|
Dưới ánh mặt trời chói chang, ruộng lúa chín trải
dài từ con lộ mới vô tít trong làng Mỹ-Nghiã như một tấm thảm
vàng khổng lồ. Những bông lúa no tròn rạp lên nhau theo chìu
gió. Từng đàn chim dòng dọc, chim se sẻ bay lên, sà xuống từ
chỗ nọ sang chỗ kia như những đám mây nhỏ...
Nhà ông Cả Phương, đám thợ gặt ở nơi khác tới cũng
đã tề tựu đông đủ. Họ ăn ở luôn tại đây . Những thợ gặt trong
làng, mỗi buổi chiều xong việc ai về nhà nấy.
Mợ tư Tâm dâu ông bà Cả đang mang thai đứa con thứ
ba. Cái bầu bảy tháng khiến mợ đi đứng nặng nề, chậm chạp. Tuy
vậy mợ vẫn phải chỉ huy đám hỏa đầu quân nấu cơm cho thợ ăn ngày
ba buổi. Chẳng phải cao lương mỹ vị gì, nhưng món mắm lóc chưng
đường hủ, nước đặc quánh, rắc hành tiêu thơm phức được mọi người
chiếu cố đặc biệt. Bầu, bí, rau cải đầy vườn nên họ cũng được ăn
thả cửa. Mợ Tư đãi ngộ đám thợ gặt rất rộng rãi nên ai cũng ráng
làm hết sức, không hề than cực.
Mỗi bữa trưa, con Ni với thằng Ban, đứa đội thúng
cơm, đứa đội thúng đồ ăn, tay xách bình trà huế ra đồng. Dưới
tàn cây gáo cổ thụ tỏa bóng mát như một cây lộng khổng lồ, hai
đứa bày cơm nước trên chiếc đệm cói. Đám thợ gặt bu xung quanh,
vừa ăn vừa cười giỡn râm ran. Thúng cơm gạo nàng tây trắng nõn
không mấy chốc đã hết sạch. Sau khi tráng miệng mỗi người một
trái chuối lá xiêm chín vàng lườm, họ quay ra người ăn miếng
trầu, kẻ vấn điếu thuốc rê, hút phun khói mịt mù...Sau chén trà
huế nóng hổi, họ tiếp tục gặt cho tới xế chiều...
Chỗ
mang cá giáp con lộ mới, ông Cả dùng làm chỗ đạp lúa. Hai con
bò vừa đạp lúa vừa nhơi rơm nhóc nhách. Sau đó lúa được giê cho
sạch hột lép, rồi đổ trên những tấm đệm trải dài hai bên con lộ
đá xanh. Sau vài nắng, hột lúa thiệt khô mới đổ vô bồ, chờ lái
tới mua. Rơm được chất xung quanh một thân tre khô cao độ ba,
bốn thước thành cây rơm. Rơm dùng cho trâu bò ăn vào mùa nước,
hoặc nướng bánh phồng, bánh tráng trong dịp Tết. Đôi khi dùng
nướng cá lóc, cá bông bọc đất sét cũng rất tiện lợi.
Cứ cách
một hai tối, mợ Tư lại đãi đám thợ gặt một nồi chè đậu xanh hoặc
đậu đỏ. Nhà có vườn dừa bát ngát nên nồi chè nào cũng được nêm
nước cốt dừa béo ngậy. Bà Cả có cằn nhằn sao hoang phí thì mợ Tư
chỉ cười chống chế:
- Tội
nghiệp họ làm cực khổ quá má à. Nồi chè đối với mình đâu có đáng
bao nhiêu.
Mà
thiệt năm nào ông bà cũng cho trồng vài công đậu ở miếng đất
giáp với nghĩa địa của đại gia đình họ Nguyễn. Miếng đất có độ
hai công nên không đáng trồng lúa. Thiệt tình mà nói, những gia
đình có của dưới quê, đã giàu càng ngày càng giàu thêm bởi
quanh năm họ không phải chi tiêu nhiều cho vấn đề ăn uống. Gia
đình ông Cả Phương có vườn dừa bán trái quanh năm. Cam, quít,
soài mỗi mùa đều có lái tới đặt cọc trước. Lúa ruộng góp mỗi năm
cả chục ngàn giạ. Nếu được giá thì bán cho lái. Không thì cậu mợ
Tư Tâm mướn ghe chài chở lên Chợ-Lớn bán cho mấy chành lúa. Sau
mùa lúa bắt đầu tát đìa. Ông Cả có vài cái đìa khá lớn rải rác
trong ruộng nhà. Mùa nước lớn, ngoài đồng nước ngập mênh mông.
