Thô thiễn lạm bàn về tỉnh Ninh Bình, cố đô Hoa Lư, Đinh, Tiền Lê…

(phần II)


 

GS Tôn Thất Trình

02 tháng 07 năm 2009

Phần II:  phát triễn Ninh Bình :

Tổ chức ngành du lịch chưa xứng đáng với danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử 

         “Hạ Long cạn” núi đá vôi và hang động cácxtơ nhiệt đới
  Tuy vùng đồi núi Ninh Bình chiếm khoảng 20% diện tich tự nhiên toàn tỉnh, nhưng địa mạo theo dạng địa hình cacxtơ - relief karstique  đặc trưng , độc đáo của Ninh Bình  có ý nghĩa to lớn về  kinh tế , du lịch . Độc đáo nhất là khu vực cố đô Hoa Lư và Tam Cốc - Bích Động .  Nhiều người cho rằng  kiểu cácxtơ Ninh Bình là  cácxtơ vịnh Hạ Long hay “Hạ Long trên cạn “, trưóc đây là một vịnh biển nông, như Hạ Long ngày nay. Hạ Long trên cạn gồm hàng trăm hòn đảo xinh xắn với đầy đủ hình dạng đặc sắc, rải rác trong một vùng đồng chiêm trũng. Chân các núi đá vôi  có nhiều hàm ếch và  hang động ngập nước , vết tích hoạt động mài mòn  của biển trước đây như khối núi đá vôi Thiên Tôn ( Ninh Mỹ )  và các núi đá vôi  ven đường 12 B  từ Cầu Đế đến  thị trấn Nho Quan. Địa hình cacxtơ Ninh Bình là  đặc trưng cácxtơ  nhiệr đới  gồm dạng vòm, dạng tháp ( Núi Tròn, Núi Ông Trạng - Trường Yên ), dạng đồi  ( Gia Sinh , Sơn Lai ), dạng xiêng( Hoa Lư , Tam Cốc - Bích Động ), dạng phểu, dạng cánh đồng cácxtơ ( xã Ninh Hòa, Ninh Nhất , Ninh Tiến - Hoa Lư ) …Đặc biệt trong hang động cácxtơ có nhiều bồi tụ vú đá - thạch nhủ tạo cảnh đẹp huyền ảo nổi tiếng như Bích Động, Thiên Động, động Hoa Lư, Hang Dơi ( Hoa Lư ), Địch Lộng, động Người Xưa, động Trăng Khuyết ở rừng Cúc Phương …

 

Danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử

     Cố đô Hoa Lư, một kiến trúc đặc biệt nước  nhà ( phỏng theo  kiến trúc sư Đoàn Đức Thành, Hà Nội 1989 )

Đáng kể ở Ninh Bình  là cố đô Hoa Lư. Hoa Lư  được Đinh Tiên Hòang chọn làm kinh đô nước Đại Cồ Việt, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách Hà Nội 100 km, là một di tích lịch sử lớn, có thành cổ, cung điện , đền ,chùa, lăng vua và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng  có sông ngòi, núi non, hang động. Thành Hoa Lư nằm trong thung lũng bằng phẳng, rộng chừng 300 ha, ba mặt có vách núi đá vôi  của dãy Tràng An bao bọc. Mặt Tây Bắc thưa núi hơn, có dòng sông Hoàng Long án ngữ . Những đoạn trống không có núi, được  chắn bằng trường thành nhân tạo  nối từ chân núi này đến chân núi kia.  Đoạn dài nhất 500m, đoạn ngắn nhất 65m, cao ngót 10m, rộng khoảng 15m. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những viên gạch xây thành  có khắc nổi hình phựợng vờn,  bướm hoa sen  và dòng chữ “ Đại Việt quốc quân thành chuyên “ và “Giang Tây  quân “ niên đại thế kỷ 10- 11. Hai vòng thành không lồng vào nhau mà ở cạnh nhau, liên hệ qua một ngách núi ở giữa là Quền Võng. Thành Ngoại ở phía Đông rộng chừng 150 ha , nơi xây dựng cung điện nhà vua, nay thuộc làng Yên Thành. Vua Đinh Tiên Hoàng đã dựng cột cờ ở cung điện Thành Ngoại. Thành Nội ở phía Tây, nơi hoàng gia sinh sống, nơi  dạy dỗ và bảo vệ trẻ em. Hinh như cung điện nhà vua hinh chữ Vương , như Dinh Độc Lập nay là Dinh Thống Nhất ở Sài Gòn vậy ( theo kiến trúc sư Ngô Viêt Thụ ?, người họa kiểu dinh, thay cho dinh Toàn quyền, dinh Norodom cũ ?).

Theo thư tịch cỗ thì sau 41 năm dưới triều nhà Đinh và nhà Tiền Lê ở kinh đô Hoa Lư  có nhiều cung điện lầu gác, đình tạ. Chính vua Lê Đại Hành mới xây dựng nhiều cung điện và làm cho Hoa Lư  đẹp đẽ thêm, lộng lẫy thêm. Đẹp nhất là cung điện Bách Bảo Thiên Tuế, dát vàng, dát bạc nguy nga lộng lầy. Tiếc rằng thời gian đã hủy hoại tất cả. Nhưng sau hơn 1 ngàn năm,  có lẽ chúng ta nên tim cách tái tạo những đặc sắc kiến trúc , xây dựng  Thành Nội, Thành Ngoại, Thành Nam cố đô Hoa Lư, như đã làm ở Huế, Hà Nội ?

  Sau khi lên ngôi,  Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô, năm 1010, về Thăng Long ( Hà Nội ngày nay ). Dân chúng đã dựng lên ở Hoa Lư, trên nền cũ cung điện, hai ngôi đền thờ  vua Đinh và vua Lê.  Đền vua Đinh ở làng  Yên Trung, còn gọi là đền Thượng cách đền Hạ,  đền vua Lê ở làng Yên Hạ, 500m.  Cả hai đền đều bố cục theo kiểu “ Nội công , ngoại quốc “ , công trình bố trí qua đường  thần đạo.  Đền thờ có nhà bái đường,  thiên hương ( thờ các quan ) và chánh cung ( nơi có tượng vua Đinh Tiên Hoàng ). Bên trái tượng này  là  con cả vua Đinh Liễn,  bên mặt là  các tượng Đinh Hạng Vương và Đinh Toàn. Mỗi bên bàn thờ đều  có hình  rồng bằng đá, tương tự  các hình rồng long sàng .  Ngoài ra còn có nhà Khải Thánh ( thờ cha mẹ vua Đinh ), vọng lâu Ngọ Môn ( sau cổng vào này, có hình con Nghê đứng canh hai bên một long sàng, giường vua  ngũ bằng đá ) , trụ cổng, sân rồng, hồ sen,  vườn cảnh, bể cạn, núi giả … Đền vua Lê cũng tương tự, nhưng quy mô nhỏ hơn, có bái đường, Thiên Hương và bàn thờ vua Lê.  Ở giữa là tượng Lê Đại Hành, bên trái là hoàng hậu Dương Vân Ngà, bên mặt là  Lê Ngọa Triều. Từ đền vua Đinh, lần theo bậc đá lên đỉnh núi Yên Ngựa ở gần đó, là lăng vua Đinh, khiêm nhường, giản dị. Dưới  chân núi Yên Ngựa về phía Nam có lăng vua Lê.

