|
Dân quê sợ
nhứt là bị tây bố. Không kể súc vật bị lùa xuống tàu, đàn bà con
gái bị hãm hiếp, đàn ông bị bắt bớ hoặc bị bắn chết, đôi khi tụi
tây còn đốt cháy rụi cả xóm. Bình thường máy tàu chiến của họ
chạy ầm ầm, dân chúng nghe từ xa nên có thì giờ trốn tránh. Lần
này tây đổi chiến thuật, gần tới làng Tân An họ tắt máy trước,
theo con nước từ từ trôi, bất thình lình cặp bến đình, tràn lên
bờ. May mà thằng Trung giữ bò cho ông nội Ái Linh thấy kịp, vội
lùa hai con bò dấu vô bụi tre sau nhà ông Sư Nhiên, ba chưn bốn
cẳng chạy thục mạng về nhà, miệng la bài hãi tây bố...tây bố!
Ông nội, chú
bảy và ba Linh đang bồi đất thêm vô mấy gốc xoài mới trồng ngoài
vườn. Anh Thiên và chị Thủy đang phụ bà nội khiêng mấy hũ tương
ngọt ra phơi nắng ngoài sân, đợi rằm sẽ đem cúng dưới chùa Đạo
Nằm. Má Linh và thím bảy đang lo bữa cơm trưa. Phần Linh và con
Cẩm Hương con chú bảy đang nhảy dây ngoài sân vì trường đang
nghỉ hè. Mấy ông ở ngoài vườn nghe tây bố lật đật chạy vô. Ba
bắt cái thang, tất cả phái nam leo hết lên căn gác ngoài nhà
bánh ú. Căn nhà vuông vức độ bốn thước được cất trước mặt căn
nhà lớn. Nóc nhọn mái cong, bốn phía trống trơn nhưng bốn cây
cột được sơn đỏ rất đẹp. Thời còn thanh bình, sau bữa cơm tối
ông nội thường ra đó ngồi khề khà chung trà thơm, ngắm cảnh
trăng thanh gió mát. Chị Thủy vác cái thang ra dấu sau hè. Má
Linh hối thằng Trung chạy qua mấy nhà bà con cho họ hay. Bảy căn
nhà của đại gia đình họ Nguyễn cất hàng dọc sát bên bờ sông Con.
Sông này đổ ra sông Cái cách đó chừng một cây số. Nhà nào cũng
có chỗ bí mật cho các ông trốn. Hầm núp chỉ để tránh bom, pháo
kích. Lúc bị tây bố mà chun hết xuống hầm núp, rủi có anh tây
đen nào ngứa tay thẩy một trái lựu đạn vô hầm là chết chùm cả
đám.
Sau chiến dịch
tiêu thổ kháng chiến, tất cả nhà nền đúc đều bị phá hủy chỉ còn
trơ cái nền. Riêng nhà ông nội Ái Linh may mắn cái mặt tiền còn
nguyên vẹn. Rồi dựa lên cái mặt tiền này ông cho cất thêm phía
sau thành một căn nhà nhỏ hơn, tuy bằng gỗ nhưng cũng rất bề
thế, chắc chắn.
Thằng Trung đi
được một lúc thì mấy bà em dâu ông nội dẫn mấy cô, mấy thím, kèm
thêm cả chục nhi đồng hớt hơ hớt hải chạy tới. Bà nội Linh lấy
lọ nghẹ bôi lên mặt mấy thím, mấy cô độc thân vì người nào cũng
trắng tươi như bông bưởi. Tụi nhóc thấy mặt mũi mấy bà tèm lem
thì bụm miệng cười khúc khích. Linh bị chị Thủy trợn mắt cú lên
đầu một cái đau điếng.
Những lần tây
bố trước, vừa nghe tiếng tàu u u từ xa là cả làng đã bồng bế con
cái túa ra đồng, chạy một mạch qua làng Mỹ Ngãi lánh nạn. Giữa
hai làng là một cánh đồng rộng chưa đầy ba cây số. Lính tây
không bao giờ dám băng đồng qua ruồng bên đó vì sợ Việt Minh núp
sau mấy hàng bần, gáo, dừa nước bắn ra. Lần này họ tới đột ngột
quá chạy không kịp đành rút vô nhà đóng cửa chịu trận. Bà nội
Linh hối mọi người niệm Phật. Cầu Phật bà Quan Âm cứu khổ cứu
nạn phù hộ....
Có tiếng xí xô
xí xào ngoài sân. Ai nấy mặt cắt không còn hột máu. Tiếng dộng
cửa rầm rầm càng làm cho mọi người run như thằn lằn đứt đuôi.
Linh nắm chặt tay má miệng đánh bò cạp! Sau cùng cánh cửa bị bật
tung. Vừa thấy những khuôn mặt đen như lọ nồi, chằng chịt sẹo
của mấy tên lính lê dương, những họng súng đen ngòm chĩa về phía
trước như sẵn sàng nhã đạn, đám nhi đồng ré lên khóc um sùm. Tụi
lính tây vừa lùa đám đàn bà con nít ra sân vừa cười nhăn nhỡ:
con gái, con gái tốt!...Vừa nhác thấy viên trung úy đứng dưới
gốc cây vú sữa, thím Nghị mừng rỡ chạy tới xổ một tràng tiếng
tây. Thím là chị em bạn dâu với má của Linh. Thím vốn sanh đẻ
trên Nam Vang, đi học trường bà Sơ nên nói tiếng Pháp rôm rốp.