Tôm cá đủ loại từ sông Cái lội vô kiếm ăn. Đến khi nước giựt, cá
từ từ tụ lại sống trong đìa.Ngoài cá tôm, trong đìa còn có sen,
súng mọc đầy. Mùa sen nở rộ, mỗi luồng gió thoảng qua, mang
hương thơm bay lồng lộng khắp cánh đồng. Cứ vài hôm bà Cả sai
thằng Ban ra đìa cắt hoa sen về cho bà cúng Phật. Cọng bông
súng, mợ Tư bóp dấm làm gỏi trộn khô cá lóc, cá sặc, hoặc trộn
với bông điên điển, lá lụa, lá soài non chấm mắm kho cũng ngon
tuyệt vời!.. Năm nào tát đìa xong, tôm cá nhiều quá ăn không
hết, mợ Tư và con Ni phải đem xuống chợ Cao-Lãnh bán bớt. Gà,
vịt lúc nào cũng sẵn vài chục con trong sân. Heo vài con trong
chuồng. Mợ Tư lại có tay trồng rau. Vạt rau sau hè lúc nào cũng
xanh tươi. Mợ cảm thấy lòng thư thái, êm ả khi ngắm đàn bướm đủ
màu bay lượn trên những luống cải lấm tấm hoa vàng. Tai nghe
tiếng vo ve của đám ong bầu, ong vò vẻ lượn lờ trên già bầu,
giàn bí cũng khiến lòng mợ vui như mở hội...
Không
tốn kém cho việc ăn uống nên đồng tiền thâu vô phần lớn dùng để
mua thêm ruộng, thêm vườn. Căn nhà nền đúc đồ sộ của ông Cả được
chưng bày hực hở. Bàn ghế, tủ thờ, hoành phi, trường kỷ... được
đám thợ mộc thiện nghệ từ ngoài Trung đi ghe bầu vô đóng tại
chỗ. Gian giữa thờ sắc Thần. Phía trước buông rèm từ trên trần
nhà xuồng tới nền gạch bông xem thiệt uy nghi và không kém phần
huyền bí đối với lũ cháu nội, cháu ngoại của ông bà Cã! Mỗi năm
tới mùa cúng đình, hương chức hội tề cùng dân làng tựu lại nhà
ông Cả làm lễ rước Sắc Thần ra đình. Cúng bái liên tiếp trong ba
ngày. Tối đến có hát bội tưng bừng náo nhiệt. Những đêm hát
tuồng có đào đẹp như Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Mộc Quế Anh
dưng cây đầu Tống, Lữ Bố hí Điêu Thuyền thì thiên hạ coi chật
rạp. Ngược lại nếu diễn tuồng Chung Vô Diệm thì khán giả rất
thưa thớt!
Năm nào
mợ Tư Tâm cũng bị chia phần chỉ huy ban ẩm thực. Từ người có
chức lớn nhứt cho tới kẻ cùng đinh trong làng đều được ăn uống
no say nên mọi người ai nấy đều hể hả...
Ông Cả Phương muốn cậu Tư sau này ra tranh cử Hội Đồng
nên bắt cậu lãnh chức Xã trưởng, là nấc thang bắt đầu cho sự
nghiệp chánh trị về sau. Năm đó cậu mới ba mươi. Đẹp trai, ăn
nói có duyên lại có chức tước nên cậu được phái nữ hâm mộ hết
mình, báo hại mợ Tư đánh ghen mệt nghỉ !
Mấy ngày trước khi mùa gặt bắt đầu, cô hai Trâm là
chị bà con của cậu Tư Tâm tới gặp mợ Tư, xin cho người em bà con
bên chồng vô giúp việc. Cô hai nỉ non:
-Tội nghiệp cổ lắm mợ ơi. Mới hăm hai tuổi đã góa
chồng. Không nghề ngỗng lại bị bà má với đám em chồng ăn hiếp.
