹ cũng giúp đỡ tận tình. Ngay từ thuở còn chạy chơi với
đám bạn nhỏ trong xóm, mẹ đã biểu lộ cái tánh thương người.
Trong làng có một người đàn bà tên Lý. Lúc trẻ lên tỉnh làm nghề
"không vốn". Mới ngoài ba mươi đã vướng phải bịnh giang mai.
Thân tàn ma dại, đi đứng không nổi cũng ráng mò về làng cũ.
Nhưng đi đến đâu cũng bị thiên hạ xua đuổi. Mẹ thấy vậy huy động
các bạn, cất một cái chòi lá phía sau đình làng, để bà ta có chỗ
che nắng che mưa. Lúc đầu phân công mỗi ngày một đứa đem thức ăn
cho bà . Sau đó đám bạn bỏ cuộc dần dần, cuối cùng chỉ còn mẹ
hằng ngày vẫn đem cơm nuôi bà ta cho đến lúc qua đời. Chuyện này
đương nhiên vì không có thuốc làm sao hết bịnh?.
Trong cuộc đất của ông nội, có gia đình bác Hai Dần,
con đông lại ngèo xác nghèo xơ. Bác cho đứa con trai tên Hiền,
năm đó độ mười lăm mười sáu, ở cho ông nội sai vặt. Bác gái hằng
ngày xách cần đi từ bến nọ qua bến kia, câu những con cá lụn
vụn như cá lòng tong, cá chốt, cá mại, cá trèn... đủ cho hai bữa
cơm. Ba cô lớn, đến mùa lúa thì cấy mạ mướn, lúc lúa chín thì
đi gặt . Hai đứa nhỏ nhứt mót lúa để dành ăn. Riêng bác trai
mắc bịnh lao, ốm yếu hom hem nên được miễn lao động!...Năm ngoài
Bắc bị nạn đói chết hơn một triệu người, miền Nam cũng gặp nhiều
khó khăn. Một hôm mẹ qua nhà bác Dần định nhờ việc gì đó. Thấy
trong nhà im lìm, mẹ lên tiếng gọi cũng không ai trả lời. Lấy
làm lạ bà bước vô xem thử, chợt thấy bác trai nằm trên cái chỏng
tre, thở thoi thóp. Thấy mẹ, bác gượng ngồi dậy nhưng không nổi
lại nằm vật xuống. Mẹ định lên tiếng hỏi thì vừa lúc bác gái
xách cần câu và cái giỏ có lèo tèo mấy con cá lòng tong về tới.
Bác gái cũng ốm nhom, đi không muốn nổi! Vừa thấy mẹ, bác oà
lên khóc. Mẹ hỏi mới biết rằng cả mười ngày nay nhà bác không có
một hột gạo. Phải ăn rau luộc cầm hơi, chờ mấy cô con gái đi cấy
lúa mướn đem tiền về. Chỉ lo bác trai yếu quá sợ không qua nổi.
Nghe xong mẹ vội vàng về nhà, lén bà nội xúc một thúng gạo biểu
anh Hiền bưng về cho mẹ anh nấu cơm. Từ đó, thỉnh thoảng mẹ lại
dấu diếm ít gạo, nước mắm tiếp tế cho gia đình bác Dần qua cơn
túng quẩn.
Một gia đình khác, bác Tư Đức cũng nghèo và đông con
như bác Hai Dần (cái mục này rất dễ hiểu, vì nhà nghèo không có
thú vui lành mạnh nào ngoài cái thú vui sản xuất... nhi đồng!).
Cậu con trai mười bốn tuổi tên Đẩu ở chăn đàn bò cho ông nội.
Cùng nạn đói ngoài Bắc, trong Nam bị nạn thiếu vải trầm trọng
nên dân nghèo phải mặc rách rưới, vá chằng vá đụp. Còn rận thì
vô số kể. Người nào người nấy ngồi đâu gãi đó, gãi đến toé máu
mới thôi! Quần áo cả nhà mẹ luôn luôn bắt nấu với nước sôi để
diệt trứng rận.
