|
Sáng nay tuy thứ sáu nhưng được nghỉ ở nhà, sướng ơi
là sướng. Từ khi bước qua cái lằn ranh "tri thiên mệnh", tôi
quyết định chỉ làm việc bán thời gian. Chồng, con đều đi làm,
căn nhà yên tĩnh đến nỗi mình phát ù cả tai!!! Nói cho vui chớ
thiệt tình ngồi tà tà nhâm nhi ly cà phê phin, thay cho những ly
cà phê instantané ở sở, thưởng thức chiếc bánh croissant mới
nướng nóng hổi, dòn tan bỗng cảm thấy đời...đáng yêu quá chừng
chừng!...
Nhưng tôi đã quên cái téléphone! Cái vật mà tôi cho
là lợi hại nhứt trên đời. Lợi cũng nhiều mà hại thì...không đếm
xuể! Đang lơ mơ thả hồn theo khói... cà phê thì bỗng giật bắn
người vì tiếng chuông điện thoại. Tiếng bà chị thân mến bên kia
đầu đầu dây:
- Thơ
đó hả?
- Chính thị. Có chuyện gì mà kêu em sớm vậy? Tính đi
"shop" hả. Tuần này em không có lương đâu nghen...
Nhưng chị Thủy cắt ngang:
- Shop gì mà shop. Thằng Phước, con trai lớn của chị
còn ở Việt Nam, mới phone cho chị hồi nảy. Nó nói năm nay mực
nước sông Cái cũng lên cao nhưng chưa đến nỗi lụt như năm ngoái!
Vợ chồng con cái nó đều mạnh, nhưng có tin buồn là dì Liên vừa
qua đời, cách đây một tuần. Vợ chồng nó có đi đưa đám...
Tôi cứ để mặc cho chị Thủy độc thoại. Tâm hồn tôi
giờ đây đang trở về mấy mươi năm trước. Tại Sađéc, gia đình tôi
ở sát cạnh hãng bánh phồng tôm Sa-Giang, dì Liên ở gần cầu Cái
Sơn. Dì sống thui thủi một mình với một người lão bộc. Người dì
xinh đẹp, hiền dịu và tài hoa của tôi nay đã ra người thiên
cổ...
Dì vừa là con nuôi vừa là cháu kêu bà ngoại tôi bằng
dì. Mẹ dì là em ruột bà ngoại. Năm dì lên ba tuổi, cha mẹ dì
buôn bán bên Bến Tre, rủi bị dịch tả, cả hai đều qua đời, rất
trẻ. Vậy là dì Liên mồ côi cả cha lẫn mẹ trong vòng có mấy ngày!
Có câu không cha níu chân chú. Không mẹ bú vú dì. Bà ngoại tôi
đem cháu về nuôi. Đã có bốn cô con gái rồi bây giờ thêm một cô
nữa cho thành Ngũ Long Công Chúa càng tốt! Năm đó mẹ tôi đã lên
mười ba. Bà cũng thương và săn sóc dì Liên như mấy cô em ruột.
Càng lớn dì càng xinh đẹp và thông minh vô cùng. Ông ngoại tôi
rất cấp tiến. Đối với con không hề phân biệt trai gái. Miễn học
được là ông cho học. Hai ông bà rất thương dì Liên, vì ngoài tài
học, dì biết kính trên nhường dưới, dịu dàng và khéo léo hết
sức. Bà ngoại dạy làm món bánh mứt gì là dì làm được ngay. Chẳng
những vậy mà đôi khi còn biết gia giảm cho ngon hơn, đẹp hơn. Ai
có món gì hay, khéo là dì phải kiếm cách học cho bằng được.
Trong họ nhà nào có đám giỗ, đám cưới dì đều chịu khó thức khuya
dậy sớm, theo sát các bà cô, bà thiếm để học nghề. Trường ở Đốc
Vàng thuở đó chỉ có tới lớp ba là hết, nên ông bà ngoại phải gởi
mấy dì qua ở nội trú với các Sơ bên Cù lao Gieng học tiếp. Tại
đây ngoài chuyện học chữ, các dì còn được mấy Sơ dạy thêu thùa,
may vá. Như thường lệ, dì Liên vẫn là đứa học trò xuất sắc nhứt.
