Từ xe kéo tay ...đến xe đạp chân


 

Dr. Tôn Thất Hứa

Leitender Notarzt – DG fuer Katatrophenmedizin e.V.

29 tháng 06 năm 2006

Cuối thế kỷ thứ XIX, chiếc xe kéo tay (pousse - pousse) đã được tìm thấy tại nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản ... và tại Việt Nam. Chiếc xe kéo thai nghén từ góc xó nào của quả địa cầu này, qua các tài liệu đã có, chúng ta chưa có bằng chứng cụ thể để nhận mặt người cha đẻ đã tặng cho nhân loại một di sản độc đáo.

Lối chuyên chở quan liêu kiểu "người ngựa" cũng đã xuất hiện trên mặt đường Âu Châu, ví dụ tại nước Pháp. So sánh với cách phục vụ theo kiểu phong kiến bằng kiệu do bốn người ở Trung Quốc hay 2 người khiêng tại Việt-Nam có từ trước, thì xe kéo vẫn là môt phương tiện đi lại, khách quan mà nói, thì bình dân và nhanh chóng hơn.                                                               

  

Từ chiếc xe kéo tay đã vang bóng một thời xa xưa để rồi biến dạng dần thành chiếc xe xích lô, đó là một cuộc cách mạng trong sự bình đẳng giữa người và người. Sự có mặt của những chiếc xe bóng lộn của các hãng xe nổi tiếng của khắp thế giới như BMW, Benz Mercedes, Peugeot, Citroen, Honda ... trên khắp nẻo đường đất nước vẫn chưa đủ khả năng xóa bỏ mất cái nhiệm vụ thiêng liêng hàng ngày đã được giao phó làm dịch vụ đón đưa.

                      

Xe xích lô hiện đang chiếm một chỗ đứng khiêm nhường trong cuộc sống hàng ngày để  nuôi sống gia đình đám dân nghèo chất phát : đưa  đón du khách tham quan hay dạo chơi các khu phố & thành phố du lịch ở đất nước Việt-Nam: Hà Nội, Hội An, Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Nha Trang, Sàigòn.......

Thất thủ kinh đô sau cuộc binh biến do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo ngày 05.07.1885 (tối 22 rạng ngày 23 tháng 05 năm Ất Dậu) mở đầu cho nền đô hộ của Pháp, năm 1888, toà thị chính Sàigòn mới cho phép một ông chủ người Pháp độc quyền khai thác ngành "giao thông vận tải" thô sơ bằng phương tiện "người kéo người".

Hình ảnh ông Tây béo phì ngồi chễm chệ trên chiếc xe do người phu xe bản xứ gầy gò mồ hôi nhễ nhại là biểu tượng cho nền thuộc địa mới ra lò tại Việt-Nam.

Cho đến năm 1900, có 395 chiếc xe trên đường phố Sàigòn, chiếc xe kéo du nhập vào Sàigòn khá muộn màng và không được phát triển cho lắm, không biết vì thành kiến hay điều kiện khí hậu miền Nam quá khắt khe. Hình ảnh "ngựa người" là đề tài đã kích xã hội và những phóng sự nóng hổi thời cuộc nói lên dư luận quần chúng, nỗi cực nhọc của người kéo xe "cu li xe" (coolie de pousse-pousse) và sự bóc lột của những ông chủ. Phỏng chừng thu nhập của người phu xe kéo mỗi ngày là 1 đồng (piastre) bằng lương của một người thợ có tay nghề. Tại Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX, ông Đốc lý thành phố Bonnal cho nhập hai chiếc xe rickshaw (xe kéo gọi bằng tiếng Anh) đầu tiên từ Nhật Bản về, chẳng mấy chốc lên đến 6 chiếc. Một cuốc xe trung bình 15 xu, còn đi cả ngày thì phải trả 1 đồng bạc. Rồi sau đó, một quan chức nhà đoan Pháp từ Nam Kỳ ra Hà Nội mở một hãng cho thuê xe kéo. Người dân quê chất phác bị mất đất là những người cu li xe kiếm tiền để sống, họ thuê xe từng ngày, đến cuối ngày họ phải trả đủ tiền thuê cho chủ, dù họ kiếm được tiền hay không. Trường hợp không thanh toán đầy đủ thì các tay "anh chị" của chủ xe sẽ đi tìm về để ra tay trừng trị nhóm người nghèo khó chất phác.

 

Bánh xe kéo của những ngày đầu là những bánh gỗ bọc sắt như xe bò cho nên chạy lọc cọc và xóc, sau đó bằng bánh sắt bọc cao su quanh vành và được cải tiến tột bực là thay bằng bánh cao su bơm hơi, cho nên đến giai đoạn này thì cũng được gọi là "xe cao su". Tình trạng khan hiếm cao su trong Đệ Nhị Thế Chiến, xe kéo lại mang bánh sắt bọc cao su.

Loại xe nhà (pousse-pousse de maitre) để phân biệt với xe tay hay xe kéo thuê nằm trong dịch vụ chuyên chở công cọng. Loại xe nhà được các quan chức chính phủ hay nhà phú hộ có khả năng tậu một chiếc xe riêng cho gia đình, thuê một người kéo xe quanh năm, giá cả quá rẻ tại cái xứ nhân công rẻ mạt. Chủ nhân và con cái chễm chệ ngồi trên xe kéo đi quanh thành phố thật là thuận tiện, thậm chí đi xa đến 15 -20 cây số vẫn còn có ích trong giai đoạn ô tô đang còn khan hiếm, giá xe còn đắt đỏ. Những đề tài đã kích của nhà báo lừng danh Tam Lang về "ngựa người" và câu chuyện "ngựa người và người ngựa" của nhà văn hiện thực Nguyễn Công Hoan thế kỷ trước, đã đi vào dĩ vãng vì từ đây người đạp xe có chỗ ngồi tạm bình đẳng với khách hàng, tự nó cũng đã giải quyết được sự lưu thông, chuyên chở và đạo lý.