Linh thấy viên Trung úy có vẻ ngạc nhiên. Chắc anh ta không ngờ
giữa chốn quê mùa lại có một bà thông thái tới như vậy! Hắn vừa
nghe thím nói vừa gật đầu lia lịa. Lát sau anh ta búng tay tróc
tróc ra lịnh cho đám thuộc hạ đi xét chỗ khác, không quên để lại
mấy tấm mền len màu cứt ngựa làm vật lưu niệm! Tụi lính vừa đi
vừa ngoái lại nhìn, chắc trong lòng đang tiếc hùi hụi vì dễ dầu
gì gặp một lúc cả một com- pa- nhi “con gái tốt” như vậy? Các bà
mừng như vừa được tái sanh, xúm lại khen thím năm Nghị không
tiếc lời.
Tới chiều tây
mới rút hết. Tổng kết tình hình sau trận bố thì ngoài số lớn gà
vịt, trâu bò bị bắt lùa xuống tàu, chỉ có vài người bị thương
nặng nhẹ khác nhau. Chú ba Bảo dưới xóm Chùa theo đạo Cao Đài
nên để tóc dài, bới thành cái bí bo sau ót, lại mặc bộ đồ vải
săn đầm đen láng mướt. Tụi rạch mặt tưởng bở đè ra định hiếp.
Khi sự thật phơi bày, nó giận quá đánh chú một trận, gãy mấy cái
xương sườn nằm liệt cả tháng trời. Sau trận đòn này chú mới chịu
cắt phăng cái xi nhông. Thím ba khoái lắm vì nhiều khi tới chỗ
lạ hay bị cầm nhầm hai người là hai chị em. Út Kiên, con trai
ông Sư Nhiên mới mười tám cái xuân xanh lại trắng trẻo, đẹp như
một thiếu nữ cũng bị một tên lê dương pédé nhận đầu vô lu gạo
làm ẩu. Cậu đau quá khóc la om sòm, kêu má ơi má cứu con. Bà mẹ
đang núp trong buồng nóng ruột chạy ra bị thằng quỷ sứ thoi cho
mấy cái mặt mũi sưng vù, gẫy hai cái răng.
Nhưng chuyện
ly kỳ khiến đầu trên xóm dưới bàn tán hoài không chán là chuyện
vợ chồng chú Tư Đẩu ngoài lộ mới. Những căn nhà quay mặt ra con
đường lộ, lưng quay ra đồng trống rất khó trốn, vì con lộ chỉ
trồng hai hàng me keo thưa thớt. Nhà chú tư Đẩu là một căn nhà
lá nhỏ xíu. Loay hoay làm sao thím bị lọt vô tay một thằng lê
dương lọ nồi. Sau khi tây rút rồi chú lôi vợ ra đánh một trận
tơi bời hoa lá. Lối xóm nghe thiếm khóc chạy qua can. Không ai
hiểu tại sao thím đã bị tây làm nhục còn bị chồng đánh đòn? Chú
nghiến răng, mắt long lên sòng sọc, chỉ tay về phía bà vợ đang
ngồi ôm mặt khóc thút thít trên chiếc giường cây ọp ẹp:
- Bà con coi
hổng tức sao được. Hồi bị thằng tây gạch mặt hãm hiếp, nó không
khóc la hay kêu cứu gì ráo trọi, mà rõ ràng tui còn nghe tiếng
nó vừa thở vừa rên rỉ!
Anh Hòa ở cạnh
nhà chú cắt cớ hỏi:
-Ủa, sao
chú...nghe được?
Chú tư trả lời
tỉnh queo:
-Thì tao trốn
dưới đít giường chớ đâu! Ờ mà lúc đó cái giường rung rinh như
muốn sập. Nó mà sập thì chắc tao phải theo ông theo bà chớ hổng
chơi. Thằng lọ nồi bự như con trâu cổ mà. Sau khi nó bỏ đi tao
chun ra thấy con quỷ này còn nằm chình ình đó, mặt mày đỏ ké cặp
mắt lim dim, hổng có vẻ gì đau đớn hết trơn mới động thiên đình
chớ! Mầy nghĩ coi tao hổng dộng cho nó một trận sao được!
Ai nghe chú kể
cũng không thể nín cười. Rồi hàng xóm mỗi người khuyên một câu
từ từ chú cũng bớt giận. Người dân quê thiệt thà hết sức!
Bàn tán mãi
cuối cùng ba má Linh quyết định tản cư luôn qua Mỹ Nghĩa. Ông bà
nội lấy cớ già rồi, chết chóc là chuyện thường. Chú thím bảy
phải ở lại săn sóc ông bà. Ba và anh Thiên chèo ghe lên Đốc Vàng
xin cái kho lúa cũ của ông ngoại bỏ trống từ lâu, mướn người dỡ
ra rồi đem về cất thành một cái nhà sàn vách ván, mái ngói đàng
hoàng. Cô Hai Tú, em chú bác với ba Linh cũng theo vô cất nhà
bên cạnh. Cô dượng có hai đứa con sanh đôi, con Cúc và con Mai
lớn hơn Linh một tuổi. Theo ý kiến riêng của chị Thủy thì hai
đứa này hiền chớ không xí xọn như con nhỏ Linh!