Năm dì Liên lên chín thì mẹ tôi đã lấy chồng về Cao
Lãnh. Làm dâu đâu được hai năm, sanh đứa con đầu lòng là mẹ tôi
phải theo ba lên Saìgòn. Ông nội có cho xây ba căn nhà liền nhau
ở đường Lê Quang Định, sát Ngã Tư Bình Hòa. Bác Ba, bác Tư và ba
tôi đều được mỗi người một căn. Bác Ba tôi mê xe còn hơn mê vợ,
nên mượn nợ Chà mua hai chiếc xe vận tải. Ngờ đâu bị Việt Minh
gán cho bác cái tội hợp tác với Tây, chận xe lại đốt cháy tiêu
luôn! Bác trai sợ bị chủ nợ siết nhà, nên nói bác gái nhờ người
bạn thân nhứt đứng tên giùm căn nhà của bác. Nhưng dò sông dò
biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người. Một hôm trời mưa
gió dầm dề, bác gái vừa mới sanh chị Cúc được hai tuần, thì bị
bà bạn thân quý hóa cho người tới liệng đồ đạc ra đường, cướp
căn nhà ngon ơ! Há miệng mắc quai, nên hai bác đành ôm hận chịu
mất căn nhà. Bác Tư tôi cũng không khá gì hơn. Không mê xe nhưng
lại mê cờ bạc. Cái đam mê này cũng nguy hiểm chết người chớ
không chơi. Có bao nhiêu tiền bác đem nướng hết vô sòng bạc Đại
Thế Giới. Hết tiền phải mượn nợ bọn đầu nậu. Tới khi tiền mượn
và tiền lời lên cao như núi thì bác cũng phải kiếm người bán căn
nhà. Người mua nhà bác Thái cùng quê với mẹ tôi. Bác Thái hành
nghề đạc điền, tức chuyên đo đất đai. Hai bác mới ngoài ba mươi,
cha mẹ mất sớm nhưng có để lại chút ít tiền của và một đứa em út
mới lên mười sáu . Cho tới khi mua căn nhà của bác Tư, gia đình
bác Thái vẫn ở Long Xuyên. Khi lên Sài Gòn, chú Ú Hậu tiếp tục
học trường Pétrus Ký. Chú rất hiền, biết bổn phận, nên học hành
chăm chỉ, năm nào cũng lãnh thưởng. Bác Thái vì vậy mà quyết
lòng nuôi em ăn học cho tới cùng.
Từ ngày có người cùng quê ở sát bên cạnh mẹ tôi vui
lắm. Có món ngon vật lạ gì cũng mời nhau. Rảnh rỗi hai bà ngồi
tán dóc, nhắc chuyện dưới quê. Sài gòn hoa lệ tuy đẹp đẽ, văn
minh thiệt, nhưng làm sao sánh được "dưới mình". Con cá con tôm
đem lên tới đây cũng bớt mập, bớt béo. Chỉ ở miệt Tiền giang
mình mới có cá linh. Tới mùa, cá từ trên Biển Hồ đổ xuống rào
rào, mấy ghe đáy bắt không kịp thở. Rồi mấy chị bán cá tay chèo
chiếc xuồng ba lá băng băng miệng rao lãnh lót:- Cá linh hôôôn?
Mấy bà nội trợ đã xách rổ chờ sẵn hai bên bờ sông réo liền :
- Cá
linh, cá linh vô đây. Người mua kẻ bán lẹ như chớp, vì cá linh
tuy ngon, nhưng rất mau sình! Thuốc lá Cao Lãnh nổi tiếng ngon
nhờ vô phân cá linh... Còn cá bông lau ở đâu ngon bằng cá bông
lau Sa Đéc? Nghĩ tới nồi canh chua thôi là cũng chảy nước miếng!
Mắm ở đâu ngon nhứt? Châu Đốc. Nem ở đâu ngon? Nha
mân...v.v...và...v.v... Nhắc tới đâu hai bà chắt lưỡi hít hà tới
đó!
...Đến năm đệ tam niên thì ông ngoại tôi quyết định
cho dì Nga và dì Liên lên Sàigòn ở với mẹ tôi để tiếp tục xin
học trường áo tím. Ở nhà chỉ còn hai dì quyết định học tiếp nên
ông bà cũng chìu. Hai bà dì tôi năm đó trổ mã coi rất mượt mà.
Nhứt là dì Liên. Dì tóc dài da trắng, gương mặt thanh tú, dáng
đi tướng đứng yểu điệu, thướt tha. An nói mềm mỏng, nhỏ nhẹ. Tóm
lại ai gặp cũng có cảm tình. Dì Nga tuy đẹp nhưng hơi dữ. Đứa
cháu nào không làm dì vừa lòng là dì phùng mang trợn mắt nạt
đùa. Ỷ mình học cao dì cũng hơi phách lối chút đỉnh. Hai nhà
thân như một, chú Hậu lại học trên mấy dì tới ba lớp, nên những
khi "bí" bài, mấy dì thường cầu cứu chú Hậu. Chú thành
thầy...kèm trẻ hồi nào hổng hay. Rồi cái màn lửa gần rơm lâu
ngày cũng phải...phựt! Số là thằng Hiền con bác Thái, mới có tám
cái xuân xanh, nhân một đêm trăng sao vằng vặc, tự nhiên nổi
hứng ra sau vườn để đi...tè. Nhưng chưa kịp thực hiện ý nguyện
thì bỗng thấy dưới gốc cây vú sữa ở cuối vườn có hai bóng đen.