 Sông núi Hoa Lư là một danh lam thắng cảnh, gắn truyền thuyết vua Đinh, vua Lê. Trên đỉnh Yên Ngựa, nhìn sang bên kia sông Hoàng Long là thôn Kim Lư, nơi Đinh Bộ Lĩnh ra đời. Nơi đây có Thung Lá, Thung Lau đã từng chứng kiến “ ông vua mục đồng “ phất cờ lau tập trận, mổ trâu khao quân. Mõm đá Ghềnh Tháp bên con ngòi Sào Khê  đã in đậm hình ảnh Đinh Bộ Lĩnh đứng duyệt thủy quân thuở nào. Về hướng nào cũng  có thể chiêm ngưỡng  những hang động và cảnh đẹp. Làng Yên Hạ có am Tiêm Động ở lưng chừng núi, bên trong có thạch nhủ hình cây tiền, cây lúa óng ánh và hang rồng sâu thẳm.     

 

            Bích Động - Tam Cốc

            Năm 1773 , Nguyễn Nghiêm, cha của nhà đại thi hào Nguyễn Du, thăm viếng hang động thuộc dãy núi Ngũ Nhạc, đã đặt tên hang động này là Bích Động, động Ngọc bích Xanh biếc.Bích Động đã được nhiều nhà vua xem là hang động đẹp thứ hai, sau hang động Hương Tích, có thể trụt xuống hàng thứ ba  (? ) sau khi khám phá nhiều hang động  mới dài, rộng hơn ở vùng Phong Nha - Kẻ Bàng, Quảng Bình. Chùa Bích Động, tỉnh Ninh Bình, cũng được xem là chùa đẹp thứ hai ở Việt Nam, sau chùa Hương ở tỉnh Hà Tây. Chùa cách thị xã Ninh Bình 11 km, có thể đến bằng đò hay xe ô tô. Chùa này  chia ra làm ba mức : Chùa Hạ, Chùa Trung cà Chùa Thượng xen trong sườn núi.   Từ Chùa Thượng,  nhìn phong cảnh tuyệt vời, thơ mộng  trên phương diện kiến trúc và lịch sử núi đồi, sông suối  vùng Hoa Lư. Vị trí chùa Bích Động được hai nhà sư lựa chọn năm 1428 , mến cảnh sông núi vùng này . Sau đó vào thế kỷ thứ 18, vua Lê Cảnh Hưng  đã viết một bài thơ ca tụng  phong cảnh chùa Bich Động và gọi chùa này là thắng cảnh thứ hai, sau chùa Hương.

            Viếng Bích Động thì không thể bỏ qua động Tam Cốc, cách chùa  2 km  và cách bến Văn Lâm 3km.  Tam Cốc là ba hang động: Hang Cả, Hang Hai và Hang Ba, ở làng Ninh Hải , huyện Hoa Lư. Ngã vào duy nhất vào ba hang là đi đò sông, mất ba tiếng đồng hồ  từ Đình Các ở bến  Văn Lâm. Sau khi rời đường bộ,  hàng trăm đò nhỏ chờ đợi đón mời du khách  vào ba hang Tam Cốc. Đi đò thì du khách  sẽ bị  cảnh đẹp  thiên nhiền núi đá to lớn dọc theo sông và rải rác những cánh đồng lúa xanh tươi thơ mộng, quyến rũ. .. Sáng tinh sương phong cảnh  mù dày dặc  bao phủ, khiến du khách không phân biệt đó là Hạ giới hay Tiên cảnh. Nếu cũng là buổi sáng từ Văn Lâm, du khách sẽ đến Hang Cả;  nơi đây  một cầu vòng trên nước chào mừng khi mặt trời lên cao  trên Hang Múa,  đẫy du khách  ra khỏi thực tế , lạc vào mộng ảo Hư Vô.  Núi đá vôi đã bị nước biển mài mòn, tạo ra một loạt hang động  ở vùng này.  Khi nước biển rút đi, thì còn lại hang động. Nước mưa  giúp bào láng hang động và biến sông ngòi thành  sông ngầm. Hang Cả  dài 127 m dưới  núi lớn, trải dài hai bên sông Ngô Đồng. Khi chạm núi, sông xuyên qua hang động. Hang im lặng như tờ, chỉ còn nghe tiếng chèo khua. Đò ra khỏi hang, du khách sẽ ngac nhiên  thấy tuồng như một ngư phủ già râu bạc  ngồi đánh cá. Trên trời cao. mây lững thửng bay. Thiên nhiên hoàn tất  bằng vài nông phu thu lượm củi  và vài con dê trắng  gặm cỏ trên đồi. Sau đó sẽ đến gần Hang Hai, ,cũng đẹp như vùng Hang Cả . Nước  sông không chút gợn sóng nào, phản chiếu chi tiết hoa, cây, đá, dọc  bờ sông trên trời xanh ngắt, mây trắng lưng lờ bay qua. Hang Hai cũng đầy nước và mây bay. Cách  đó 100m là Hang Ba, lạnh nhất, vì thấp nhất. Điểm hút dẫn ở đây là  ánh sáng thiên nhiên  trong hang do nước phản chiếu. Những tảng đá lớn, bằng phẳng  ngay ở dòng sông  cũng thể làm bàn dựa cho ai muốn tắm sông. Truyền thuyết  gọi dòng sông là Suối Tiên, vì đã có lân bầy tiên xuống tắm. Thật hay ảo, tắm nơi vùng hoang dã, kềm theo tiếng động rừng sâu và hương thơm hoa đồng cỏ nội là một kỷ niệm khó quên.  Cả ba hang đều có thạch nhũ đa dạng, đa hình óng ánh như châu báu.