Cổ chịu hết nổi nên ôm quần áo trốn lên nhà tui ở đậu. Tui thấy
mợ bụng mang dạ chửa nặng nề, lại sắp tới mùa lúa, chắc cần
người phụ, nên mới đánh liều tới hỏi mợ cho cổ làm, kiếm miếng
cơm qua ngày. Tùy mợ muốn cho nhiêu cũng được, cổ không dám đòi
hỏi gì nhiều.
Sẵn
tánh hay thương người, thấy cảnh góa bụa lại bị ức hiếp, mợ Tư
đâm thương cảm nên đồng ý mướn liền. Cô Hà thuộc loại mình dây,
người dong dỏng. Tuy mặc cái áo bà ba vải bông, quần ú đen,
nhưng không dấu được làn da trắng hồng. Mái tóc đen nhánh bới
gọn sau ót. Cặp mắt lá răm có đuôi, tuy hay nhìn xuống, nhưng
cũng không dấu được vẻ long lanh. Lúc chào mợ Tư cô chỉ hé đôi
môi, nhưng mợ cũng thoáng thấy đôi hàm răng trắng ngà đều đặn.
Nếu một mình cô ta tới xin giúp việc chắc mợ Tư không dám mướn.
Nhưng là em chồng cô hai Trâm, vướng trong tình trạng trái
ngang, phải tạm đi làm nuôi thân thì lại khác. Mợ Tư an ủi cô
Hà vài câu rồi kêu con Ni dẫn cổ xuống nhà dưới, nơi dành cho
người làm, dọn một căn buồng nhỏ kế buồng con Ni cho cổ. Hành
trang của cô người làm mới chỉ gọn gàng một bọc đồ nho nhỏ...Mới
có mấy ngày mà cô Hà đã được lòng hết mọi người trong nhà. Chịu
khó thức khuya dậy sớm, làm lụng chăm chỉ, lại nói năng ngọt
ngào. Khó tánh như bà Cả mà cũng không bắt bẻ vào đâu được. Chỉ
có hôm đầu, vừa mới thấy mặt cô Hà, Bà Cả châu mày ngạc nhiên,
kêu mợ Tư lên nhà trên nói:
-Vợ thằng Tư thấy sao, chớ má dòm tướng con nhỏ này
đi ở mà sao mướt rượt hà!
Mợ Tư
cười hiền:
- Tại cổ là em bà con với anh hai chồng chị Trâm đó
má. Hoàn cảnh ngặt nghèo mới đi ở tạm kiếm cơm. Thôi mình cũng
ráng giúp cổ ít bữa xem sao...
Bà Cả nói xuôi:
- Ừ, nhà mình đương neo người, bây tính sao đó tính.
Con Ni chịu lắm, vì từ ngày có Hà, nó có thì giờ
rảnh để tò tí với thằng Ban nhiều hơn. Con Ni năm nay mười bảy.
Thằng Ban mười chín. Gia đình Ban ba đời đều làm cho ông Cả. Ông
nội, rồi tía nó đều là tá điền làm ruộng, riêng nó được giao cho
giữ bầy bò và làm công việc lặt vặt trong nhà từ năm mới lên
mười bốn. Phần con Ni quê ở Hồng Ngự. Lúc mợ Tư sanh đứa con thứ
hai, bà Phủ Bá, má ruột mợ trên Đốc Vàng Thượng, mướn nó lúc đó
mới mười ba tuổi, dắt xuống coi em. Nhà nó đông con lại nghèo
thê nghèo thảm. Có bữa ăn cơm chỉ có rau cải trời, rau tập tàng
luộc chấm nước tương. Lúc mới tới giúp việc, con Ni ốm lòi cả
xương sườn xương sống. Rồi nhờ ăn uống đầy đủ chất bổ, từ từ nó
trổ mả coi cũng đẹp gái. Với thân hình tròn lẳn, chắc nịch, mái
tóc dài xức dầu dừa mướt rượt, kẹp gọn trong chiếc kẹp ba lá.