Thằng Hiền bở vía định bỏ giò lái thối lui vô nhà, thì bỗng nghe
có tiếng thì thào. Không lẽ ma mà biết nói? Nó bèn định thần
nhìn kỹ, té ra chú Hậu của nó đang nói chuyện với cô Liên!
Nhưng từ bụi chuối hột tới cây vú sữa hơi xa nên nó không nghe
hai người nói những gì. Nó tự hỏi sao người lớn kỳ cục quá sức.
Trong nhà đèn đóm sáng trưng, cớ gì lại lôi nhau ra chỗ tối hù
để nói chuyện? Đứng một hồi bị muỗi cắn, thằng Hiền đành trở vô
nhà, định bụng sẽ hỏi chú Hậu. Vậy mà cũng tới cả nửa giờ sau
chú Hậu mới vô nhà. Mặt mày chú lại rạng rỡ như trăng rằm, làm
như có điều gì đắc ý lắm vậy đó! Thằng Hiền sán lại kéo tay chú
:
- Chú Út à, hồi nảy Hiền thấy chú ngoài vườn với...
Nó mới nói tới đây chú Hậu bỗng đổi sắc mặt, nắm tay nó lôi sềnh
sệch vô phòng chú. Sau khi đóng cửa phòng cẩn thận, chú kề tai
nó nói nhỏ:
- Đừng có nói lớn. Hồi nảy Hiền thấy chú với ai?
Thằng
Hiền nói một hơi:
- Thì chú với cô Liên đó. Sao trong nhà hổng nói
chuyện mà phải ra ngoài vườn. Bộ chú hổng sợ muỗi cắn hả?
Chú Hậu nắm hai bàn tay thằng Hiền, nhìn thẳng vào
mắt nó rồi nói một cách nghiêm trọng:
- Hiền có thương chú với cô Liên không? Thằng nhỏ
gật. Chú nói tiếp: Vậy Hiền đừng đem chuyện này ra kể với ai hết
nghen. Nếu mọi người biết, chú với cô Liên sẽ bị rầy ghê lắm đó.
Hiền hứa với chú đi.
Tuy không hiểu tại sao lại bị rầy, nhưng thằng Hiền
cũng long trọng hứa sẽ giữ kín chuyện này. Chú Hậu thở ra như
trút được gháng nặng và móc túi cho thằng Hiền năm mươi xu ăn
bánh. Thằng Hiền được tiền ăn bánh là mê rồi, nên cũng không đem
chuyện này kể với ai. Trước mặt mọi người, Hậu và Liên cố giữ
vẻ mặt bình thường nên cũng chẳng ai nghi. Nếu đôi khi có một
vài cử chỉ thân mật thì mọi người đều cho rằng tại tụi nó thân
nhau như anh em ruột (!). Tới năm hai dì thi " đíp lôm" và chú
Hậu lấy cái Tú tài toàn phần, thì bác Thái quyết định cho em qua
Pháp học tiếp. Có đi du học sau này trở về mới nắm được những
chức vị quan trọng. Hôm làm lễ ăn mừng cho cả ba ( chú Hậu, dì
Nga và dì Liên), bác Thái long trọng loan báo cái quyết định này
trước mặt mọi người. Tất nhiên ai cũng hoan hỉ trừ...nhân vật
được chỉ định! (và dì Liên). Ngoài mặt tuy bình tĩnh nhưng trong
lòng hai người đều chết điếng. Bởi ai đi du học cũng phải năm
sáu năm mới về. Chuyện gì sẽ xảy ra trong khoảng thời gian đó?
Nếu không muốn nhắc tới cái câu mà ai cũng biết: xa mặt cách
lòng!
...Đêm đó, cây vú sữa cuối vườn một lần nữa lại được
"nghe" những lời thì thầm của hai kẻ yêu nhau. Nhưng lần này có
pha thêm những giọt lệ buồn của dì Liên!
Tội
nghiệp chú Hậu, từ ngày cha mẹ qua đời, với sự đùm bọc thương
yêu của người anh lớn, bác Thái có khác nào người cha thứ hai
của chú. Làm sao chú dám cãi lời? Chú đành năn nỉ dì Liên ráng
đợi cho tới ngày chú bái tổ vinh quy. Hai người sẽ chắc chắn
loan phụng hòa minh, sắc cầm hảo hiệp. Dì Liên tuy tan nát cõi
lòng, nhưng trước tình cảnh nan giải của người yêu cũng đành bó
tay. Dì hứa là sẽ chờ cho đến ngày chú thành tài trở về. Sông
có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng tình của dì đối với chú sẽ mãi
mãi không thay đổi. Trước những lời thề quyết liệt của người
yêu, chú Hậu cảm thấy vững lòng, nên vài tháng sau chú thơ thới
hân hoan xuống tàu trực chỉ trời Tây tiếp tục việc đèn sách. Rồi
nhờ cái viễn ảnh nghìn trùng xa cách này mà đêm đó hai cô cậu
mới có can đảm trao nhau nụ hôn đầu đời. Tuy vụng về nhưng cảm
động biết bao... Mãi nói chuyện không để ý tới thời gian, nên
khi tơ lòng đã được gỡ rối, họ mới thấy trời đã khuya lơ khuya
lắc. Dì Liên rón rén vô nhà, không quên dùng nước thiệt lạnh rửa
mặt cho tỉnh táo trước khi vào phòng. Dì Nga còn nằm đọc tiểu
thuyết, thấy em vô thì hỏi:
- Mày đi đâu mất tiêu mà tao kêu Liên ơi Liên hỡi om
sòm cũng không thấy trả lời. Hồi nảy có gánh chè thưng đi ngang,
tính rủ mày ăn...Nói tới đây bỗng để ý tới khuôn mặt đầy vẻ u
sầu và đôi mắt đỏ chạch của cô em, dì Nga vội hỏi:
- Ủa mày khóc hả Liên? Có chuyện gì vậy?