 

Tam Điệp , một khu di tích lịch sử

 Tam Điệp nay là một thị xã tỉnh Ninh Bình. Ngoài việc đóng vai trò chiến tuyến phòng thủ, Tam Điệp  còn là thắng cảnh di tích, đã đi vào lịch sử và thơ văn. Đây là  nơi dãy núi đá vôi xen lẫn  các đồi đất chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam, ranh giới  hai tinh  Ninh Bình và Thanh Hóa.  Địa hình và cảnh trí thiên nhiên, đa dạng, hùng vĩ, khép kín, tạo ra vòng cung  khu rừng nguyên thủy Cúc Phương với những núi đá vôi  muôn hình muôn vẻ, vách dựng đứng , những đồi đất hiền lành  chen giữa những thung lũng bằng phẳng, những dòng suối uốn quanh. Trà Tu, Tam Giao là những hang động đẹp nổi tiếng của Tam Điệp.  Đại Nam Nhất thống Chí mô tả : “ mạch núi từ huyện Thạch Thành kéo đến liên tiếp  chạy ngang suốt cả bải biển “.  Phan huy Chú ( Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí ) nhìn địa thế Tam Điệp “ núi cao nhất, cỏ xanh tốt, đứng trên đỉnh núi thấy biển cả. Núi ở chung quanh, đường đi ở giữa,  trông về hai bên tả hửu, núi như chậu úp một,  chỗ gần hết núi thì hai bên như bức vách  đứng thẳng lên.. . “  Từ lâu Tam Điệp đã xuất  hiện  trong thơ văn Lê HửuTrác, Ngô Thì Sĩ, Đoàn Nguyễn Tuấn, Thiệu Trị, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến.  Ngô Thì Sĩ, khi qua Tam Điệp, đã tức cảnh bài thơ chữ Hán, so sánh  với thói nham hiểm của lòng người, tạm dịch:

              Núi non sừng sửng,  cây im hơi

               Đường đá cheo leo lên được thôi.

             Duy chốn gập ghềnh không thể biết

              Dầu hơn cõi thế với lòng người.

 Nguyễn Du cũng có bài thơ Tái Du Tam Điệp , tạm dịch :

            Chạm mây núi Ba Dội

            Bên trời, khách lại qua

            Mắt đưa, trùm bốn cõi

 Ngoài khơi chiếc thuyền xa.

Sương tan, đồi núi trọc,

Trời lạnh , cây cỏ già .

Bồn chồn khách ngoảnh lại,

Càng thêm nhớ quê nhà.

 

Công viên quốc gia , rừng nguyên thủy Cúc Phương ( phỏng theo Trần Tuyền , Hà Nội,  1989 )

 Diện tích  25 000 ha này tuy trực thuộc tỉnh Ninh Bình, nhưng nằm gối trên địa phận ba tỉnh là Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa. Cúc Phương, cách Hà Nội 140 km về phía Tây Nam, cách Biển Đông 60 km, là một khu bảo tồn thiên nhiên, không phải chỉ riêng cho Việt Nam mà cho cả thế giới  nữa. Rừng nguyên thủy  nhiệt đới trên đá vôi Cúc Phương, chủ yếu là rừng mưa  luôn luôn xanh ( vạn niên thanh ), rừng rụng lá chiếm tỉ lệ nhỏ,  được phát hiện năm 1960 và trở thành công viên quốc gia hai năm sau.  Rừng mưa nhiệt đới điển hình  có cấu trúc thực vật 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ. Công viên gồm  hơn 2000 loài - species thực vật ( cây cỏ ) trong số trên 16000 loài thực vật rừng kiểm kê,  định danh ở Việt Nam và 262 loài động vật,  chim chóc và bò sát, 20 bộ côn trùng mà bướm là bộ đặc sắc nhất.  Bướm địa phương hay bướm lạ bay về , nhiều đàn khổng lồ , sặc sở đủ màu bay lượn trong nắng; nhiều loài mang tên  thơ mộng như bướm Nàng Tiên , bướm  Phượng Hoàng , hoa văn cánh làm say mê nhà sưu tập. Tưởng cũng nên nhắc lại bộ sưu tập bướm Đông Pháp, thời bộ nông nghiệp  còn dưới tên là Tổng Thanh tra Canh Nông, đã vang danh thế giới một thời.  

   Bộ sưu tập thực vật  vừa có những  tên gọi quen thuộc nước ta như kim giao , chò, gie, dẽ, mun, cẩm hương, sấu, táu, gụ, đinh …  nhiều loài  cổ thụ lạ, hiếm,  gỗ qúy như  nghiến Burretiodendron hsienmu,  hoàng đàn Cupressus torulosa… ;  vừa qui tụ một luồng thực vật di thực  từ vùng nhiệt đới khô Ấn độ - Miến Điện đến sinh cơ lập nghiệp ở đây, như những cây thuộc họ Bàng Combretaceae : chò  xanh, chò nhai; họ Gạo  Bombacaceae , rụng lá mùa khô.  Leo lên sườn núi, luồn lõi qua những ngách đá lô nhô ta bắt gặp cây chò cao hơn 50 m,  sừng sững ngút trời xanh, gốc rộng  16 người ôm mới xuể. Chò chỉ tên khoa học là Parashorea chinensis  ( chò chỉ Trung Quốc ), còn cao hơn nữa,  đến 70m, thân lớn  dựng đứng đến 60 m ( thân đứng này có lẽ cao hơn cả cây sao đen Hopea odorata,  thân thuộc các rừng quanh Sài Gòn  hay trang điểm vài đường phố Sài Gòn  trước đây và có khi còn gặp ở rừng Hà Giang, Tuyên Quang hay  Lâm Đồng ), xòe tàn lá một vùng, cũng đến tuổi 1000 năm, thuộc họ cây dầu Dipterocarpaceae , đặc điểm rừng mưa ẩm nhiệt đới Mã lai - Inđônêxia.  Cây kim giao, bên đường mòn  thân gốc xù xì  cỗ kính. Kim giao tên khoa học là  Podocarpus neriifolius, còn gọi là thông tre, kim giao trước ( Trúc )  đào - faux pemou, đôi khi có thể gặp ở rừng Yên Bái, Vinh Phú, Đà Lạt - Bảo Lộc. Đủa gỗ kim giao cũng như đủa gỗ mun, theo truyền thuyết có thể phát hiện thức ăn nhiễm độc ( ? ) . Còn cây gù hương Hopea  mollissima còn gọi là  sao mềm, sao mặt quỷ, gù táu,  hoa đo đỏ  bao phủ  một vùng thơm ngát  hương đưa.  Cây sấu ( tía )  hay long cóc  Dracuntomelon duperreanum , thân bạnh ra , xù xì như thành quách rêu phong, vòng gốc 60m, ngang tuổi cây chò.  Có lẽ không nên quên trên 50 loài phong lan  quý hiếm, màu sắc  kỳ lạ,  treo  trên cành cao như  những chùm đèn sáng một góc rừng.  Có loài phong lan Cúc Phương hoa nở bốn mùa.             

Cúc Phương  có 255 loại động vật có xương sống, trong số này chim chiếm 140 loài, thú 64 loài, bò sát 36 loài, lưỡng thể 17 loài  và một số loài cá.  Động vật quý hiếm gồm có  cá niếc hang, hươu sao, cheo cheo, khỉ vàng,  vẹt “ quần đùi “, chồn,  trăng gấm, báo gấm, gấu ngựa, sơn dương, tắc kè, khỉ, phượng hoàng đất, gà lôi, chim trĩ, công, cu li, heo rừng, hồ cáo .., và đặc biệt hai loài rất hiếm trên thế giới là  sóc bay bộ cánh là làn da mỏng căng ở bốn chân và thằn lằn bay màu xanh mướt cánh như sóc bay, khiến  du khách tưởng lầm là chiếc lá liệng từ những rừng cây rậm rạp la đà  giữa từng không. Trăn gấm, báo gấm  là những thú dữ còn rất ít  ở vùng Đông Nam Á.