Đi tản cư mà
bộ tam sên Linh -Mai-Cúc khoái lắm vì khỏi phải đi học. Chú sáu
Lương nổi tiếng là hung thần. Học không thuộc bài hoặc làm toán
sai là a lê hấp thước bảng ổng khẻ thẳng cánh! Tụi cháu gặp ổng
đứa nào cũng lấm lét như rắn mùng năm.
Trong đồng tới
mùa nước, nước từ sông Cái theo kinh rạch tràn vô lai láng, ngập
hết mọi nơi, vì vậy phải cất nhà sàn hoặc trên gò đống thiệt
cao. Có xuồng tam bản để di chuyển. Cánh đồng nước mênh mông.
Nhưng kỳ diệu là nước ngập tới đâu đám lúa non kiên trì vươn cao
tới đó.
Tôm cá nhiều
vô số. Ngồi trên nhà thả cần câu xuống nước cũng câu được cá
lòng tong, cá mại, cá chốt. Mấy thứ này kho tiêu ăn cũng bắt
lắm. Nhưng ba và dượng hai của Ái Linh hay bơi xuồng ra tuốt
ngoài đồng trống câu tôm vào lúc chập tối. Lựa chỗ giáp ranh hai
miếng ruộng, nơi này không có mọc lúa, cắm một hàng cọc tre dài
chừng một cây số. Giăng một sợi dây nhỏ có gắn lưỡi câu lên đó.
Mỗi lưỡi cách nhau độ hai gang tay. Câu tôm bằng mồi dừa khô
trắng nõn thơm phức, xắt từng miếng vuông vức bằng lóng tay móc
vô lưỡi câu. Cây đèn cóc chỉ sáng vừa đủ cho thấy dạng con tôm.
Sáng quá mấy chú nhìn thấy người trên xuồng lập tức sẽ đánh bài
tẩu mã! Sợi dây câu chỉ chìm khỏi mặt nước độ năm phân. Dượng
hai, hoặc có khi anh Thiên, ngồi cầm lái. Ba ngồi trước mũi một
tay cầm cây dầm đầu có gắn chiếc vợt lưới, tay kia dùng ngón trỏ
nhẹ nhàng nâng sợi dây câu. Cứ thấy lưỡi câu nào có chú tôm đang
ăn mồi là lẹ làng cho vợt xuống hất anh ta vô khoang xuồng. Xong
một tua hai ông ngồi nghỉ độ nửa giờ, nhâm nhi ly đế cho ấm
lòng, đợi những chú tôm nhẹ dạ khác tới nộp mạng.
Đi độ ba tua
là có lưng khoang xuồng. Những ngày sau đó là tôm bảy món. Tôm
luộc, tôm kho tàu, tôm nướng, tôm làm gỏi với cọng bông súng
v.v...và v.v... Thỉnh thoảng, má, chị Thủy và Linh bơi xuồng về
Tân An biếu tôm cá cho ông bà nội, rồi chở vô Mỹ Ngĩa mấy thứ
trái cây như chuối, mít, ổi xoài, dừa...đầy dẫy trong vườn nhà.
Chỉ cách một cánh đồng mà bên Tân An đất bồi trồng cây thật tốt.
Mỹ Nghĩa đất phèn chỉ thấy rặt ô rô, bần, đước, ô môi, tre. May
sao trước mặt nhà Linh có cây me già. Cây me chua gốc to ba
người ôm mới giáp. Tàn cây xòe rộng tỏa bóng mát cả chục thước.
Phía bên kia gốc me đâu mặt với nhà Linh là nhà chú hai Quân.
Trong nhà ngoài chú thím, con An lên sáu (thua Linh một tuổi),
thằng Quang lên bốn còn bà ngoại chú là bà ba Tính. Bà già lắm.
Mái tóc bạc phơ, miệng rụng răng nhai trầu móm mém. Mùa khô bà
ngồi suốt ngày trên cái sạp cây dưới gốc me, vót từng cọng nan
đan thúng mủn, rổ rá bán cho dân làng kiếm thêm tiền vì chú hai
Quân nghèo lắm.
Quay lưng lại
nhà chú Quân nhưng quay mặt ra con rạch nhỏ là nhà bác tám Nhân.
Căn nhà cũng lợp lá, nhưng gia cảnh bác khá hơn chú hai vì các
con bác đã lớn giúp đỡ bác rất nhiều. Anh Dương hai mươi tuổi,
chị Xinh mười bảy và thằng Chơn lên chín. Tuy hơn Ái Linh hai
tuổi mà nó khờ lắm. Trong xóm không có con trai cùng lứa nên cu
cậu đành theo chơi với đám con gái Mai-Cúc-An-Linh. Anh Thiên
chọc nó:
-Mầy chơi làm
chi với đám con gái cho mất “thể diện”. Tụi nó chỉ có tài ăn
hiếp mầy thôi hà...