Dì Liên
nằm xuống giường, kéo tấm mền trùm kín đầu rồi nói:
- Không có gì đâu, ngủ đi...
Nhưng
cái thái độ kỳ quặc của cô em đã kích thích lòng tò mò của bà
chị. Dì Nga ngồi dậy, bước qua giựt tấm mền xuống rồi nói như ra
lịnh:
- Tao biết mày có chuyện giấu. Nghĩ sao dì bỗng đổi
giọng dỗ dành:- Có chuyện gì nói cho chị biết đi. Chuyện buồn
giấu trong lòng sẽ sanh bịnh đó nhỏ à. Dầu gì chị cũng lớn hơn
em ( một tuổi!). Kể cho chị nghe rồi mình kiếm cách giải
quyết...
Biết
không thể nào "thoát" khỏi tay cái bà chị tò mò tọc mạch này. Ừ
mà biết đâu cái bầu tâm sự đang đè nặng trong lòng sẽ nhẹ bớt
khi mình chia xẻ với người thứ hai? Nghĩ vậy dì Liên bèn ngồi
dậy rồi kể cho chị nghe hết cuộc tình của dì với chú Hậu. Nghe
xong, dì Nga vừa cười vừa xỉ ngón tay lên trán dì Liên nhiếc:
- Kể ra mày cũng kín thiệt. Cả năm nay mà chẳng ai
biết gì hết trơn. Còn cái ông Hậu nữa. Thấy lù khù vác lu mà
chạy! Dì Liên phản đối:
- Thôi đi, em đang buồn muốn chết mà chị còn ghẹo!
Dì Nga
thấy em giận lật đật nín cười, nói:
-Thôi rầu
rỉ mà chi. Mấy năm qua lẹ lắm. Ráng
chờ, chừng anh Hậu thành tài trở về, mày lên chức bà lớn khỏe
re.
Nhưng
dì Liên lắc đầu:
- Em đâu có mong chức bà lớn. Em chỉ lo ảnh qua đó
gặp mấy cô đầm rồi sanh chứng. Em nghe nói mấy con đầm dễ
lắm...Miễn vừa mắt là họ "chịu" liền! Đàn ông dễ xiêu lòng, vui
đâu chuốc đó!
Dì Nga ráng an ủi em một hồi rồi cũng hết ý, đành
tuyên bố:
-Thôi,
đời biết sao mà nói. Cái gì tới sẽ tới.
Lo trước cũng vô ích!
Nói xong
dì nhắm mắt ngủ khò, trong khi cô em còn trằn trọc mãi mới ngủ
được. Tánh dì Nga vô tư, thích gì làm nấy. Sau này dù cuộc đời
đầy dẫy sóng gió, nhưng lúc nào dì cũng yêu đời. Dì cho rằng nỗi
buồn tàn phá nhan sắc nhanh chóng nhứt! Tội gì buồn?
Giữ bí mật
được vài hôm, cuối cùng chịu không thấu, dì Nga kể hết cho mẹ
tôi nghe. Mẹ tôi kể lại cho bác Thái gái và dĩ nhiên là hai bà
rất vui. Cho rằng hai đứa nó thiệt là một cặp Tiên Đồng Ngọc Nữ.
Xứng đôi vừa lứa hết chỗ chê!. Cuộc tình đã ra ánh sáng, nên
trong thời gian chờ đợi sang Pháp, chú Hậu và dì Liên không còn
phải chịu cảnh "hiến máu miễn phí" cho bọn muỗi ngoài vườn nữa.
Họ đường hoàng nói chuyện trước mặt mọi người. Dì Liên thêu cả
hai tá khăn mu xoa cho chú Hậu đem theo xài. Cái nào trong góc
cũng có một đóa hoa sen màu hồng, tên dì là Hồng Liên. Góc đối
diện dì thêu hai chữ H và L quấn vào nhau. Có cái tín vật này
hằng ngày bên mình, làm sao chú Hậu có thể quên được bà dì của
tôi?