Cúc Phương còn mang trong lòng  cả suối nước nóng. Nước Suối Thường Xung nóng trên 37 độ C. Cúc Phương còn  giữ nguyên những di chỉ hoang sơ đất nước, hang động  kỳ thú  nhủ thạch  huyền ảo, thần thoại: động Trăng Khuyết, động Vui Xuân, động Chua, động Thành Minh, động Con Moong…  Đường vào động Người Xưa ( hang Đăn )  vòng vèo , cheo leo .  Leo cao 223 bậc thang, đến nơi gặp gió hun hút, tạo dựng không gian sinh sống  của người thời cỗ đồ đá. Du khách còn có thể nghe kể sự tích Quèn Voi , nơi vua Quang Trung cùng binh sĩ và đàn voi  nghỉ chân.  Vết chân voi còn như in dấu một thời chinh chiến trên thảm cỏ, trên bờ khe.    

 

Thắng cảnh Cánh Diều  hay Ngọc Mỹ Nhân - Phát Diệm

Là một dãy núi huyền thoại phía Tây tỉnh lỵ Ninh Bình, cách Hà Nội 90 km về phía Nam . Truyền thuyết là hiện thân của danh tướng phù thủy Cao Biền, nhà Đường. Người ta thường thấy ông  bay như một cánh diều, do thám và phá hoại  phong cảnh đẹp đẻ nước ta. Ông bị  một ẩn si Lảo giáo tài năng bắn hạ và các cánh  rơi rụng trong dãy núi, nên dãy núi này mới có tên là Cánh Diều.  Thât ra dãy núi gồm ba đỉnh, đỉnh cao nhất nằm giữa  hai bên dãn ra hai đỉnh khác như cánh diều hâu.  Nhà bác học Lê Qúy Đôn ( 1726- 1784 ), quê ở Thái Bình kế cận,  đã  khắc một bài thơ ở vách phía Đông, ghi những đặc điểm phong cảnh dãy Cánh Diều. Năm 1821, vua Minh Mang  thăm viếng Bắc Hà đã  dừng nơi đây và cũng đã ghi khắc ở vách chênh lênh phía Bắc,  xem phong cảnh núi như thể một bức tranh, vua cúi đầu  nhìn xuống rủ “ bụi đời, phong sương “. Về lại Huế, Vua Minh Mạng đã nghĩ đến lao lực phong sương nông nghiệp vùng Ninh Bình -Thái Bình,  nghĩ ra kế hoạch Dinh điền và giao phó công tác thực hiện cho Nguyễn Công Trứ. Cũng có  truyền thuyết  cho rằng Nguyễn Công Trứ  đã lựa chọn một khu đông dân cư  đặt tên là Phát Diệm, nơi phát ra Người Đẹp; vì “ khám phá “ ra một mỹ nhân trẻ tuổi, ngực trần, nằm trải  lưng dài  suốt dãy núi, mắt ngước nhìn trời cao vô tận, như đóng dây chuyền cả thân hình vào dãy núi. Vì vậy núi Cánh Diều còn có tên là Ngọc Mỹ Nhân, mặt đẹp mỹ nhân hướng về Biển Đông, ở vùng Dinh điền Kim Sơn, nơi phát ra diện mạo đẹp đẽ  Ngọc Mỹ Nhân ( Phát Diệm )

 

 Hai xây dựng thờ phụng  tôn giáo nguy nga tỉnh Ninh Bình.            

Chùa Bải Dinh (? ) đang xây cất có là chùa lớn nhất Việt Nam không ?

Ngoài các chùa Bích Động, Nhất Tự ở cố đô Hoa Lư…   cũng nên viếng Chùa Cần Linh, chùa Bành Long , và  nhất là chùa Bái Dinh tại làng Gia Sinh, huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Chùa đang xây cất,  hy vọng sẽ hoàn tất vào năm 2010, kỷ niệm  một ngàn năm ngày dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, Hà Nội. Tuy chỉ mới làm phân nữa chùa vào giữa tháng 9 năm 2009, mà đã có  rất nhiều khách thập phương thăm viếng mỗi ngày, dưới dàn giáo 500 thợ nề làm việc ngày đêm. Một điện thờ trong chùa chứa một tượng Phật bằng đồng  nặng 100 tấn, có lẽ là tượng phật đồng lớn nhất  Đông Nam Á. Còn các đền khác  chứa ba  tượng Phật cũng bằng đồng, nhưng chỉ nặng 50 tấn. Cả 4 tượng  đều do những nghệ sĩ danh tiếng tỉnh Nam Định đúc, từ đồng nước  Nga chế tạo.  Chùa cũng  còn có  thêm hai chuông đồng thau, nặng  27 và 36 tấn  cũng do nghệ sĩ tài ba ở Huế đúc  ra. Chuông 27 tấn đã được chuyễn đến  hai năm trước và đã đặt trên đỉnh núi. Chuông 36 tấn, cao 5.4 m,  là chuông lớn nhất Đông Nam Á ( ? ). Ở một  cảnh đồi khác, chùa đặt  200 tượng phật la hán - arhats, mỗi tựợng cao 2m. 300 tượng la hán khác sẽ được chuyễn đến cuối năm nay. Khi hoàn tất, chùa núi  Bải Dinh sẽ là chùa chứa nhiều tượng la hán nhất vùng. Một đặc điểm khác của chùa là có thêm hai  đền thờ khổng lồ, cạnh núi  cao 200 m. Hinh như ngày mồng 6 tháng 6  năm 2009, Phật Ngọc Buddha Saririkaidhatu, từ chùa Giác Quan - Sài Gòn, sau khi đến chùa  Quán sứ Hà Nội, đã đến  chùa Bải Dinh  để cho hơn 10 000 tín đồ  sùng  bái, chiêm ngưỡng và 1000 nhà sư ngày đêm tụng niệm.  

