|
Cuối thế kỷ thứ XIX, chiếc xe kéo
tay (pousse - pousse) đã được tìm thấy tại nhiều quốc gia như
Trung Quốc, Nhật Bản ... và tại Việt Nam. Chiếc xe kéo thai
nghén từ góc xó nào của quả địa cầu này, qua các tài liệu đã có,
chúng ta chưa có bằng chứng cụ thể để nhận mặt người cha đẻ đã
tặng cho nhân loại một di sản độc đáo.
Lối chuyên chở quan liêu kiểu
"người ngựa" cũng đã xuất hiện trên mặt đường Âu Châu, ví dụ tại
nước Pháp. So sánh với cách phục vụ theo kiểu phong kiến bằng
kiệu do bốn người ở Trung Quốc hay 2 người khiêng tại Việt-Nam
có từ trước, thì xe kéo vẫn là môt phương tiện đi lại, khách
quan mà nói, thì bình dân và nhanh chóng
hơn.

Từ chiếc xe kéo tay đã vang bóng
một thời xa xưa để rồi biến dạng dần thành chiếc xe xích lô, đó
là một cuộc cách mạng trong sự bình đẳng giữa người và người. Sự
có mặt của những chiếc xe bóng lộn của các hãng xe nổi tiếng của
khắp thế giới như BMW, Benz Mercedes, Peugeot, Citroen, Honda
... trên khắp nẻo đường đất nước vẫn chưa đủ khả năng xóa bỏ mất
cái nhiệm vụ thiêng liêng hàng ngày đã được giao phó làm dịch vụ
đón đưa.
Xe xích lô hiện đang chiếm một
chỗ đứng khiêm nhường trong cuộc sống hàng ngày để nuôi sống
gia đình đám dân nghèo chất phát : đưa đón du khách tham quan
hay dạo chơi các khu phố & thành phố du lịch ở đất nước
Việt-Nam: Hà Nội, Hội An, Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Nha Trang,
Sàigòn.......
Thất thủ kinh đô sau cuộc binh
biến do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo ngày 05.07.1885 (tối 22 rạng
ngày 23 tháng 05 năm Ất Dậu) mở đầu cho nền đô hộ của Pháp, năm
1888, toà thị chính Sàigòn mới cho phép một ông chủ người Pháp
độc quyền khai thác ngành "giao thông vận tải" thô sơ bằng
phương tiện "người kéo người".
Hình ảnh ông Tây béo phì ngồi
chễm chệ trên chiếc xe do người phu xe bản xứ gầy gò mồ hôi nhễ
nhại là biểu tượng cho nền thuộc địa mới ra lò tại Việt-Nam.
Cho đến năm 1900, có 395 chiếc xe
trên đường phố Sàigòn, chiếc xe kéo du nhập vào Sàigòn khá muộn
màng và không được phát triển cho lắm, không biết vì thành kiến
hay điều kiện khí hậu miền Nam quá khắt khe. Hình ảnh "ngựa
người" là đề tài đã kích xã hội và những phóng sự nóng hổi thời
cuộc nói lên dư luận quần chúng, nỗi cực nhọc của người kéo xe
"cu li xe" (coolie de pousse-pousse) và sự bóc lột của những ông
chủ. Phỏng chừng thu nhập của người phu xe kéo mỗi ngày là 1
đồng (piastre) bằng lương của một người thợ có tay nghề. Tại Hà
Nội vào cuối thế kỷ XIX, ông Đốc lý thành phố Bonnal cho nhập
hai chiếc xe rickshaw (xe kéo gọi bằng tiếng Anh) đầu tiên từ
Nhật Bản về, chẳng mấy chốc lên đến 6 chiếc. Một cuốc xe trung
bình 15 xu, còn đi cả ngày thì phải trả 1 đồng bạc. Rồi sau đó,
một quan chức nhà đoan Pháp từ Nam Kỳ ra Hà Nội mở một hãng cho
thuê xe kéo. Người dân quê chất phác bị mất đất là những người
cu li xe kiếm tiền để sống, họ thuê xe từng ngày, đến cuối ngày
họ phải trả đủ tiền thuê cho chủ, dù họ kiếm được tiền hay
không. Trường hợp không thanh toán đầy đủ thì các tay "anh chị"
của chủ xe sẽ đi tìm về để ra tay trừng trị nhóm người nghèo khó
chất phác.

Bánh xe kéo của những ngày đầu là
những bánh gỗ bọc sắt như xe bò cho nên chạy lọc cọc và xóc, sau
đó bằng bánh sắt bọc cao su quanh vành và được cải tiến tột bực
là thay bằng bánh cao su bơm hơi, cho nên đến giai đoạn này thì
cũng được gọi là "xe cao su". Tình trạng khan hiếm cao su trong
Đệ Nhị Thế Chiến, xe kéo lại mang bánh sắt bọc cao su.
Loại xe nhà (pousse-pousse de
maitre) để phân biệt với xe tay hay xe kéo thuê nằm trong dịch
vụ chuyên chở công cọng. Loại xe nhà được các quan chức chính
phủ hay nhà phú hộ có khả năng tậu một chiếc xe riêng cho gia
đình, thuê một người kéo xe quanh năm, giá cả quá rẻ tại cái xứ
nhân công rẻ mạt. Chủ nhân và con cái chễm chệ ngồi trên xe kéo
đi quanh thành phố thật là thuận tiện, thậm chí đi xa đến 15 -20
cây số vẫn còn có ích trong giai đoạn ô tô đang còn khan hiếm,
giá xe còn đắt đỏ. Những đề tài đã kích của nhà báo lừng danh
Tam Lang về "ngựa người" và câu chuyện "ngựa người và người
ngựa" của nhà văn hiện thực Nguyễn Công Hoan thế kỷ trước, đã đi
vào dĩ vãng vì từ đây người đạp xe có chỗ ngồi tạm bình đẳng với
khách hàng, tự nó cũng đã giải quyết được sự lưu thông, chuyên
chở và đạo lý.