Sau khi chú xuống tàu được một tuần thì hai dì cũng
lo sửa soạn hành lý về Đốc Vàng. Bà ngoại tôi thấy hai dì đã tới
tuổi cặp kê, cứ lo học riết chắc sẽ thành gái già, nên cứ cằn
nhằn mãi. Hai dì cũng cảm thấy học tới đó làđủ, có thể trở thành
cô giáo gõ đầu trẻ. Đây cũng là tâm nguyện của dì Liên. Đối với
dì, nghề dạy học cao quý nhứt. Cùng nộp đơn ở Ty Học chánh Long
Xuyên, hai người may mắn được nhận, tuy hai trường khác nhau. Bà
ngoại tôi mướn một căn nhà gần chợ và có dẫn qua một người đàn
bà góa chồng trạc ngoài hai mươi, để lo cơm nước, giặt giũ cho
hai dì.
...Ngày nhận được bức thơ đầu tiên của chú Hậu, dì
Liên mừng tới rơi nước mắt. Đọc đi đọc lại mấy chục lần vẫn
không chán. Chú báo cho dì biết chú đã chọn ngành Luật. Để ra
tòa binh vực cho người nghèo. Dân mình còn dốt luật lệ nên cứ bị
người của "mẫu quốc" ăn hiếp, chú nói vậy. Chú thêm, bác Thái
còn gánh nặng gia đình, tuy mỗi tháng có gởi tiền qua, nhưng
chắc chú phải đi làm thêm mới đủ. Bên Pháp thời tiết rất lạnh,
mùa thu và mùa đông đều cần quần áo ấm, nếu không sẽ dễ bị bịnh.
Vả lại đời sống tại thủ đô Paris cũng rất mắc mỏ. Dì Liên lo
lắng lắm. Nếu chú Hậu đi làm thêm sẽ ảnh hưởng tới chuyện học.
Nếu thi rớt hoài biết chừng nào chú mới về? Càng ở lâu chuyện
bất ngờ càng dễ xảy ra...Sau vài đêm suy nghĩ, dì quyết định mỗi
tháng trích ra một phần tiền lương của dì gởi qua Pháp giúp chú
Hậu ăn học. Lúc đầu chú phản đối, nhưng dì Liên hết sức giải
thích và thòng thêm câu : Coi như em cho anh mượn nợ, sau này
thành tài sẽ tính cả vốn lẫn lời. Chú nhận, với lời hứa sẽ trả
lại gắp trăm ngàn lần mới xứng đáng với món nợ này!!!
Tháng tháng dì ra nhà dây thép mua măng-đa, kèm thêm
bức thơ, lời lẽ nồng nàn để khích lệ tinh thần chú Hậu...Đầu mùa
thu là dì đã đan sẵn áo len thiệt ấm gởi qua Paris. Biết bao
nhiêu tình ý dì tôi đã gói trọn trong những món quà tầm thường
đó! Những bức thơ chú gởi về cũng không kém phần thiết tha,
nhung nhớ. Nhờ món tiền dì phụ giúp thêm, chú không còn lo lắng
nữa, nên học hành rất khả quan. Dì Liên mong đợi từng ngày. Cái
viễn ảnh sau này sẽ cùng chú Hậu nên duyên cầm sắc giúp dì sống
trong tâm trạng luôn vui vẻ. Học trò và đồng nghiệp đều yêu mến
dì. Tất cả ai cũng nghĩ, một người tài sắc vẹn toàn như dì Liên
đương nhiên cuộc đời phải hạnh phúc. Dì Nga, từ sắc đẹp cho tới
tài nghệ, tính tình đều thua kém dì Liên, vậy mà đi dạy được hai
năm thôi là đã có người rước! Nhiều đám đi hỏi dì Liên lắm chớ,
nhưng đương nhiên bị dì từ chối. Đến năm thứ tư thì bà ngoại tôi
có ý sốt ruột. Bà nói cái duyên con gái chỉ có một thời. Đừng
thả mồi bắt bóng rồi ân hận. Dì Liên chỉ cười ráng trấn an bà.
Riết rồi bà tôi cũng không nhắc tới chuyện chồng con của dì
nữa...
...Rồi cái ngày mọi người mong đợi cũng phải tới. Dì
Liên sung sướng đến độ quên ăn quên ngủ. Dì như đang sống trên
mây. Đôi khi còn cười một mình trước sự kinh ngạc của những
người chung quanh. Chắc dì đang tưởng tượng đến cái ngày bước
chân lên xe hoa về với chú Hậu...