 

Nhà thờ Phát Diệm đã hoàn toàn trùng tu

       Nhà thờ Phát Diệm cách Hà Nội  130 km về phía Nam  và cách  tỉnh lỵ Ninh Bình 28 km về phía Đông Nam. Xây dựng từ năm 1875 đến năm 1899, là một mạng lưới ao, hồ, nhà thờ và các động nhân tạo.  Nhà thờ Phượng Đình, một thành phần cơ sở Phát Diệm khổng lồ hoàn toàn  bằng đá.  Rất nhiều chạm trỗ trên đá tường trong và tường ngoài. Tháp chuông chứa một chuông to lớn, đúc vào thập niên 1890, nặng gần 2 tấn. Năm 1891,  nhà thờ  Phát Diệm có 4 mái  và sáu hàng cột gỗ lim cứng như sắt thép.  Hai bên nhà thờ  lớn là  bốn nhà thờ nhỏ, diện mạo khác nhau.  Ở cuối gốc Bắc  là ba hang động bằng đá.  Hang động đẹp nhất là  hang động Đức Mẹ Lộ Đức. Nhà thờ Phát Diệm là Trung Tâm Thiên Chúa Giáo  Cơ Đốc Bắc Việt. Nhà thờ không mấy thay đổi,  kể từ khi nhà văn Graham Greene  mô tả ; … những cột làm bằng chỉ một cây  lim và  công trình sơn mài đỏ  ở các bàn thờ  trông có vẽ là Phật Giáo hơn là Thiên Chúa Giáo,  trong cuốn truyện cổ điển xuất bản năm 1955  “ Người Mỹ Thầm Lặng - The Quiet American “. Thật tế, với mái  nhà  uốn cong, đa tầng và 48 cột gỗ lim ( cột lớn nhất nặng 7 tấn ), Phát Diệm  khác hẳn các nhà thờ lớn Âu Châu . Vài thiên thần đá khắc nổi, vươn  lên trên các con rồng  điêu khắc và chuông hai tấn của nhà thờ lại kèm theo một  cồng ( chiêng ) đồng thau  khổng lồ. Ở khu bao quanh nhà thờ đá và gỗ lim,  trên những cánh đồng lúa,  rải rác nhiều nhà thờ đá nhỏ hơn.  Dị biệt với nhà thờ nhỏ do  các người Âu  xây cất, nhà thờ lớn Phát Diệm do Cha Sáu, người Việt họa kiểu từ năm  1875 đến năm 1899, như đã nói trên . Cha Sáu đã hô hào dân địa phương góp công xây cất nhà thờ lớn, năm nơi thờ phụng cạnh bên , ba động nhân tạo, một hồ nhân tạo và một tháp chuông. Năm hoàn tất  khu nhà thờ cũng là năm cha Sáu qua đời.  Dân chúng Thiên Chúa Cơ Đốc địa phương coi việc sống sót nhà thờ Phát Diệm là một phép lạ.  Một trận ném bom năm 1972  đã làm sập hai nơi thờ phụng cạnh  và làm  chánh tòa nghiêng 20 độ.  Tuy nhiên công cuộc trùng tu đã khởi sự ngay khi còn chiến tranh và nay dấu vết bom thả chỉ  còn ở vài  chạm trỗ điêu luyện trên đá thôi  .   

Dù có nhiều loại hình thái cho du lịch, ngành dịch vụ này ở Ninh Bình còn kém xa  nhiều tỉnh khác.  Hành hương tôn giáo  chùa  Nhất Tự, chùa Bích Động thua hẳn chùa Hương, các chùa Hà Nội, các chùa Huế như Từ Đàm, Thiên Mụ, Vĩnh Nghiêm Sài Gòn. Phát Diệm dù có hang Đức Mẹ Lộ Đức , quần thể kiến trúc Cơ Đốc giáo Pháp ( Âu ) Việt giao liên,  còn thua nhà thờ  lớn Đức Bà  Sài Gòn, nhà thờ đức Mẹ La Vang Hải Lăng. Viếng thăm  nghiên cứu công viên Cúc Phương  không mấy hơn công viên Cát Tiên, Bạch Mã, Bản Đôn và cố đô Hoa Lư thua xa cố đô Huế  trên phương diện trùng tu cung điện, đền đài, lăng tẩm, nhạc múa ( vũ )  cung đình. Hạ Long cạn- Ninh Bình thua xa Hạ Long  biển- Quảng Ninh . Tổng số du khách năm 1999 là  406 000 hành khách, trong đó  chỉ có 96 400 khách ngoại quốc. Tuy có mức gia tăng đáng kể những năm kế tiếp, nhưng vẫn  kém cỏi, so với  con số  du khách đến Quảng Ninh là 2 600 000 người năm 2005 và 3 600 000 người năm 2007.  Khó lòng  chấp nhận một công nghệ  dịch vụ dễ làm, có sức thu hút nhân  lực cao, ở một tinh nhỏ dân quá đông đúc,  mà năm 1999 chỉ tạo ra  346 lao động  ở 6 cơ sở quốc doanh lớn của tỉnh, khách sạn Hoa Lư 2 sao, khách sạn Ninh Bình và  Nhà Khách Ủy Ban Nhân dân tỉnh… Hình như năm 2008, Ninh Bình đã nâng cấp hệ thống khách sạn tỉnh, nay đã đếm được 300 khách sạn ( năm 1999 chỉ có 25 khách sạn ), 3  (Bích Động , Hoa Lư , Tam Cốc ? ) đạt tiêu chuẩn 3- 5 sao.