Sự tồn tại của loại xe tay kéo
dài rất lâu, chiến tranh thứ hai chấm dứt thì thì xe tay đã có
mặt hầu hết tại các thành thị Việt-Nam, đến tận các phố huyện vì
xe có thể đi bất cứ nơi nào dù đường quê lầy lội khó đi.
Một điều ghi nhận là xe kéo tay ở
vùng Nam Bộ không được phát triển mạnh mẽ, có phải chăng vì cái
dấu ấn bất bình đẳng giữa người và người !!
Để mang lại thăng bằng, một sáng
kiến lại được nảy ra để trung hoà quan niệm sống, sáng kiến đưa
đến sự thành hình chiếc xe xích lô (cyclo-pousse) : vừa đạp vừa
đẩy. Xe xích lô đã có mặt tại Sàigòn vào những năm 40 của thế kỷ
qua, lúc đầu nó mang tên khác và cấu tạo cũng khác, đó là chiếc
xe lôi. Xe lôi gồm có chiếc xe đạp kéo theo sau một cái thùng có
thể chở hàng và chở người. Sức kéo của loại xe này rất khỏe, có
thể kéo đằng sau 4 đến 6 người lớn, còn trọng lượng và kích
thước hàng hoá thì vô tội vạ. Vào giai đoạn này, xe lôi đã có
những tuyến chuyên chở hàng từ Sàigòn đến các tỉnh, thậm chí còn
lên đến Nam Vang nữa. Hiện nay còn được xử dụng tại một số tỉnh
miền Nam. Nhưng tại nơi sinh ra nó, Sàigòn, thì nó đã biến mất
100%.
Trước chiến tranh thế giới thứ II
bùng nổ thì xích lô chỉ mới thấy lấp ló ở các đường xá Hà Nội,
nhưng rất nhanh sau đó đã tràn ngập các đô thị miền của 2 miền
Nam Bắc.
Dấp dáng chiếc xe xích lô cũng
thay đổi tùy theo nơi nó đang phục vụ:
●
miền Nam thì hẹp chiều ngang và cao
●
xe ở Hà Nội thì thấp hơn và rộng hơn, có thể chở hai người dễ
dàng
●
tại cố đô Huế thì nó hẹp hơn một chút và thấp như xe ở Hà Nội
●
riêng tại Hải Phòng thì dáng xe hoàn toàn khác lạ, nó dài hơn và
cong như một chiếc thuyền.
Từ thập kỷ 50 đến 80 của thế kỷ
vừa qua, xích lô đã trở thành phương tiện chủ yếu ở Hà Nội.
Trong lúc mà phương tiện vận chuyển cơ giới chưa được phát triển
cho lắm, xe xích lô được đổi dạng chút ít để đảm đương công việc
vận chuyển hàng hoá, một nhiệm vụ nặng nề hơn : xe bỏ đệm ngồi,
thay chắn bùn hai bên bằng hai mảnh ván phẳng để chất hàng, khả
năng vận chuyển của nó có thể lên đến hai trăm kg.
Trong giai đoạn khó khăn về kinh
tế, xe xích lô đã sinh ra và đảm đang đầy đủ bổn phận giao phó,
nó không bị chi phối bởi những khủng hoảng năng lương trong nước
và trên thế giới, mà dựa trên sức mạnh và chịu đựng dẻo dai của
người Việt-Nam sống bằng bo bo, gạo tấm của thời bao cấp.
Sau năm 1975, kiểu xe tương tợ
cũng thấy xuất hiện tại thành phố Saigòn mang tên mới : xe ba
gát, cũng tại vùng đất miền Nam này xuất hiện xích lô máy. Xe
chạy bằng động cơ mô tô, có sức chở lớn nhưng bất tiện là gây
tiếng ồn và rất dễ gây tai nạn, vì vậy không được phát triển.
Điểm chú ý là không thấy xuất hiện xích lô máy tại miền Trung và
Hà Nội !!
Nhưng rồi xích lô cũng đi hết
chặng đường của nó sau khi đã hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử đã
giao phó. Kể từ khi nước Việt-Nam đi vào công cuộc đổi mới, các
thành thị được quy hoạch lại và phát triển với tốc độ nhanh, vận
chuyển cơ giới phát triển một cách ồ ạt khắp tỉnh thành thì sự
ra đi của xe xích lô cũng được đặt ra.
Xe lam từ lâu là đối thủ của xe
xích lô, nhất là tại miền Nam, thì nay đang bành trướng tại Hà
Nội. Lần lượt nhiều tuyến đường trong nhiều thành phố đã cấm xe
xích lô, nhất là vào những giơ cao điểm do những trở ngại do
chính nó gây nên với những phương tiện giao thông khác.
Ngày nay kiểu xe ba bánh do người
vừa đạp vừa đẩy đang tô điểm cho cố đô Huế, thành phố cổ Hội An,
đất Thăng Long ngàn năm văn vật của ba mươi sáu phố phường một
dáng dấp thô sơ của một hiện vật đã được sinh ra từ hơn một thế
kỷ. Xe xích lô là biểu tượng cho một món đồ cổ bằng kim loại của
bảo tàng miền Đông Nam Á và được trưng bày ngoài mặt đường một
cách sinh động.
●
Dr. Tôn-Thất Hứa
Trở về Trang Chính
|