Ngày về của chú đúng vào kỳ hè, nên dì Liên đã có
mặt trên Sài gòn trước cả tuần. Dì đem cho các cháu không biết
bao nhiêu là quà bánh. Mẹ tôi mừng lắm vì dù sao dì Liên đã chờ
đợi quá lâu. Hôm tàu cập bến, dì Liên cùng gia đình tôi và gia
đình bác Thái đã có mặt sẵn từ sớm. Sau năm năm vắng mặt, chú
Hậu bây giờ đã là một thanh niên chững chạc, dì Liên cũng mất
cái vẻ ngây thơ, khờ khạo thuở xưa. Hai bên nhìn nhau mừng mừng,
tủi tủi, nói không nên lời...
Buổi tiệc mừng do chính tay dì Liên sửa soạn. Dì ra
sức nấu những món ngon nhứt cho chú Hậu thưởng thức. Có cả
champagne để uống mừng cho tương lai sáng lạng của chú Hậu. Chú
đem về rất nhiều quà cáp, nhưng món quà cho dì Liên đặc biệt
nhứt. Đó là một xấp gấm nền đỏ, điểm những chùm hoa dệt bằng chỉ
vàng thiệt, mà một lần có dịp ghé qua Lyon, trung tâm tơ lụa của
nước Pháp, chú đã mua. Xấp vải này dành cho cô dâu Hồng Liên mặc
trong ngày cưới của hai người. Dì Liên ôm xấp vải mà nước mắt
lưng tròng...Dì quyết định sẽ mang xấp vải nhờ nhà may danh
tiếng nhứt Sàigòn may chiếc áo cưới cho dì. Chưa bao giờ dì cảm
thấy hạnh phúc đến như vậy. Buổi tiệc kéo dài tới khuya mới giải
tán.
Sau khi mọi người đều đi ngủ, bác Thái nói chú Hậu
nán lại ít phút, bác có chuyện quan trọng muốn cho chú biết. Hỏi
vớ vẩn vài câu về đời sống của chú bên Paris, bác đi thẳng vào
đề. Bác sợ để lâu sẽ khó giải quyết... Số là qua nghề nghiệp,
bác có quen với một vị Trạng Sư danh tiếng, có văn phòng rất lớn
tại Sàigòn. Ông này hồi trước học Luật ngoài Hà Nội. Sau mấy
mươi năm hành nghề bây giờ giàu sụ. Nhà ngang dãy dọc khắp
Sàigòn. Nghe bác Thái nói có em trai học Luật sắp về nước, ông
ta thích lắm. Nói sẵn sàng nhận chú Hậu vô làm tại văn phòng của
ổng và sẽ hết sức nâng đỡ cho chú thành công. Nhưng với một điều
kiện...nói tới đây bác Thái ngập ngừng, tằng hắng hai ba tiếng
mới tiếp...với điều kiện trở thành rể của ổng! Nghe tới đây chú
Hậu giựt bắn người, há hốc miệng ra nhìn ông anh. Bác Thái cũng
có vẻ bối rối, nhưng cố thuyết phục em:
- Anh biết
em tình sâu nghĩa nặng với cô Liên, nhưng em nghĩ coi, nếu cưới
con ông Trạng Sư Tôn có phải đúng câu "sẵn ổ đẻ " không? Tương
lai của em coi như bảo đảm hoàn toàn. Ông còn hứa sẽ cho của hồi
môn là một chiếc xe hơi và một căn biệt thự tọa lạc đường Sương
Nguyệt Anh.
Chú Hậu nói với anh giọng thiểu não:
- Liên đợi
em bao nhiêu năm qua không một lời than vãn. Lại còn giúp tiền
cho em ăn học nữa. Anh biểu làm sao em phụ cổ cho đành?
Bác Thái
tặc lưỡi:
- Anh biết cổ là người rất tốt. Nhưng em nghĩ lại
đi, dù gì cổ cũng chỉ là con nuôi của ông bà Bá thôi mà. Lại là
một cô giáo quèn ở dưới tỉnh. Làm sao sánh với cô Trâm con gái
rượu của ông bà Trạng Sư Tôn được chớ? Em sánh duyên với cô Trâm
thì đương nhiên đường quan lộ của em sẽ thênh thang ngay.
Nhưng chú Hậu vẫn lắc đầu:
- Em không
thể bạc tình, bạc nghĩa với Liên đâu anh hai à. Ngoài món nợ
tình, em còn món nợ tiền với cổ nữa...
Bác Thái
cắt ngang:
-Ối, tưởng
gì khó giải quyết. Khi lấy cô Trâm rồi, có tiền em lập tức cầm
trả lại cho cổ là xong. Nói nào ngay, cổ còn trẻ đẹp. Em không
cưới, sẽ thiếu gì người khác nhảy vô.
Mặc bác
Thái nói gì thì nói, chú Hậu vẫn lắc đầu. Sau cùng Bác Thái giận
điên lên, chỉ mặt chú Hậu:
- Biết
rồi, bây giờ đã ăn học thành tài, em còn cần gì tới thằng anh
này nữa phải không? đủ lông đủ cánh rồi mà...Thôi được từ nay kể
như tao không có thằng em nào hết!