Sự tồn tại của loại xe tay kéo dài rất lâu, chiến tranh thứ hai chấm dứt thì thì xe tay đã có mặt hầu hết tại các thành thị Việt-Nam, đến tận các phố huyện vì xe có thể đi bất cứ nơi nào dù đường quê lầy lội khó đi.

Một điều ghi nhận là xe kéo tay ở vùng Nam Bộ không được phát triển mạnh mẽ, có phải chăng vì cái dấu ấn bất bình đẳng giữa người và người !!

Để mang lại thăng bằng, một sáng kiến lại được nảy ra để trung hoà quan niệm sống, sáng kiến đưa đến sự thành hình chiếc xe xích lô (cyclo-pousse) : vừa đạp vừa đẩy. Xe xích lô đã có mặt tại Sàigòn vào những năm 40 của thế kỷ qua, lúc đầu nó mang tên khác và cấu tạo cũng khác, đó là chiếc xe lôi. Xe lôi gồm có chiếc xe đạp kéo theo sau một cái thùng có thể chở hàng và chở người. Sức kéo của loại xe này rất khỏe, có thể kéo đằng sau 4 đến 6 người lớn, còn trọng lượng và kích thước hàng hoá thì vô tội vạ. Vào giai đoạn này, xe lôi đã có những tuyến chuyên chở hàng từ Sàigòn đến các tỉnh, thậm chí còn lên đến Nam Vang nữa. Hiện nay còn được xử dụng tại một số tỉnh miền Nam. Nhưng tại nơi sinh ra nó, Sàigòn, thì nó đã biến mất 100%.

Trước chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ thì xích lô chỉ mới thấy lấp ló ở các đường xá Hà Nội, nhưng rất nhanh sau đó đã tràn ngập các đô thị miền của 2 miền Nam Bắc.

Dấp dáng chiếc xe xích lô cũng thay đổi tùy theo nơi nó đang phục vụ:

        miền Nam thì hẹp chiều ngang và cao

         xe ở Hà Nội thì thấp hơn và rộng hơn, có thể chở hai người dễ dàng

          tại cố đô Huế thì nó hẹp hơn một chút và thấp như xe ở Hà Nội

          riêng tại Hải Phòng thì dáng xe hoàn toàn khác lạ, nó dài hơn và cong như một chiếc thuyền.

Từ thập kỷ 50 đến 80 của thế kỷ vừa qua, xích lô đã trở thành phương tiện chủ yếu ở Hà Nội. Trong lúc mà phương tiện vận chuyển cơ giới chưa được phát triển cho lắm, xe xích lô được đổi dạng chút ít để đảm đương công việc vận chuyển hàng hoá, một nhiệm vụ nặng nề hơn : xe bỏ đệm ngồi, thay chắn bùn hai bên bằng hai mảnh ván phẳng để chất hàng, khả năng vận chuyển của nó có thể lên đến hai trăm kg.

Trong giai đoạn khó khăn về kinh tế, xe xích lô đã sinh ra và đảm đang đầy đủ bổn phận giao phó, nó không bị chi phối bởi những khủng hoảng năng lương trong nước và trên thế giới, mà dựa trên sức mạnh và chịu đựng dẻo dai của người Việt-Nam sống bằng bo bo, gạo tấm của thời bao cấp.

Sau năm 1975, kiểu xe tương tợ cũng thấy xuất hiện tại thành phố Saigòn mang tên mới : xe ba gát, cũng tại vùng đất miền Nam này xuất hiện xích lô máy. Xe chạy bằng động cơ mô tô, có sức chở lớn nhưng bất tiện là gây tiếng ồn và rất dễ gây tai nạn, vì vậy không được phát triển. Điểm chú ý là không thấy xuất hiện xích lô máy tại miền Trung và Hà Nội !!

Nhưng rồi xích lô cũng đi hết chặng đường của nó sau khi đã hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử đã giao phó. Kể từ khi nước Việt-Nam đi vào công cuộc đổi mới, các thành thị được quy hoạch lại và phát triển với tốc độ nhanh, vận chuyển cơ giới phát triển một cách ồ ạt khắp tỉnh thành thì sự ra đi của xe xích lô cũng được đặt ra.

Xe lam từ lâu là đối thủ của xe xích lô, nhất là tại miền Nam, thì nay đang bành trướng tại Hà Nội. Lần lượt nhiều tuyến đường trong nhiều thành phố đã cấm xe xích lô, nhất là vào những giơ cao điểm do những trở ngại do chính nó gây nên với những phương tiện giao thông khác.

Ngày nay kiểu xe ba bánh do người vừa đạp vừa đẩy đang tô điểm cho cố đô Huế, thành phố cổ Hội An, đất Thăng Long ngàn năm văn vật của ba mươi sáu phố phường một dáng dấp thô sơ của một hiện vật đã được sinh ra từ hơn một thế kỷ. Xe xích lô là biểu tượng cho một món đồ cổ bằng kim loại của bảo tàng miền Đông Nam Á và được trưng bày ngoài mặt đường một cách sinh động.

 

● Dr. Tôn-Thất Hứa

 

Trở về Trang Chính