Nước da nó ngăm ngăm nhưng hồng như trái bồ quân. Cái mặt tròn
lấm tấm mụn trứng cá, mà hể hở tay là nó len lén móc túi áo, lấy
cái kiếng tròn nhỏ xíu ra, đưa ngang mặt ngắm nghía, mân mê mấy
cái mụn. Có lần ngứa tay nặn lầm cái mụn bọc, mặt sưng vù hết cả
tuần. Miệng nó tươi lại cười toe toét suốt ngày, nên đám trai
làng đã nhiều đứa thả lời ong bướm. Rốt cuộc nó kết thằng Ban.
Thằng này ngoài tướng tá vạm vỡ, lại ở chung nhà, có nhiều cơ
hội gặp gỡ, chuyện trò với con Ni nên chiếm thượng phong. Khi
nhà có khách nó còn dám dấu mấy món ngon, lén đem cho thằng Ban
ăn. Có lần bị chú Tám Tiểu, người phụ trách lau chùi bàn ghế
nhà trên. Khi ông bà Cả đi công chuyện thì phụ chèo ghe hầu. Chú
hơn bốn mươi, góa vợ đã năm sáu năm nay, bắt gặp. Chú vừa cười
vừa điểm mặt con Ni:
- Chết bây nghen. Dám dấu đồ ăn cho thằng Ban. Mà
cái thằng mạnh như trâu cần gì ăn đồ bổ? Ốm yếu như chú đây mới
cần tới mấy món nầy. Đưa chú ăn dùm cho.
Con Ni nguýt:
- Chú mà yếu! Chú kêu yếu sao đêm nào cũng '' chầu"
nhà cô năm Liễu tới khuya lơ khuya lắc mơí về?
Chú Tám trợn mắt:
- Sao bây biết tao ở đằng cô năm tới khuya?
Con Ni cười đắc thắng:
- Thôi chú đừng chối. Mới sáng hôm qua tui lên nhà
trên thay dĩa trái cây trên bàn thờ. Thấy chú ngồi dưới gạch,
tay cầm miếng giẻ lau mấy cái chưn tủ. Tay chú kéo qua kéo lại
mà mắt nhắm hít, cái đầu gục lên gục xuống. Hổng thức khuya sao
chú ngủ gục?
Chú tám cười xòa:
- Thôi tao sợ cái miệng bây luôn!
Mợ Tư Tâm tuy la con Ni chằn chằn, mợ chỉ sợ nó lỡ
dại ôm cái bầu, nhưng trong thâm tâm mợ cũng muốn tác hợp cho
hai đứa nó sau này.
Trong thời gian gặt lúa, người nào cũng bận rộn từ
hừng đông tới tối mịt. Làm không hở tay nên sau bữa cơm là lăn
ra ngủ, không còn biết trời đất gì ráo. Mợ Tư vác cái bụng bầu
tròn vo đi tới đi lui cả ngày, tới tối có khi hai bàn chưn sưng
vù, mệt đứt hơi. Leo lên giường là mợ đánh một giấc no nê tới gà
gáy canh một. Cậu Tư lấy cớ không muốn phá giấc ngủ của mợ nên
tạm thời di tản lên ngủ nhà trên, cạnh phòng ông Cả. Phòng cậu
mợ ở nhà ngang, nhà dưới cho người làm và nhà bếp. Sáng nào mợ
cũng thức sớm nhứt rồi lệt bệt xuống nhà dưới, kêu con Ni dậy
nhúm lửa nấu bữa sáng cho cả nhà và đám thợ gặt ăn dằn bụng.
Cậu Tư ngoài việc làng cũng lăng xăng ra đồng đôn
đốc mọi người. Tối tối sau bữa cơm cậu cũng tham gia ăn chè với
đám thợ gặt. Tài kể chuyện tiếu lâm của cậu được tán thưởng
nhiệt liệt. Riêng lũ con trai mới lớn, còn khờ khạo về mục trai
gái, được cậu ban cho những lời khuyên rất bổ ích!
... Mùa gặt qua. Giạ lúa cuối cùng cũng đã được cho
vô bồ. Đám thợ gặt sau khi lãnh tiền công hậu hỉ, ai về xứ nấy,
trả lại sự yên tĩnh cho gia đình ông bà Cả. Nghỉ ngơi vài ngày
mọi người sẽ bắt tay vào mục bánh mứt, lo cho cái Tết sắp đến...