Nói xong
bác hầm hầm đứng lên bỏ vô buồng. Đêm đó chú Hậu thức trắng. Bên
tình bên hiếu, biết làm sao??? Ôi, bao nhiêu là mộng ước! Không
lẽ sẽ tan tành như mây khói. Bây giờ ăn nói làm sao với dì Liên?
Chú vò đầu bức tai, bối rối tột cùng...Lúc xuống tàu về nước chú
sung sướng bao nhiêu bây giờ chú đau khổ bấy nhiêu. Chỉ mong đây
chỉ là một giấc chiêm bao!
Sáng hôm sau dì Liên thức sớm nấu món bánh canh giò
heo mà chú Hậu rất thích. Đợi mọi người thức giấc, dì dọn sẵn
lên bàn rồi đi cửa sau qua nhà bác Thái mời cả nhà qua ăn sáng.
Thấy chú Hậu ăn uống uể oải, mặt mày bơ phờ, mọi người đều cho
là vì giờ giấc khác nhau, nên chú Hậu bị mệt. Nhưng sau đó bác
Thái cứ hối đến gặp mặt ông bà Trạng Sư Tôn. Bác sợ để càng lâu
dì Liên sẽ khiến chú Hậu bị "mê hoặc", hư chuyện lớn của bác,
chú phải nghe theo. Hai ông bà Trạng Sư gặp chú thì đẹp dạ hết
sức, đề cập liền đến chuyện hôn nhân. Về đến nhà chú như người
mất hồn. Rồi mỗi lần nói chuyện với mẹ tôi và dì Liên, đôi khi
chú trả lời không đâu vào đâu khiến hai người cũng phải ngạc
nhiên. Cho tới một hôm, chịu không nổi cái thái độ kỳ quặc này,
dì Liên hỏi thẳng chú Hậu có chuyện gì xảy ra, mà dường như chú
đã thay đổi. Chú chỉ biết nhìn dì với cặp mắt vô cùng đau khổ,
nhưng vẫn nín thinh. Dì Liên hứa chắc là dù có chuyện gì ghê
gớm, dì cũng xin chia xẻ với chú. Biết không thể dấu lâu hơn
nữa, chú Hậu đành thú thật hết với dì Liên. Lòng dì đau như cắt,
nhưng ngoài mặt vẫn giữ bình tĩnh. Dì nói tất cả tùy theo chú.
Dì không hề có ý định xúi chú bỏ gia đình để chọn dì. Nếu hai
người có duyên mà không nợ thì dì cũng xin chấp nhận. Nói đến
đây dì đứng lên vô buồng đóng chặt cửa. Chú kêu cách nào cũng
không trả lời. Mẹ tôi hoảng hốt hỏi có gì, chú không nói, chỉ
chào mẹ tôi rồi ra về. Chiều đó dì Liên bỏ cơm. Mẹ tôi dỗ dành
hết lời dì mới chịu mở cửa. Vô buồng thấy em tóc tai bù xù, cặp
mắt sưng húp, mẹ tôi hỏi tự sự dì Liên kể hết. Nghe xong mẹ tôi
tức tràn hông, định chạy qua nhà bác Thái hỏi cho ra lẽ. Dì Liên
níu bà lại, nói là mình không thể trách họ được, vì hai bên
không hề có hôn ước trước. Bây giờ chú Hậu có quyền cưới ai cũng
được. Mẹ tôi tức tối chưỡi:
- Thằng đó
mà tên Hữu Hậu. Xí, phải đổi tên là Vô Hậu mới đúng!
Sáng sớm hôm sau dì Liên xuống tàu Lục Tỉnh về Long
Xuyên. Chú Hậu viết bao nhiêu lá thơ, dì không hề trả lời. Từ đó
dì buồn dàu dàu, biếng ăn mất ngủ, người càng ngày càng tiều
tụy. Đến khi cái tin đám cưới của chú Hậu cùng cô con gái ông
Trạng Sư được cử hành trọng thể trên Sàigòn, thì dì buông
xuôi...Dì đau một trận thừa sống thiếu chết, trong cơn mê dì cứ
kêu tên chú Hậu. Dì Nga sợ em chết, đánh dây thép lên Sàigòn kêu
mẹ tôi về. Sau đó dì Nga cùng mẹ tôi hết lời khuyên lơn, an ủi,
dì Liên từ từ bình phục. Nhưng nụ cười đã tắt hẳn trên môi và dì
không còn thiết tha tới bất cứ cái gì. Từ một người xinh đẹp,
yêu đời, dì tôi giờ đây chỉ là một cái xác không hồn. Nghe mẹ
tôi trách vì chú mà dì tôi suýt chết, chú Hậu có tìm về Long
Xuyên thăm. Nhưng dì Liên cứ nằm quay mặt vô vách, mặc chú quì
bên giường năn nỉ ỉ ôi, dì ngậm câm không thèm trả lời một
tiếng. Thử hai ba lần đều không có kết quả, chú Hậu đành buồn bã
trở về Saìgòn. Từ đó dì tôi sống như một cái bóng. Thương càng
nhiều thì hận càng sâu!. Đàn ông đối với dì tôi bây giờ là một
sinh vật đáng sợ, cần phải tránh xa. Dì dồn hết tình thương vào
đám học trò và đám cháu...