Cu cậu nghe vậy cũng hơi
mắc cỡ nên tránh tụi Linh. Rồi chỉ được vài bữa buồn quá phải
lân la xin chơi lại. Tụi con gái lên mặt, nói xỏ xiên đã đời rồi
hành hạ nó đủ điều như bắt leo hái me, ô môi, bần... cho tụi nó
ăn. Có lần thấy một tổ ong to bằng cái thúng trong bụi tre gần
bìa ruộng, lũ con gái xúi nó lấy cây chọc thử coi có mật ong
không. Cu cậu nghe lời...đường mật, nên mật đâu không thấy mà
một bầy ong cả mấy chục con bay túa ra. Đám con gái khôn hồn
đứng xa xa nhìn đã vội vàng đánh bài tẩu mã trước. Cu Chơn đứng
gần quá chạy không kịp bị ong chích mấy phát, cái mặt sưng vù
gần bằng cái...tổ ong, đau đớn chịu không thấu! Anh Thiên còn
tặng nó một phát ân huệ:
-Tao đã nói
rồi. Ai biểu mầy dại gái!
Lần đó nó giận tụi con gái
cả tuần. Tuy đi tản cư, thiếu thốn đủ mọi thứ mà sao Linh vẫn
cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Vì nhà cất “trong đồng” nên ruộng
lúa mấp mé sát cạnh nhà. Tụi nhỏ chơi cút bắt hay trốn trong đám
lúa, núp dưới những bông lúa chín vàng nặng trĩu trên đầu. Cô
dượng hai Tú cũng như ba má Linh chỉ làm tà tà chớ không cực khổ
như những người nông dân thực sự ở đây. Mùa nước họ phải kiếm cá
để làm mắm làm khô. Mùa lúa phải phơi sương phơi nắng ngoài đồng
từ sáng đến tối. Người nào cũng có vẻ đen đúa lam lũ. Quanh năm
quần vải áo bô. Ngoài những đám hỏi đám cưới thì chẳng có một
thú vui nào hết. Vì vậy đám cưới của anh Dương con bác tám Nhân
được mọi người trông đợi như hạn mong mưa. Tụi con nít thì tính
từ ngày. Thịt heo, thịt gà, thịt vịt sẽ thay thế cho món cá kinh
niên!
Trong đồng nhà
cửa thưa thớt nên tuy mang tiếng mời cả làng mà cũng chưa tới
trăm người tới dự. Người mang đôi gà tơ, kẻ đem cặp vịt bầu tới
mừng chớ có mấy ai có tiền mặt dư dả để mừng cô dâu chú rể. Rồi
họ cũng tự độg xăn tay áo lên phụ dựng rạp, mổ heo, làm gà. Má
Linh được mời chỉ huy nấu nướng.
Nhà gái ở tuốt
bên Cù Lao Ông Chưởng nên hai bác Tám và anh Dương phải đem sính
lễ qua bên đó từ hôm trước để xin rước dâu. May mà bà mai là em
bác tám nên mới có chỗ ở qua đêm. Sáng hôm sau nhà gái đưa dâu
qua Mỹ Nghĩa bằng ghe cà dom. Chắc phải đi từ lúc gà gáy nên mặt
trời vừa lên độ ba sào là đám rước dâu về tới. Ở nhà có ba thay
mặt bác tám lo mọi việc. Thời chinh chiến nên mọi thủ tục đều
được giản dị tối đa. Dòm bộ tịch lúng túng của anh Dương, lần
đầu được diện cái quần tây và cái áo sơ mi bên cạnh cô dâu, cũng
bối rối không kém trong cái áo bà ba bằng cẩm nhung màu cánh
sen, quần lãnh Mỹ a láng mướt, tụi nhóc bụm miệnh cười. Cô dâu
tên Lành, cùng tuổi chị Xinh nhưng bới tóc. Bác tám cho cô dâu
đôi bông tiền điếu bằng cẩm thạch. Sợi dây chuyền vàng y, mặt
cũng cẩm thạch hình trái tim. Linh thấy chị cũng đẹp nhưng nước
da không trắng trẻo như chị Thủy. Má nói con gái nhà quê nước da
phải mặn mòi mới khỏe mạnh, làm công chuyện giỏi dắn. Mấy đứa
trắng da dài tóc chỉ tổ tốn tiền thuốc!
Sau lễ gia
tiên mọi người vui vẻ nhập tiệc. Đế tuôn ào ào. Rượu vào lời ra.
Tiếng chúc tụng, tiếng cười nói ồn ào vui hết sức.
Xế xế, ông sui
gái đứng lên xin phép rút lui cho kịp con nước ròng. Ba Linh
được bác tám đề cử phát biểu đôi lời tiễn biệt nhà gái. Mọi
người im lặng lắng nghe. Cho tới lúc ông lấy giọng hết sức thảm
thiết:...tui thông cảm với anh chị nhiều lắm( dù chưa làm sui
lần nào). Trời ơi! Còn gì đau đớn cho bằng đứa con mình rứt ruột
đẻ ra, nuôi cho khôn lớn rồi đem giao cho người khác. Đường sá
xa xôi biết chừng nào mới gặp lại...! là ông bà xuôi gái ồ lên
khóc. Bà mai lật đật lôi tay họ xuống ghe, hối chèo cho lẹ.