Trong Nam, khoảng tháng mười, tháng mười một âm lịch,
cũng có chút gió bấc thổi hiu hiu. Tuy gió hiu hiu nhưng cũng
lạnh se da. Một hôm ra thăm ruộng, mẹ ngạc nhiên tột độ khi nhận
ra giữa đàn bò đang nhởn nhơ ăn cỏ, anh cu Đẩu trần truồng như
nhộng ngồi trên lưng con bò Đốm. Mỗi khi cơn gió bấc thổi qua,
cậu ta lại run lên cầm cập! Hỏi ra mới biết cả nhà bây giờ chỉ
còn mấy bộ đồ rách te tua, dành cho bác gái và mấy cô chị của
cậu. Ngay cả bác trai cũng chỉ đóng cái khố... Ba Mai làm sở lúa
gạo dưới Sađéc nên nhà lúc nào cũng có trữ nhiều bao bố tời. Mẹ
lén lấy một mớ, bảo anh Đẩu đem về để bác gái cắt thành quần áo
cho cả nhà mặc đỡ và không quên đưa thêm vài bộ đồ cũ của mẹ cho
mấy chị mặc khi đi ra ngoài... Kể sao cho hết những nghĩa cử
của mẹ đối với chòm xóm, láng giềng...
Rất lâu, sau này đi làm ăn xa trên vùng cao nguyên
Trung phần, một hôm Mai thấy mẹ dẫn về nhà một cô gái độ mười
bảy mười tám. Người ngợm chỉ còn là một bộ xương biết đi. Mẹ nói
gặp cô ta đang lang thang ngoài đường, đi đứng xiêu vẹo như
người hết hơi! Cô ta nói bị bịnh thương hàn, nằm nhà thương mới
xuất viện sáng nay. Tứ cố vô thân không biết đi về đâu. Động
lòng trắc ẩn mẹ dẫn về nhà nuôi cho mạnh, sau đó muốn đi đâu thì
đi...
Những năm giặc giã sôi động, ba lên Sàigòn ở với chú Sáu Tú.
Một mình mẹ phải cáng đáng hết mọi việc trong ngoài. Thỉnh
thoảng còn phải dẫn chị em Mai chạy tuốt vô trong đồng sâu trốn
những trận ruồng bố của lính Tây. Cực ơi là cực. Vậy mà không
bao giờ mẹ mở miệng than van.
Đến khi chú út Khang lập gia đình thì ông bà nội cho
ba mẹ ra riêng. Cũng tứ lúc đó ba bắt đầu bị đau bao tử và chai
gan, nên sức khoẻ yếu dần và mẹ cũng bắt đầu đi vào con đường
thương mại. Cũng giống như bà bác dâu thủa nào, mẹ đi khắp nơi
tìm mua những thứ có thể bán được. Từ gà vịt, heo bò đến trái
cây đủ loại...Mai còn nhớ như in một lần theo mẹ chở một ghe
soài hòn xuống Vĩnh Long. Giữa đường giông gió nổi lên, mưa như
trút nước. Chiếc ghe nghiêng qua ngã lại như sắp chìm. Mai run
như cầy sấy, ôm mẹ chặt cứng vì tưởng hai mẹ con sắp bỏ mạng
trên giòng sông Cửu Long, mà thường ngày Mai thấy rất hiền
hòa!...May mắn lần đó tai qua nạn khỏi.
Anh Thăng và chị Lan lần lượt lập gia đình. Đến năm
Mai lên mười bốn thì ba mất vì chứng xuất huyết bao tử. Sau đó
Mai rời bỏ miền Hậu giang cây trái sum suê, theo mẹ lên lập
nghiệp nơi miền Cao nguyên đồi núi chập chùng.
Những tháng đầu lạ nước lạ cái lại không quen ai, mẹ
gặp rất nhiều khó khăn. Bị những người đi trước chèn ép, hiếp
đáp. Nếu là người khác chắc chắn đã bỏ cuộc. Nhưng mẹ là một
người tính khí quật cường, lại từng được tôi luyện trong "lò"
của bà nội suốt mười mấy năm ròng, nên nhất định không lùi bước!
Và bà đã thắng cuộc. Khách hàng thích tánh tình vui vẻ, cởi mở
của mẹ nên tiệm lúc nào cũng nườm nượp khách...
Mỗi lần về quê thăm nhà, mẹ mang rất nhiều tiền bạc,
vải vóc để giúp đỡ cho người nghèo . Những năm cuối đời, bà nội
bị lòa và đi đứng không được, chỉ ngồi một chỗ. Có lần Mai về
thăm bà, bà nắm chặt tay Mai, mếu máo nói:- Tội nghiệp mẹ con,
hồi xưa cực khổ quá! Mai cảm động bóp bóp tay bà, nói vài câu an
ủi. Trong thâm tâm, Mai cho rằng đó là những lời nói sáng suốt
nhất trong cuộc đời của bà!. Thiếm út Khang, đầu tắt mặt tối với
đàn con gần chục đứa, đâu hơi sức nào để ý đến những lời chì
chiếc của bà nội, nên bà nói gì thì cứ nói, thiếm xem như gió
thoảng bên tai, tỉnh rụi như không!