Sở dĩ như vậy là vì Ninh Bình chưa tận dụng khai thác đủ  các ưu  điểm du lịch tỉnh nhà (  cảnh quan thiên nhiên, môi trường tự nhiên ); du lich khảo sát, mạo hiểm thể thao  ( leo núi đá vôi vách đá cheo leo,  xuống sâu  các hang động thăm thẳm mới, cũ, khảo sát các động vật , thực vật hiếm Cúc Phương…) ;  du lịch  truyền thống dân tộc (  cố đô Hoa Lư , hành hương phật giáo, thiên chúa giao cơ đốc , Bich Động - Tam Cốc , Tam Điệp , khu Voi Quèn Cúc Phương …) , những quần cư nông thôn đắc sắc:  “ làng đồi “   đẹp  trên sườn núi  hay thung lũng, rải theo các tuyến giao thông đường bộ  ở Yên Mô, Gia Viễn, Nho Quan, “các làng ven biển”  xây cất chắc chắn chống bảo tố, song song với bờ biển nhìn xuống các kênh ngang, các làng “ dệt chiếu cói “ , mái ngói hiên nhà rộng, có vẽ khang trang, trù phú,  làng “nấu rượu nếp  ( nay đã sạch,  không còn chất độc ô nhiễm, nhờ trang bị dung cụ chưng cất Nhật )  vùng  đất Kim Sơn…  ;  lịch sữ văn hóa, nghệ thuật cá tính Ninh Bình ( không rỏ lễ hội Thái Vù - Ninh Hải, Hoa Lư mỗi trăng khuyết  hạ tuần  tháng ba âm lịch, lễ hội Trường Yên, lễ hội Yên Cư, lễ hội Non Khê…  có những gì sáng tạo văn hóa, văn nghệ địa phương ?);  chưa có du lịch nghỉ ngơi, chửa bịnh ( dù có nhiều suối nước nóng , nước khoáng bổ dưỡng như suối nước nóng Kênh  Gà, huyện Gia Viễn, nhiệt độ 53 độ C, phun mạnh, đều, lưu lượng 5m3 /giờ, suối nước khoáng Kỳ Phú,  huyện Nho Quan  20 loại hóa chất hòa tan, có khả năng chửa bệnh … ) hay giải trí  ( chẳng hạn tại sao rặng núi Ngọc Mỹ  Nhân- Cánh Diều lại không tổ chức thi đua quốc tế, trong nước thả diều như Vũng Tàu, cho du khách  nhảy -  lượn dù giải trí như ở nhiều thị trấn du lịch Thái Lan,  múa hát giữa thành phố hay ở  trình diễn  kịch định kỳ ở các cung điện xưa điệu tân, cổ nhạc như ở thành phố Avignon, miền nam nước Pháp và thiết lập những công viên đóng xi nê, kịch ti vi…. kiểu tiểu Hồ Ly Vọng Nam Ca Li, Cinecitta, Ý; công viên “  hí trường thể thao  tiêu khiễn kiểu quốc tế ngày nay tựa các Disneyland, Disney World, nhưng nhỏ, ít phí tổn hơn và cộng thêm  nhiều đặc sắc văn hóa Việt Nam .).  Tóm lại, cần hình dung, quan niệm lại từ cơ cấu, tổ chức, đầu tư tân trang cận đại hệ thống đón mời, kể luôn cả mau lẹ hoàn tất tân trang  giao thông đưòng sông ( 284 km, lượng luân  chuyễn lớn hơn, tuy hàng hóa vận chuyễn  chỉ phân nữa đường bộ vào năm 1999 ), đưòng bộ (  hương lộ và huyện lộ, tỉnh lộ,  quốc lộ tổng cọng 2927 km, đường sắt ( Ninh Bình chỉ có 20km tuyến Bắc Nam từ cầu Non nước đến Dốc Xây - thị xã Tam Điệp  với các ga Ninh Bình , Cầu Yên, Ghềnh , Đồng Giao ).  Hầu mở rộng nối liền,  chung sức khai thác các  vùng  chánh   du lịch  cùng các tỉnh lận cận hay xa xôi sang tận các nước bạn Lào, Miên, Miến  Điên, Thái Lan... ( quốc lộ 1A,  quốc lộ. 10,  các tỉnh lộ  12A, 12B, 12C , 59…) .  Việc khánh thành các  trạm khang trang bên đường - road side stations  năm 2008 (hình như với viện trợ Nhật JICA ? ) là một hướng mới đáng tiếp diễn ở những khía canh tăng cường, cập nhật khác tăng cường cho ngành dịch vu tạo nhiều công ăn việc làm này.

 

  Quan niệm lại đê điều khai khẩn đất lấn biển và hệ thống “ chuyễn đổi “ nông nghiệp ?

Theo lệnh vua Minh Mạng , Nguyễn Công Trứ đốc xuất dân chúng hoàn tất  cuối năm 1829 , cách đây  180 năm, 14 620 mẩu ta ( một mẩu  3600 mét vuông ) lấn biển và lập ra huyện Kim Sơn ( hay là huyện Núi Vàng )..Một kỳ công  tăng quỷ đất nông nghiệp  cho tỉnh Ninh Bình,  thiếu đất trồng trọt nặng nề. Quá trình 3 bước 1ấn biển:  bước 1 dựa vào các cồn cát ven biển đắp đê, đào kênh “ chắn mặn “; bước 2 đào kênh tưói rữa măn kết hợp với trồng cói trong đồng và trồng rừng chống sóng triều ngoài đê; bước 3  đất ngọt đến đâu trồng lúa đến đó.  Tiến trình xây dựng này kéo dài trên dưới 10 năm. Điển hình là nông trường Bình Minh, bắt đầu lấn biển năm 1958, 40 năm sau  tạo thêm Bình Minh 2 và các xã mới. Tuy nhiên kỷ thuật áp dụng đã xưa cũ gần 200 năm rồi . Nay đã có kỷ thuật mới tinh xảo lấn biển, chống bảo lụt, ô nhiễm, lập cảng sông cảng biển, đô thị trấn hóa các làng huyện,  hồ nước nhân tạo, cải thiện đất bùn phèn chuyễn đổi loại cây trồng như ở các châu thổ Hạ Hà Lan ( như công trình Delta Works đã hoàn tất năm 1997,  hy sinh nhiều khía cạnh môi sinh hơn ) và châu thổ sông Mississipi (của quân đoàn kỷ sư công binh Corps of Engineers Hoa Kỳ, ít hy sinh môi trưòng hơn) (  theo tiến sĩ Trần Đăng Hồng ở tạp san Nông Nghiệp Hải Ngoại Việt Nam, Ca Li , 2007- 2008 ). Nay chúng ta đã có  đủ xi măng, sẽ đủ sắt thép và nhiều vật liệu xây dựng khác,  nhiều chuyên viên, nhân công thủy lợi, công chánh  cập nhật và khá tinh tường kỷ thuật mới thế giới (đã thực hiện đườngTrường Sơn công nghiệp, tổng công ty sông Đà làm nhiều nhà máy thủy điện lớn.. )  ngân sách có thể đủ tiền tài trợ, đầu tư kích cầu cải thiện  hạ tầng cơ sở, ít sợ lạm phát  vào một  giai đoạn kinh tế quốc tế, nước nhà suy thoái. Các hồ đập  thủy điện thượng nguồn sông Hồng ở Trung Quốc và chi lưu  chẳng hạn ở sông Đà như các đập Hòa Bình, Sơn La... cũng  đã thay đổi dòng chảy, đất bồi tụ, từ của sông Đáy đến cửa Thần Phù; hệ thống đê điều  quan niệm  từ thời nhà Lý, e không còn  bao nhiêu giá trị bảo vệ và giao thông, thêm đất lấn biển Ninh Bình… thế kỷ 21,  cũng như toàn thể châu thổ sông Hồng ?  
          Việc chuyễn dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp  tạo thế cân đối giữa trồng trọt, chăn nuôi ( tính luôn cả ngư nghiệp ) và dịch vụ nông nghiệp, tuy được quan niệm từ hơn  10 năm nay, vẫn chậm rì  so vói mức tiến triễn ở miền Nam và Tây Nguyên. Năng xuất lúa còn  chưa đến  6- 7 tấn/ mỗi vụ/ ha,  dù rằng nay đã có các giống lai cao năng tiềm năng 12- 13 tấn/mỗi vụ / ha; phân đạm hóa hoc urê - muối diêm lạnh cho lúa đã  sản xuất khá dồi dào trong nước, bón  ruộng thay  thả bèo hoa dâu - azolla loại bèo chứa vi khuẩn  có khả năng tổng hợp đạm, nhưng tổng hợp này  không đủ  sức  cung ứng đầy đủ đạm cho lúa cao năng, siêu năng ngày nay, mà lại  có cơ choáng mất đất, mất vụ. Ninh Bình cũng như miền Bắc có lạnh thích hợp cho các loài lúa Japonica cao năng, hột tròn hột dẻo  và sửa soạn thị trường xuất khẩu nay mai sang Nhật, Đại Hàn, Bắc Trung Quốc…  lại ít được khảo cứu.phổ  biến hơn cả  ở An Giang  không có lạnh, đồng bằng sông Cửu Long . Năng xuất ngô ( bắp  ) lai còn tệ hại hơn nữa trong khi trên thế giới tân tiến,  ngay cả ở một vài vùng Tây Phi Châu, các giống ngô - bắp lai  lại có năng xuất trung bình cao hơn cả lúa lai nữa.  Nhóm cây công nghiệp hàng năm ( đậu phụng - lạc chưa có phát triễn các giống mới nhóm Virginia hột to , bổ sung nhóm Spanish nước nhà, mía, cói  thật ra  là  lác chiếu- lác gon tên khoa học là Cyperus tegetiformis  Roxb. , tên Anh là chinese mat grass, tuy đã tuyễn chọn được giống cói bông trắng Nhật năng xuất gần gấp đôi, phẩm giá tốt hơn các giống Kim Sơn, Thanh Hóa , Trung Quốc , Đại Hàn du nhập, đay , mè- vừng chưa cái thiện như các giống mè  tân tuyễn Thái Lan,  đậu tương - đậu nành, thuốc lá ) cũng không mấy cải thiện năng xuất từ nhiều năm nay, dù trên thế giới  cũng đã có nhiều kỷ thuật mới cải thiện năng xuât., phẩm giá .