Bữa nay trăng tròn vành vạnh, đổ xuống vạn vật một
thứ ánh sáng trong như thủy tinh, êm mát như nhung lụa. Cơm tối
xong, cậu tư Tâm nói với mợ rằng cậu phải lại nhà ông Hương sư
Mậu họp, chắc về trể. Chuyện cậu Tư đi chơi sau bữa cơm tối là
thường, nên mợ cũng không cần thắc mắc. Mợ chỉ nhắc cậu như
thường lệ:
- Mình nhớ đừng nhậu nhẹt quá chén, rủi về dọc đường
té bờ té bụi không ai hay rồi mang họa.
Cậu Tư trấn an vợ:
- Anh biết rồi. Mình cứ yên tâm ngủ ngon. Đừng lo,
anh họp chút xíu về liền.
Đang ngủ say, mợ Tư chợt giựt mình tỉnh dậy, vì hình
như có ai đang khều. Định hồn nhìn kỹ té ra con Ni. Mợ định mở
miệng hỏi thì nó ra hiệu biểu đừng lên tiếng, rồi kề tai nói thì
thào:
- Cô Sáu, con nhỏ kêu theo thứ của mợ Tâm lúc còn
con gái, theo con xuống nhà dưới liền. Dượng Sáu đang ở trong
buồng chị Hà.
Nghe tới đây mợ Tư bật dậy như bị điện giựt. Miệng
há hốc nói không nên lời. Con Ni thì thào tiếp:
-Hồi
nảy con thức dậy đi tiểu. Ngang buồng chị Hà nghe có tiếng nói
chuyện nho nhỏ. Con tưởng anh Ban nên áp tai vô vách lắng nghe.
Té ra tiếng của dượng Sáu. Con lật đật lên kêu cô. Cô nhớ đừng
để cho dượng biết là con cho cô hay, không thì chết con đó.
Mợ Tư
nói thôi mầy về buồng trước đi rồi tao xuống. Nhưng trước khi
xuống, mợ cầm cái đèn trứng vịt đi kiếm cây chổi lông gà. Mợ nhè
nhẹ mở cửa buồng rồi bất thần vén mùng lên. Chu mẹt ơi, dưới ánh
trăng sáng lồng lộng từ cửa sổ hắt vô, bộ ngực trần của cô Hà
trắng nhễ nhại. Lại còn gối đầu trên cánh tay cậu Tư, mái tóc
huyền xổ tung coi mười phần gợi cảm. Máu ghen tràn ứ cổ, mợ Tư
tay vừa quất túi bụi, miệng rít lên:
- Đồ gian phu dâm phụ. Dám dở trò khốn nạn trong nhà
này. Cho mấy người giỏi hú hí nè...
Cậu Tư vừa đỡ đòn cho tình nhân, vừa nhảy xuống
giường, a lại ôm mợ Tư cứng ngắt:
-Thôi
mà mình...Thôi mà mình...
Rồi
quay qua phía cô Hà đang ngồi chết trân trong góc giường, tay
kéo hai vạt áo cố che bộ ngực trần đang phập phồng vì quá sợ
hãi! Cậu la lên:
- Trời ơi chạy lẹ đi. Còn ngồi đó làm chi nữa!
Cô ta như chợt tỉnh, phóng xuống giường, chạy một
mạch ra cữa sau rồi biến dạng trong đêm tối. Bây giờ con Ni mới
lò dò bước vô, làm như mới vừa thức giấc. Lúc đó cậu Tư mới dám
buông mợ ra. Mợ bật lên khóc nức nở. Kể lể bù lu bù loa, mắng
cậu lòng lang dạ sói, mặt người lòng thú v...v...và...v...v...
Cậu không ngớt vuốt ve năn nỉ. Nhưng cậu càng nói mợ
càng sôi máu la lớn thêm. Trên nhà ông bà Cả nghe ồn ào cũng lật
đật xuống coi có chuyện gì. Chừng nghe mợ Tư kể đầu đuôi, ông Cả
nổi tam bành, kêu cậu Tư theo ông lên nhà trên "làm việc"! Bà Cả
ở lại khuyên nhủ mợ Tư. Khuyên một hồi mà thấy con dâu cứ "ngoan
cố" khóc lóc mãi, bà đâm bực mình, phán cho một câu xanh dờn:
- Ối bây khóc chi cho mệt.