Má Linh cằn
nhằn. Ba cười chống chế:
-Thì tui đâu
có ngờ ổng bả mau nước mắt như vậy.
Mọi người cười
phụ họa vì ai lạ gì cái tánh thích cà rỡn của chú năm! Dọn dẹp
xong ai về nhà nấy, đợi đám cưới chị Xinh trong vòng năm tới.
Chị đã hứa hôn với anh Luân, nhà tuốt trong Kinh Xáng xa lắc xa
lơ. Anh Luân tới từ mấy hôm trước để phụ đám cưới. Xinh tuy là
gái nước phèn nhưng nước da không đen mốc vì được ở nhà phụ mẹ
nuôi một bầy heo, không phải ra đồng để cấy hay gặt lúa. Chuồng
heo nhà bác tám lúc nào cũng có cả chục con. Hai con heo nái để
gây giống và một chú heo nọc cái mỏ dài sọc, cặp mắt ti hí coi
rất...nham nhỡ! Ngoài phận sự phục vụ cho hai người đẹp tại gia,
cu cậu còn được những nhà có heo nái tới rước đều đều để làm
chuyện...con heo! Vì vậy cuộc sống của cậu khá bận rộn. Tuy vất
vả nhưng không kém phần sung sướng.
Sau hôm đám
cưới, mới ngủ dậy là thằng Chơn chạy ù ra gốc me. Nó biết thế
nào cũng gặp đám con gái ngoài đó. Cu cậu làm ra vẻ bí mật:
-Tụi bây biết
tối hôm qua, lúc chị Xinh ra chuồng thăm mấy con heo, tao thấy
cái gì hôn?
Con Cúc le
lưỡi, rụt cổ:
-Chắc mầy thấy
mấy con heo nái mọc nanh thành tinh?
Thằng Chơn xì
một tiếng:
-Tầm bậy. Tao
thấy anh Luân nắm tay chị Xinh. Ảnh còn đòi hun chỉ nữa.
Linh giựt nẩy
mình khi nhớ tới lời má căn dặn chị Thủy( tuy năm nay chỉ mới
mười lăm):
-Con gái phải
giữ mình cẩn thận. Đừng để con trai nắm tay nắm chưn, đụng vô
mình là dễ bị mang bầu lắm đó! Con nhỏ la lên:
-Chết cha, coi
chừng chị Xinh mày có bầu!
Thằng Chơn hết
hồn vội bụm miệng Linh:
-Trời, mày nói
nhỏ nhỏ, rủi má tao nghe được chị Xinh bị đòn nứt đít.
Nhưng con Mai
lại hỏi, giọng đầy vẻ nghi ngờ:
-Mà làm sao
mày thấy được. Bộ mày theo rình hai người đó hả?
Thằng Chơn bị
nghi oan tức mình cãi:
-Xì, tao đang đứng đái chỗ
bụi chuối kia kìa. Tại họ không thấy tao chớ bộ.
Từ đó đám nhóc gặp chị
Xinh đâu là ngó chăm chăm vô cái bụng, coi nó có từ từ u lên như
bụng cô Hai Trà ở trong xóm Chùa hay không. Mấy tháng sau thấy
cái bụng chị Xinh vẫn xẹp lép như thường tụi nhỏ mới hết lo. Ba
năm sau lúc ở Saigòn, chị Thủy lấy anh Phong và đang có bầu
thằng Phương, Linh chợt nhớ tới chuyện này bèn kể cho má và chị
Thủy nghe. Con nhỏ không hiểu tại sao nghe xong hai người cười
chảy cả nước mắt? Kỳ thiệt là kỳ!