 Mở mang thêm quỷ đất nông nghiệp, ngoài việc khai khẩn đất lấn  biễn, nên tận dụng  đất đai thích hợp cho cây ăn quả ( ăn trái ) và cây công nghiệp lâu năm , đặc biệt xét lại  việc trồng  và chế biến chè- trà, khi mà  sản phẩm trà khô tỉnh nhà không có thị trường xuất khẩu. Cần tái xét  đất lâm nghiệp hiện chiếm đến  gần 20 %  diện tích đất tự nhiên.  Chương trình trồng lại rừng 5000 ha , tăng bao phủ rừng thêm, từ sác xuất  9 % đến 31 % , nên  dùng cây vừa ăn  trái vừa làm gỗ tốt , thay thế cây rừng chỉ công dụng  làm gỗ; dưới tàn cây trồng, phát triễn chăn  nuôi hay trồng cây lương thực hàng năm, chờ đợi thu hoạch cây lâu năm.  Con số 4000 ha cây ăn quả năm  2000- 2001 của tỉnh Ninh Bình có thể tăng lên gấp 3 gấp 4,  nếu  triễn khai đại trà hơn thể thức nông truờng, lâm trường,  nhiều loại cây ăn trái bán ôn đới, bán nhiệt đới,theo thế nông lâm mục đa năng , đa tầng. Vùng  Cúc Phương đã  nhận diện  nhiều loài hồ đào  như Mày Châu Carya tonkinensis , Mày Thanh Hóa  Carya anamocarya, Mày Trung Quốc Carya sinensis  hột ngon,  tương tự các giống  Carya pecan hay illinoensis Mỹ - pecan nut,  sao chưa thấy  khuếch trương ở  các sườn đồi, vườn tượt “làng đồi Ninh Bình  “ những giống pecan lai - hybrids gỗ tốt  ở các tiểu bang Hoa Kỳ?  Cũng không thấy  nói ở vùng đồi  ráo nước không úng thủy, đất vôi, trồng ngay cả dẽ bi- macadamia  nut hay Úc châu kiên quả,  mới đây đã thành công ở Ban Mê Thuột , Lâm Đồng, ngoài Lạng Sơn…; các giống hồ đào óc chó- walnut Ba Tư , Anh Quốc , Pháp .. các giống dẽ, sồi dẽ - chestnut ; các giống cây bơ -avovado  ( cần tránh nơi  đồng băng ven biển hay bảo tố vì cành bơ dễ gãy  ); các cây sung ngot- ficus carica  loại không cần ong đặc biệt thụ phấn, các cây kiwi dương đào (  ruột xanh , ruột vàng )  cần đôi chút lạnh; các  cây hạnh nhân loại ngọt Ca Li cần đôi chút khô hạn, nơi vùng Ninh Bình  gió Lào khô  thổi qua. Quanh đồi núi ngoài chùa Bích Động sao không thấy bóng dáng những vườn trái mơ ( mai ) -apricots cải thiện làm ô mai mơ hay ăn trái tươi, làm mứt… như rừng mơ nhiều loại quanh  chùa Hương.  

Trong 3 món khoái khẩu dân Ninh Bình là Rượu Kim Sơn, Thịt dê và  Cơm cháy , sao trong thế nông lâm mục vừa kể, không thấy đề cao nuôi dê giữa các hàng cây; có lẽ nên thêm các giống dê sửa nhiều thịt nhiều sửa trên thế giới hơn là giống dê Bách Thảo ? Hay nuôi “ bò mini “ Hoa Kỳ, nhất là nuôi trâu sửa Murrah, lấy sửa làm phó mát  buffalo mozzarella ngon, làm sửa tươi, sửa chua yogourt, cà rem, bánh ga tô phó mát - cheese cake, dân Á Đông ưa chuộng …  như ở  gần thủ đô Roma , thành phố Napoli tỉnh Campania nước Ý ( tuy cần xét lại cơ cấu tại sao chăn nuôi trâu sửa ở Mộc Châu không mấy phát đạt ). Có lẽ bên cạnh thịt dê khoái khẩu nên  nghỉ cách làm những món  thịt thỏ hầm- civet de lapin trộn môn, khoai, hô đào, dẻ,  nấm, đặc sản tỉnh nhà, vì nay ngành nuôi thỏ đã khởi xướng,  đặc biệt ở Nho Quan,  nhờ  mới tìm được thị trường xuất khâu  cả triệu con  sang Nhật (? )

        Lạ lùng thay,  Ninh Bình có nhiều hang động ẩm thấp , lạnh lẽo  lại không nghe nói tới nuôi trồng đại trà các loại nấm như nấm mỡ Agaricus sp., nấm rốn to bự  Portobello, nấm kim châm, nấm đinh enoki, nấm đông cô , nấm hương, nấm cỏ dày , nấm da báo, nấm ngân nhĩ  (mộc nhĩ trắng ), ngoài nấm rơm, nấm mộc nhĩ ( tai mèo ) , bào ngư … nhiều nấm dược liệu là các nấm linh  chi  Ganoderma sp.   Chuyễn đổi ngành rau đậu, hoa kiểng, ngoài việc phụ thêm các loài nhiệt đới nội địa ( như rau đay , rau sắng, rau muống, rau dền… ) phải  bổ sung  mạnh bằng các loài giống bán ôn đới mới mẽ nguồn gốc Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bổn và cả Bắc Ấn Độ nữa . Nếu cần thiết  trồng rau hoa trong  các vòm, nhà kiếng nhựa dẻo điều hòa không khí thích nghi, nuôi trồng theo kỷ thuật thủy sinh - hydroponics . Ơ các đất thấp không trồng cói nữa, hay đất trũng đầm lầy còn mặn, ngoài việc tăng cường nuôi tôm nuôi cá, các loại ngư sản khác, có lẽ cũng nên nghĩ đến các loài  rong - tảo - algae mới cao năng , không chỉ để làm thực phẩm nuôi  súc vật, nuôi cá, trích dâu diesel,  mà còn để ăn tươi, ăn  sấy khô  đã thông dụng ở Nhật , Hàn Quốc …  Nếu đưa được khí thải chứa CO2 , khí hâm nóng địa  cầu các nhà máy chạy than đá Ninh Bình qua các hồ, ao, ruộng nuôi tảo  thích nhiều thán khí này ( thay vi đưa các khí qua các mạch mỏ ngầm ) có cơ giải quyết khía cạnh ô nhiẻm các nhà máy chạy than đá dơ bẩn; dù rằng trồng thêm cây cổ thụ  bóng mát đường phố,  công viên thị trấn hay  gây tao rừng cũng đã góp phần làm sạch vụ ô nhiễm, hâm nóng địa cầu này rồi.