Sau này dì tôi đổi về Sađéc, ít năm sau tôi cũng lấy
chồng về đó. Tôi có dịp tới thăm dì thường. Dì dạy tôi bao nhiêu
là món ngon, món khéo. Có lần tới bất chợt, tôi bắt gặp dì đang
cầm trên tay một xấp gấm đỏ dệt hoa bằng chỉ vàng, nét mặt dì
buồn xa vắng. Thấy tôi dì như chợt tỉnh, đưa xấp gấm cho tôi
xem, rồi cười gượng:
- Chiếc áo cưới hụt của dì đây. Thấy tôi ngạc nhiên,
dì giải thích rằng ngày đó trước khi về quê, dì định trả xấp áo
lại, nhưng không hiểu sao trong thâm tâm dì vẫn hy vọng...nên
mang theo. Rồi sau đó những biến cố xảy ra dồn dập, dì quên luôn
xấp gấm... Tôi chọc:
- Dẫu lìa
ngó ý còn vương tơ lòng mà dì.
Dì tôi
cười buồn:
- Trước kia mỗi lần nhìn xấp gấm, mối hận trong lòng
dì lại dâng lên như sóng tràn bờ. Dì không còn lòng tin ở bất cứ
một người nào. Như vậy mình sẽ không bao giờ bị thất vọng. Đời
là một cõi "bắt" người ta phải sống, cháu à. Thi sĩ Tản Đà đã
từng nói vậy. Bây giờ thì dì nguôi ngoai, tâm hồn bình thản,
không còn vướng bận chuyện tình ái năm xưa nữa. Dì có ý định
trong vài năm, khi về hưu rồi, sẽ ăn chay trường và tu tại gia.
Cho hóa giải cái tâm sân hận của dì bấy lâu nay. Tôi nhìn mái
tóc muối tiêu của dì mà thương đứt ruột. Đúng là Trời xanh ghen
thói má hồng đánh ghen. Nhan sắc, tài hoa rồi sao? Dì tôi đã
biết thế nào là một gia đình hạnh phúc? Suốt đời vò võ một mình.
Đau yếu cũng chỉ có chị Năm săn sóc. Bà này cũng không chồng con
gì hết, theo hai dì từ thuở mới dạy học ở Long Xuyên . Chỉ vì
cái hư danh, cái gia tài kết sù của ông Trạng Sư Tôn mà khiến ba
người đau khổ. Ngoài dì Liên, chú Hậu cũng chẳng có hạnh phúc
bên người vợ giàu sang. Trong lòng chú, hình ảnh dì Liên không
phai mờ, thì làm sao mặn nồng được với người vợ mà chú không hề
yêu? Vợ chú sống như một cái bóng mờ bên cạnh người chồng mà tâm
hồn đã gởi trọn cho người khác, thì làm sao vui?...
Năm bảy tám vợ chồng tôi vượt biên, có rủ dì đi
nhưng dì từ chối, nói rằng dì ở đâu cũng vậy thôi. Dì còn mong
gì trong tương lai? Nhứt là không muốn gởi nắm xương tàn nơi quê
người... Sang đây chúng tôi có liên lạc và biết dì vẫn khỏe. Vậy
mà...
Tiếng
alô...a lô của chị Thủy kéo tôi về hiện tại. Tôi thở dài trả lời
chị:
- Tội
nghiệp dì quá. Em nghĩ Chúa Nhựt này chị em mình phải qua chùa
Liên- Hoa xin cầu siêu cho hương linh của dì. Không biết lúc qua
đời có ai bên cạnh dì không nữa?
Chị Thủy
nói dĩ nhiên, dì như mẹ. Lúc còn nhỏ, dì Liên cưng tụi mình quá
mà.
Tôi chợt
giựt mình, nhớ lại cách đây mấy đêm tự nhiên có một giấc mộng
thiệt kỳ lạ. Tôi thấy dì Liên, nhưng là một dì Liên trẻ đẹp, nét
mặt rạng rỡ, tươi cười trong chiếc aó cưới gấm đỏ điểm hoa vàng.
Dì cười với tôi, tôi kêu dì, nhưng càng kêu hình ảnh dì càng lùi
xa. Cuối cùng thì nhạt nhòa như sương khói. Tôi kêu dì ơi một
tiếng lớn thì giựt mình thức dậy, tâm thần hoang mang, xao
xuyến. Bây giờ thì tôi đã hiểu... Một nén hương lòng cho người
dì bạc mệnh của tôi...
TIỂU-THU
Trở về Trang Chính
|