Bác tám gái ăn trầu nên
xéo cửa nhà bác có trồng vài cây cau. Có một cặp chim sáo tới
làm ổ, đẻ trứng trên một trong mấy cây này. Ngày nào rình thấy
vợ chồng nhà sáo bay đi kiếm mồi là thằng Chơn trèo lên thăm. Có
lần “nể” tụi con gái cứ theo năn nỉ hoài, nó lấy một trứng tuột
xuống đưa cho bọn nó xem. Đứa nào cũng trầm trồ vì cái màu xanh
đẹp ơi là đẹp. Lúc bầy sáo con nở ra cu cậu mừng hết lớn. Nó
khoe với Linh là sẽ nhờ anh Dương đan một cái lồng tre để nó
nuôi một cặp. Rồi nó sẽ cho ăn ớt hiểm, lột lưỡi và dạy cho hai
con sáo biết nói...Nghe hấp dẫn như vậy tụi con gái cũng đâm náo
nức. Nhưng ở đời mấy ai học được chữ ngờ. Một hôm có ông bạn
thân từ Phong Mỹ qua thăm, túng đồ nhậu bác tám trai túm trọn
đám sáo con mới mọc lông cánh, cho vô chảo rô ti nước dừa. Thuở
trước cụ Nghè Dương Khuê đến thăm bạn hiền Nguyễn Khuyến, chỉ
được nghe bạn than rằng: Quý hóa quá, chẳng mấy khi bác quang
lâm tệ xá, muốn làm cơm đãi lắm, nhưng chẳng may chợ thì xa mà
bà xã mí lũ con lại đi vắng. Nhà có cái ao nhưng lại vừa rộng
vừa sâu, lũ cá trốn biệt dưới đáy. Gà quéo cũng không xong vì
vườn rộng mà hàng rào lại thưa nên tụi nó chạy mất tiêu hết
trơn. Bầu, bí, mướp, cà gì cũng trần sì nụ với bông. Thôi thì
bác có lòng đến thăm, chúng ta ngồi chơi xơi nước nói chuyện
khào vậy! Khốn nỗi nhà bác tám tuy gà vịt, cá tôm không có sẵn
nhưng cái ổ sáo sờ sờ trước mặt. Mấy chú sáo con mới ra ràng hấp
dẫn quá chừng chừng. Bác nói vợ chồng nhà sáo sẽ đẻ nữa, lứa sau
nó mặc sức mà nuôi. Bao nhiêu ước mộng bị sụp đổ tan tành nên
thằng Chơn hậm hực lắm. Trong khi mấy ông nhậu nhẹt trên bộ ván
trước nhà, nó vừa đi qua đi lại vừa khóc nỉ non. Thỉnh thoảng
lại đưa cánh tay áo quẹt ngang mũi tức tưởi:
-Bắt sáo của người ta
ăn...hu hu...
Nhưng các ông còn lo dô dô
ỏm tỏi, chẳng ai ngó ngàng gì tới nỗi đau khổ của thằng Chơn.
Sau buổi nhậu, má Linh cằn nhằn:
-Thiệt phục mấy ông luôn.
Đành đoạn nhậu cho được mấy con sáo của thằng nhỏ. Tội nghiệp
hết sức!
...Tưởng tản cư tuốt vô
đồng sẽ được yên thân, ngờ đâu chạy ông mồ lại mắc ông mả. Số là
từ nửa năm nay phe Việt minh càng ngày càng bành trướng mạnh mẻ.
Họ tấn công đồn bót của phe Quốc gia đều đều nên tụi Pháp quyết
định áp dụng chiến thuật càn quét, phản công quyết liệt. Những
trận ruồng bố thường có kèm theo súng cối, xe tăng, máy bay. Một
hôm ba đi thăm ruộng dưa gang vừa về tới, má và chị Thủy đang
dọn cơm chiều. Cả nhà vừa mới ráp ngồi vô mâm thì có tiếng ù ù
trên không trung. Mọi người lo lắng nhìn nhau. Anh Thiên chạy ra
sân, núp dưới gốc me nhìn lên trời qua sát, rồi chạy trở vô nhà
la rối rít:
-Máy bay bà già, máy bay
bà già!
Ba vừa nói chết mồ, chắc
nó bay thám thính, thì những tiếng nổ ầm ầm đưa tới. Cả nhà cô
hai Tú và nhà Linh cùng nhảy ùm xuống cái ao sát cạnh nhà. Sở dĩ
có cái ao là vì con rạch Mỹ Ngãi chạy phía sau nhà khá nhỏ. Mùa
khô, lúc nước ròng con rạch hầu như cạn, nước đục ngầu. Vì vậy
dượng Hai và ba Linh hùn tiền mướn người đào cái ao này. Đường
kính chỉ độ năm thước, chứa nước để dùng vào mùa khô. Đất móc
dưới ao đấp lên xung quanh miệng cao cả thước nên mọi người núp
phía dưới cũng yên tâm. Gia đình chú hai Quân -trừ bà ngoại chú-
cũng hối hả nhập bọn. Bà ngoại chú hai nói bả già rồi có chết
thì cũng chết trên bờ cho ấm áp. Chết dưới nước lạnh lẽo lắm!