Đàn ông dù năm thê bảy thiếp cũng có hao mòn gì đâu mà sợ? Nó
chơi chán rồi cũng mò dìa với vợ cái con cột, lo cái gì chớ? Mà
cũng tại bây, hồi đầu tao đã nói con đó hổng giống dân đi ở đợ
mà bây hổng chịu tin. Ni đâu, dẫn cô mầy lên phòng nghỉ.
Mợ Tư đang khóc nỉ non chợt nín ngang vì quá đổi
ngạc nhiên! Mợ có sợ hao mòn cái gì đâu chớ? Bằng cớ là những
lần mèo chuột trước, mợ chỉ to nhỏ với cậu trong phòng ngủ của
hai vợ chồng mà thôi. Nhưng lần này cậu quá quắt, dám dắt nhân
tình về tận nhà gạt mợ. Vậy cậu còn coi mợ ra cái thể thống gì
nữa?! Tội lỗi đã sờ sờ ra đó mà bà già còn binh! Mợ ấm ức không
nói không rằng, đi một nước lên nhà ngang, vô buồng đóng chặt
cửa... khóc tiếp. Gần sáng mệt quá mới thiếp đi....
Sáng hôm sau mợ sai con Ni tom góp mớ quần áo của
con "dâm phụ", mà hồi hôm ăn mấy chổi lông gà, sợ quá bỏ của
chạy lấy người, đưa cho mợ. Cầm bọc quần áo, mợ Tư hầm hầm đi
tới nhà cô hai Trâm. Bà này đoán biết thế nào giông tố cũng
tới, nên đã sẵn sàng trong tư thế...ứng chiến. Mợ Tư liệng bọc
đồ cái bịch xuống chiếc chõng tre, rồi đưa cặp mắt toé lửa nhìn
cô hai:
- Sao chị dám dẫn con quỉ cái đó tới gạt tui? Tui
làm mích lòng chị chuyện gì mà chị nỡ nhẫn tâm hại tui như vậy,
chị nói đi.
Cô hai Trâm chấp tay năn nỉ, giọng đầy nước mắt:
-Tại cậu Tư dẫn cổ tới nhờ tui nói vậy, chớ có ăn
gan trời tui cũng hổng dám tự ý gạt mợ đâu. Bị mang ơn cậu mấy
lần giúp tiền đóng giấy thuế thân cho ông nhà tui nên thiệt khó
lòng từ chối đó mợ. Mợ mở lượng hải hà tha lỗi cho tui lần này,
tui thề không bao giờ dám tái phạm...
Cô hai nói tới đây bèn đưa chéo khăn rằn đỏ bình
thường dùng để lau cổ trầu, lên chặm chặm cặp mắt đỏ hoe.
Mợ Tư đã mềm lòng, nhưng còn cố gằn giọng:
- Bây giờ chị dấu con quỉ cái đó ở đâu?
Cô hai Trâm lật đật nói:
-Chèn ơi, tối hôm qua khuya lơ khuya lắc nó tới đây
đập cửa. Tui thấy điệu bộ hớt hơ hớt hãi của nó là biết chuyện
đã đổ bể. Sáng nay gà mới gáy canh một là tui đã kêu ông nhà tui
lấy xuồng chở nó xuống chợ Cao Lãnh rồi. Ứ hự, thiệt khi không
lãnh nợ giữa đường!!!
Biết nói thêm cũng vô ích, mợ Tư ra về, lòng nặng
trĩu ưu phiền. Mợ không hiểu sao ông Tơ, bà Nguyệt cắc cớ gì mà
xe duyên cho mợ với một ông chồng quá đỗi bay bướm như vậy? Mà
ngặt nỗi với cái miệng dẻo quẹo như kẹo mạch nha, ngọt như đường
phèn cộng với cái tài nịnh hót thần sầu của cậu, mợ không thể
nào giận lâu được! Tuy lần nào phạm lỗi cậu cũng thề nặng: - Anh
mà tái phạm cho Bà Chúa Xứ vật anh hộc máu, chết không nhắm mắt,
không toàn thây...v...v...Mợ đâu có muốn cậu chết...yểu, bỏ mợ
bơ vơ một mình, nên lật đật bịt miệng cậu lại, rồi nói giọng yếu
xìu:
- Thôi mình đã biết lỗi em tha. Từ đây nhớ đừng làm
em giận nữa đó.