 

Chuyễn đổi cơ cấu loại công nghệ

Ngành công nghệ Ninh Bình cần thoát ly quản trị quốc doanh, cả địa phương lẫn trung ương, chuyễn đổi  mau đến các công nghệ  khai thác  tri thức mủi nhọn, công nghệ liên hệ quốc phòng và  tương lai hướng về biến chế dầu khí  vinh Bắc Bộ nữa .

 Năm 1996, công nghiệp Ninh Bình chỉ chiếm 8, 83 % lao động, đóng góp 23.63% tổng sản xuất  và 17.1 GDP ( so với năm 1994 ) của tỉnh, dừ trù tăng 14- 16 %  GDP  trong thời gian 2001- 2010 , 33- 34 % năm 2010 . Công nghiệp Ninh Bình thuộc loại nhỏ, so với cả nước ( ngoài nhà máy xi măng Tam Điệp công xuất 1, 4 triệu tấn thiết lập năm 1999 và nhà máy  nhiệtđiện chạy than đá tỉnh lỵ Ninh Bình ) hay với các tỉnh  thành phố của đồng bằng sông Hồng, tập hợp thành 3 nhóm : công nghiệp chế biến , công nghiệp điện nước và công nghiệp khai thác. Toàn bộ những ngành quan trọng đều do Trung Ương quản trị, như điện, hóa chất phân bón ( phân nung chảy )  sản xuất sản phẩm phi kim loại, khai thác đá.  Các ngành chế biến kim loại, sản xuất máy móc thiết bị , khai thác than qua lữa, xuất bản , in …   do quốc doanh địa phương quản lý, chiếm 19,8 % công nghiệp toàn tỉnh. Công nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm giữ  vai trò đáng kể  trong hoạt động tiểu thủ công nghiệp  ở cấp huyện, tuy mảng công nghiệp nhỏ nhưng  lại rất linh hoạt,tạo ra nhiều sản phẩm và thu hút nhiều lao động trẻ. Chẳng hạn ngành tiểu thủ công nghệ  ở Yên Khánh đã đẩy mạnh chế biến  cói, thêu ren , chế tác đá mỹ nghệ…  Phải khích lệ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh  khai thác các khoáng sản  như than nâu , than mỡ, than bùn ở Đồng Giao , Thạch Bích , Sơn Hà ( Nho Quan ), đá vôi  có cường độ chịu lữa  và tinh nguyên khối cao làm  đá ốp lát trang trí các xây dưng; đôlômít  phong hóa  làm gạch không nung  cưòng độ  chịu nén cao  ở Hoa Lư và Tam Điệp, bột màu xây dựng ở Văn Phú ( Nho Quan ) , khai thác các  nưóc nóng  hay nước khoáng tốt chữa bệnh hay làm nước đóng chai uống giải khát, các lò gạch ngói ở những nơi  có nguồn đất sét làm  gạch ngói tốt ở Sơn Hà, Xích Thổ ( Nho Quan ) Đồng Giao, Ghềnh (Tam Điệp), khai thác cát vàng, cát đen ở các bải bồi và lòng sông dùng cho xây dựng, cát trắng với hàm lượng ôxyt silic cao  thích hợp  sản xuất thủy tinh, gạch ngói silicat ….Cân thêm nhiều cố gắng đẩy mạnh đầu tư tư nhân, tư bản  ngoại quốc vào   hai khu công nghệ Tam Điệp ( 62 .2 ha ) ở thị xã Tam Điệp  và nhất là khu công nghệ  Ninh Phúc ở huyện Yên Khánh diện tích đến 350 ha.

Tương lai công nghiệp Ninh Bình phải duyệt xét các ngành sản xuất cơ khí ( từ lâu máy bơm đã  không xuất khẩu được ?), điện tử và hóa chất bổ sung bằng những công nghiệp  phục vụ quốc phòng diện địa đã có truyền thống  lịch sử ( và vì Ninh Binh không có nhiều bờ biển làm quốc phòng bảo vệ Biển Đông ), những  công nghiệp phục vu trang trí  thiết bị nhà cửa theo đà đô thị hóa và tiện nghi hóa gia cư khang trang, đúng vệ sinh, ít phá hại môi sinh hơn, cũng như tiết kiệm năng lượng, công nghệ dược phẩm  cả âu dược tân tiến ( sản xuất thuốc chủng, thuốc tương thích chung -generic ) lẫn Nam - Bắc Đông Y,  công nghiệp viễn thông, truyền thông, bưu điện máy computer , phần mềm phần cứng , robot , nanô … Giải quyết mau lẹ tranh chấp vấn đề khai thác 7 bồn trũng khí  dầu Vịnh Bắc Bô đã khám phá,  hay cố tìm  cho được giếng khí dầu gần lảnh thổ, lảnh hải Ninh Bình - Thái Bình hơn,  hầu hình dung một cụm công nghệ điện khí đạm  như đã làm ở Phú Mỹ - Bà Rịa , Cà Mau  hay chung sức nới rộng cụm phức tạp lọc dầu, chế biến  sản phẩm lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa kế cận ?       

 

          (   Irvine ,Ca Li ngày 16 tháng 6 năm 2009 )          


Đã đăng:

Thô thiễn lạm bàn về tỉnh Ninh Bình, cố đô Hoa Lư, Đinh, Tiền Lê…(phần I)

1. Tên của bạn::
   'trang'
2. E-Mail của bạn::
   'vtrang89hp@
3. Góp ý cho bài ? :
   'tho thien lam ban ve tinh nnh binh...'
4. Góp ý, Phê bình::
   'bai viet nay the hien su hieu biet sau sac ve ninh binh ca ve mat tu nhien, lan van hoa, kinh te xa hoi. toi dang can tai lieu de tim hieu them ve tinh ninh binh nen doi voi toi no rat can thiet va huu ich'

Trở về Trang Chính