Liền tức thì một tiếng ầm trời long đất lở. Không biết ở đâu
nhưng Linh nghĩ là không xa. Theo phản xạ tự nhiên, mọi người
hụp đầu xuống dưới mặt nước. Lúc chịu hết nổi trồi đầu lên thì
nghe có tiếng la khóc vẳng lại đâu từ phía nhà bác tám. Nhưng
tiếng đạn vẫn veo véo trên đầu nên không ai dám nhúc nhích. Ba
Linh lắng tai nghe rồi nói:
-Cha, cái điệu này chắc
chắn “tụi nó” từ ngoài vàm bắn vô đây. Quả thật hôm sau đám du
kích nói tây dàn tàu ngoài vàm sông Cái, nã mọt chê tưới xượi vô
đồng, sau khi cho máy bay bà già thám thính trước. Họ cho rằng
hễ chỗ nào có nhà cửa đông đúc là có Việt minh ẩn náu. Mà lúc đó
có một tiểu đoàn đang đóng trong xóm Chùa, cách xóm nhà Linh hơn
một cây số thiệt. Không hiểu xui xẻo làm sao mà một trái mọt chê
trên đường đi lại mất trớn rớt xuống xế cửa nhà bác tám, chỗ cây
cau có ổ chim sáo. Độ nửa giờ sau khi tiếng súng im hẳn, tiếng
khóc đằng nhà bác tám càng lồng lộng. Ai nấy cứ để quần áo ướt
chạy lại coi có chuyện gì. Trên bộ ván trước nhà, bác tám gái
miệng kêu trời không ngớt, tay ôm chặt thằng Chơn mình mẩy đầy
máu, mắt nhắm nghiền, hơi thở yếu ớt. Chị Xinh, chị Lành đứng
bên cạnh khóc ròng. Bác tám trai gặp má Linh thì mừng quýnh,
miệng lắp bắp làm sao bây giờ hả thím năm? Má hối chị Xinh vô
buồng lấy cái mền ra đắp kín cho thằng Chơn, rồi biểu anh Dương
chạy lẹ vô xóm Chùa coi ban y tế có giúp được gì không. Bây giờ
lấy xuồng chở nó xuống tới bịnh viện Caolãnh xa quá sợ không
kịp. Bác trai kể khi nghe tiếng súng gia đình bác cũng chạy ra
ao, nhưng mới ra khỏi nhà chút xíu thì có tiếng nổ cái ầm sau
lưng. Thằng Chơn chạy sau cùng nên bị mãnh đạn ghim rúng. Nó la
lên đau quá má ơi trước khi nghã sấp xuống đất. Bác gái quay lại
đỡ nó lên mới thấy máu me tùm lum, bác thất kinh la lớn thằng
Chơn trúng đạn rồi. Mọi người xúm lại khiêng nó vô nhà bất kể
đạn bay veo véo trên đầu.
Linh thấy nó nhắm mắt, mồ
hôi rịn ướt trán, môi tái xanh, nét mặt lộ vẻ đau đớn lắm. Bác
gái thì cứ mếu máo Chơn ơi con đừng chết bỏ má khiến Linh cảm
thấy như có một vật nhọn đâm vào trái tim nhỏ bé của mình, nên
bước lại cầm nhẹ bàn tay lạnh ngắt của bạn. Thằng Chơn mở cặp
mắt lờ đờ, miệng thều thào : Nước, nước. Bác gái sai chị Xinh
lấy nước định cho nó uống, nhưng má Linh cản lại nói càng uống
nước máu ra càng nhiều, chỉ thấm thâm trên môi nó thôi.
Lát sau anh Dương trở về
với một người lạ mặt còn trẻ, tay xách cái túi bên ngoài có dấu
chữ thập đỏ. Anh Dương giới thiệu anh Đức, y sĩ của tiểu đoàn
đang đóng trong xóm Chùa. Sau trận hỏa kích vừa rồi cũng có vài
người bị thương nhưng tương đối nhẹ, có thể giao cho y tá săn
sóc. Anh Đức biểu bác gái đặt Chơn xuống bộ ván. Người nó oặt òa
oặt oại coi tội nghiệp hết sức. Anh lật mền, cởi áo thằng Chơn
ra khám. Khi thấy miểng đạn đi từ sau lưng vô mắc kẹt luôn trong
đó anh chép miệng:
-Trường hợp này phải giải
phẫu mới lấy mảnh đạn ra được. Khổ là bác sĩ Tiến có khả năng
giải phẫu lại mắc đi vô Kinh Xáng mai mới về.
Vừa nói anh vừa soạn bông
băng trong túi vải ra để rửa và băng bó vết thương. Sau đó chích
một mũi thuốc cầm máu và một mũi thuốc khỏe. Má kéo anh Đức ra
một góc hỏi nhỏ:
-Chú thấy sao. Liệu có cứu
được không?
Anh ta thở dài:
-Tôi thấy ít hy vọng vì
máu ra nhiều quá. Lúc nãy bắt mạch thấy nhảy rất yếu. Nếu là một
người đàn ông lực lưỡng thì may ra...Má Linh nghe xong thở dài
sườn sượt. Mấy ông ngồi như bị trời trồng. Đám con nít thất kinh
hồn vía cũng ngồi im thin thít. Ba Linh không chịu nổi bầu không
khí ngột ngạt nên nói lớn:
-Còn nước còn tát. Cứ chở
đại nó xuống bịnh viện Cao Lãnh may ra còn kịp. Chớ ngồi đây chờ
cái gì?
Bác tám trai như chợt
tỉnh, chạy ra bờ rạch đẩy chiếc xuồng cái rột xuống nước. Sau đó
Chơn được đặt trên cái mền sạch. Bốn người nhẹ nhàng cầm bốn góc
khiêng nó xuống xuồng. Bác gái vừa xỏ tay vô cái áo bà ba
vừa chạy theo, miệng la:
-Nhẹ nhẹ, nhẹ nhẹ, coi
chừng động vết thương.
Xuồng nhỏ nên chỉ có anh
Dương bơi mũi, bác trai cầm lái, bác gái ngồi khoang giữa với
thằng Chơn. Anh Thiên cầm cây đèn bão biểu anh Dương treo trước
mũi xuồng. Trong bóng đêm, không có đèn, phe Việt minh tưởng
việt gian, phe quốc gia lầm việt minh còn đổ nợ thêm!