Dĩ nhiên là cậu đưa cả hai tay lên trời thề một cách
rất chân thành, rất tha thiết. Nhưng một thời gian sau, cậu lại
quên mầt lời thề độc ( có gì lạ? một nhà tư tưởng lớn, sau nhiều
năm "nghiên kíu" đã đi đến kết luận: loài người là một giống rất
mau quên!). Cậu vẫn thường tuyên bố với bạn bè rằng tui là một
phật tử thuần thành mà. Đức Phật dạy chúng ta phải thương người
như thể thương thân. Ai thương mình mình không thương lại
ắt...mang tội!
Mợ Tư thở dài não nuột.
Trong thâm tâm mợ biết cái màn bi hài kịch trên sẽ lại tái diễn
và sẽ còn tái diễn dài dài. Cũng bởi, một là mợ thương quá là
thương cái tên chồng mất nết đó, hai nữa cái chuyện con gái lộn
nài bẻ ống, bỏ chồng về nhà cha mẹ ruột coi... hổng có đặng! Cho
tá túc vài ngày rồi cha mẹ mợ cũng sẽ xỏ mũi cô con gái "dẫn độ"
về trả lại bên chồng, kèm theo một núi quà cáp. Chưa kể cái màn
háy ngýt của bà mẹ chồng cũng... nhức nhối như bị kim đâm! Đối
với bà Cả, đàn ông năm thê bảy thiếp là thường. Hồi xưa bà đã
từng phải chấp nhận vài đứa con ngoại hôn của ông Cả. Rồi có
chết ai đâu ???
Hy vọng một ngày nào đó, cậu mõi gối chồn chân, chán
cái mục trăng hoa, quay về với mợ vĩnh viễn. Ôi thân gái mười
hai bến nước. Mợ lỡ rơi vào bến đục thì đành chấp nhận thương
đau! Má ruột mợ đã từng khuyên:
- Đàn ông năm bảy lá gan. Lá ở cùng vợ lá toan cùng
người...
Thôi
con ráng ngọt ngào với nó. Làm dữ quá nó chán, bỏ đi luôn thì
mất cả chì lẫn chài!
Suy nghĩ lan man về tới nhà hồi nào không hay.Y như
mợ dự đoán, vừa bước vô buồng là cậu Tư đã a thần phù ôm mợ vô
lòng, miệng mở máy:
- Mình ơi cho anh xin lỗi. Tía la anh một trận kinh
thiên động địa rồi. Anh hối hận lắm. Anh thề với mình nếu tái
phạm...
Mới nghe tới cái điệp khúc này, mợ Tư vội vàng bịt
miệng cậu:
- Thôi làm ơn tắt dùm cái dĩa hát rè này đi. Tui
thuộc lòng hết bài bản của mấy người rồi! Nhiêu đó đồ đi đồ lại
hoài bộ hổng chán hả?
Cậu Tư cười mơn:
-Vậy mình tha lỗi cho anh nghe mình. Anh hứa từ
nay...
Mợ Tư thở dài đánh sượt, tỏ dấu chán nản tới cùng
cực:
- Làm ơn đừng thề cũng đừng hứa. Tui không muốn bán
lúa giống đâu!
Mợ cố vùng ra khỏi lòng cậu. Nhưng phần cái bụng lớn
cồng kềnh, khó xoay trở, phần đôi tay rắn chắc của cậu cứ nhứt
định ôm mợ khít rịt, mợ không tài nào thoát ra được. Rồi những
lời rủ rỉ rù rì bên tai, cùng với những nụ hôn, những mơn trớn
đầy kinh nghiệm của cậu khiến mợ Tư dần dần cảm thấy từ tâm hồn
tới thể xác mềm dần... mềm dần và cuối cùng, một lần nữa mợ lại
thua một cách thảm hại trước ông chồng có tới năm bảy lá gan
này! Mợ khép hờ đôi mi, thở ra: Cũng tại kiếp trước mình tu quá
lố!!!
TIỂU-THU
Trở về Trang Chính
|