Dù ở xa, nhưng mỗi lần có chuyện cần kíp là anh
Thăng, chị Lan lại đánh điện cầu cứu. Mẹ vội vàng bỏ hết công
việc, về quê để giải quyết mọi vấn đề rắc rối cho các con.
Sau 75, theo vợ chồng Mai sang Canada, mẹ trăn trở,
thở dài, than vắn. Cắc ca cắc củm nào vải vóc, thuốc men, tiền
bạc... gởi về Việt Nam cho gia đình anh Thăng, chị Lan. Mỗi bận
nghe có thiên tai, bão lụt mẹ lại mất ăn, mất ngủ, đêm ngày
ngóng trông tin tức....
Trời sinh ra mẹ là để lo cho tha nhân. Có cái quần
cái áo nào đẹp, ai ngỏ ý thích cũng sẵn sàng tặng ngay. Món ngon
vật lạ gì cũng dành cho con cho cháu. Không bao giờ nghĩ cho
chính bản thân mình. Mẹ không đi nhà thờ, cũng chẳng đi chùa,
nhưng lại giúp đỡ người vô số. Sau khi qua đời, có cả chục gia
đình, đã từng thọ ơn bà, xin ảnh để thờ.
Cái mảnh vườn con con ở góc sân, lúc còn sanh tiền mẹ
trồng đủ thứ rau: mồng tơi, quế, răm, húng, tía tô, thìa là...
Mai vẫn giữ y nguyên. Mấy cây bạc hà tươi tốt, cứ đến mùa đông
là Tiến lại đánh vào chậu, mang vô garage. Từ sáu năm nay, mỗi
sáng đứng trong phòng nhìn qua cửa sổ, Mai vẫn có cảm tưởng như
nhìn thấy bóng mẹ với mái tóc bạc phơ, thấp thoáng bên mấy luống
rau, vừa tưới nước vừa nhổ cỏ dại, hoặc đang nâng niu từng cọng
ngò, lá cải...
Bé Ngà trong phòng đi ra, thấy mẹ bèn xà xuống ngồi
bên cạnh. Mai nói với con:
- Chúa nhật tới này cả nhà mình đi chùa. Tới ngày giỗ
ngoại rồi đó con.
Bé Ngà chu mỏ
:
-Đi dự lễ, dự văn nghệ thì vui, nhưng nhớ bà quá à!
Con bé lẩm nhẩm tính rồi nói tiếp:
- Ngoại
mất sáu năm rồi hả mẹ?
Mai gật
đầu, giọng sũng buồn:
-Ừ sáu năm rồi. Nhưng kỳ ghê, lúc nào mẹ cũng có cảm
tương như bà vẫn còn sống trong gia đình mình.
Bé Ngà
cười cười:
- Mà có cái lạ nữa là từ xưa mẹ rất sợ ma. Bây giờ tự
nhiên mẹ "tiến bộ" hẳn, dám ở nhà một mình.
- Đâu
có gì lạ. Ngoại lẩn quất ở đây, ma cỏ nào dám hiện hồn nhát mẹ?
Có ngoại bảo vệ là mẹ yên chí lớn.
Ngà ôm
cổ mẹ, cười như nắc nẻ:
- Trời ơi, con không ngờ mẹ chưa già đã lẩm cẩm! Theo
con, người tốt như bà, giờ này chắc phải đang "hưởng phước"
trên thiên đàng mới hợp lý.
Mai
cười theo con:
- Ừ, mẹ
cũng biết điều đó. Nhưng mẹ thương ngoại quá, cứ "nghĩ đại" như
vậy, có chết ông tây đen nào đâu mà sợ. Rồi nhìn đồng hồ Mai hối
con:
- Lẹ lẹ lên cô nương, kẻo trể giờ
học tiếng Việt. Tuần rồi mẹ nghe cô giáo nói sẽ dạy tụi con bài
Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân đó. Bài này mẹ đã từng hát cách đây
bốn chục năm.
Ngà lúc
lắc cái đầu, tay vuốt mái tóc huyền chảy xuống tới thắt lưng:
- Con
biết bài đó rồi, con nghe trong cuốn băng của cô Hoàng Oanh.
Rồi con
bé cất giọng trong như giòng suối mát:
Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình
dạt dào
Lòng mẹ tha thiết như giòng suối
hiền ngọt ngào...
Mai
không ngăn được niềm cảm xúc, len lén đưa tay chùi vội giọt nước
mắt vừa lăn tròn xuống má, gọi thầm : Mẹ ơi...
TIỂU-THU
Trở về Trang Chính
|