Bác tám đi rồi ai về nhà
nấy. Mâm cơm còn y nguyên, lạnh tanh. Nhưng lòng dạ nào mà nuốt
cho vô nên má biểu chị Thủy dẹp luôn rồi đi ngủ. Linh cố nhắm
mắt mà không tài nào ngủ được. Con nhỏ thương thằng Chơn quá. Nó
khờ, nó hiền khô, Linh muốn gì nó cũng chìu theo. Mới hôm kia
chớ xa xôi gì. Thấy đám lục bình trôi giữa rạch nở bông tím đẹp
quá, Linh xúi nó hái cho Linh. Thằng Chơn lấy một nhánh tre khô
cố khều vào. Nhưng cái thứ lục bình sanh con đẻ cái tùm lum,
chùm nọ dính chùm kia nặng chình chịch. Cu cậu cố với ra mất đà
té ùm xuống nước. Đã trót thì trét luôn, Chơn lội ra kéo đám lục
bình vô bờ, hái cho Linh một bó to tướng. Thấy nét mặt rạng rỡ
của Linh khi nhận bó bông trên tay nó, thằng Chơn cười híp mắt
đầy vẻ sung sướng. Bây giờ nó gặp tai nạn ngặt nghèo, Linh không
giúp được gì thiệt khó chịu hết sức!
Lăn qua trở lại thiệt lâu,
cô nhỏ mới thiếp đi được một lúc thì giựt mình vì tiếng đập cửa.
Giọng anh Dương đầy vẻ hốt hoảng:
-Chú năm thím năm ơi!
Anh Thiên ra mở cửa. Chưa
kịp hỏi thì anh Dương đã mếu máo:
-Thằng Chơn chết rồi Thiên
ơi. Em vô nói với chú thím năm giùm. Linh bật ngồi dậy như cái
lò xo. Má vừa đi ra cửa vừa đưa tay bới tóc, miệng kêu trời như
bọng. Chị Thủy và Linh chạy theo lúp xúp. Qua tới nhà bác tám đã
thấy mọi người tề tựu đông đủ. Xác thằng Chơn được đặt trở lại
trên bộ ván. Mặt nó bây giờ thật bình thản tuy xanh xao vì bị ra
máu quá nhiều. Bác gái khóc hai mắt sưng húp, kể lại:
-Bơi tới chợ Hoà An, coi
như gần được nửa đường, thằng Chơn đột nhiên mở mắt ra kêu má
má. Rồi nấc lên, thở ra một hơi dài, nghẻo đầu qua một bên, nhắm
mắt đi luôn. Bác kể xong lại nức lên khóc thảm thiết khiến phe
đàn bà con nít cũng bật lên khóc ròng!
Hôm sau Chơn được an táng
trên gò mả cạnh mộ ông bà nội của nó, dưới bóng một cây bằng
lăng đang trổ bông tím ngắt. Ngày nào tụi con gái cũng rủ nhau
ra thăm mộ. Mấy cô hái đủ thứ hoa dại mọc dọc theo bờ rạch phủ
đầy lên trên. Đôi khi nhờ được anh Thiên trèo lên hái mấy đóa
bằng lăng tím để cắm trước mộ cho Chơn. Đứa nào cũng buồn thiu,
không còn thiết chơi trò gì nữa!...
Sau cái chết tức tưởi của
thằng Chơn, ba má Linh thấy Mỹ Nghĩa không còn an ninh như trước
nên quyết định lên phứt trên Sàigòn. Dầu gì cũng có bác Tư trên
đó. Thế nào họ cũng giúp ba má làm ăn. Cô dượng hai Tú cũng đành
dọn về Sađéc tá túc nhà ông già dượng hai. Cô hai Tú hết sức lo
lắng cho những ngày sắp tới, khi phải sống chung với đại gia
đình bên chồng. Má Linh diễu:
Dễ ợt. Cô cứ áp dụng hai
câu: Ba má chồng...tui bồng một nách
Chị em
chồng...tui xách một tay là yên chuyện. Nói giỡn chơi
với cô, chớ mình cứ việc ăn ở cho phải đạo. Đừng hiếp đáp, lấn
lướt ai là thái bình thạnh trị. Mình có xéo xắt, ham gây chuyện
thì mới có chuyện. Cô cứ theo sách lược một câu nhịn là chín câu
lành. Bảo đảm bình yên vô sự.
Hôm từ giã Mỹ Nghĩa ra đi,
Linh ra thăm mộ thằng Chơn lần cuối. Cô nhỏ nhờ anh Thiên hái
một bó bông bằng lăng rồi rứt ra từng cánh phủ đầy lên ngôi mộ.
Linh nói thầm rằng sẽ không bao giờ quên những ngày sống vui vẻ
ở đây và hứa chắc nếu có cơ hội về thăm ông bà nội, cô sẽ băng
đồng qua thăm mộ Chơn. Rồi sẽ đặt lên mộ những bông lục bình tím
như những bông ngày nào Chơn đã hái cho cô. Linh thì thầm...thì
thầm và nước mắt từ hồi nào đã tuôn ra ướt đẫm đôi mi!...
Trở về Trang Chính
|