|
Phần II: phát triễn Ninh Bình :
Tổ chức
ngành du lịch chưa xứng đáng với danh lam, thắng cảnh, di tích
lịch sử
“Hạ Long cạn” núi đá vôi và hang
động cácxtơ nhiệt đới
Tuy vùng đồi núi Ninh Bình chiếm khoảng 20% diện tich tự nhiên
toàn tỉnh, nhưng địa mạo theo dạng địa hình cacxtơ - relief
karstique đặc trưng , độc đáo của Ninh Bình có ý nghĩa to
lớn về kinh tế , du lịch . Độc đáo nhất là khu vực cố đô Hoa Lư
và Tam Cốc - Bích Động . Nhiều người cho rằng kiểu cácxtơ Ninh
Bình là cácxtơ vịnh Hạ Long hay “Hạ Long trên cạn “,
trưóc đây là một vịnh biển nông, như Hạ Long ngày nay. Hạ Long
trên cạn gồm hàng trăm hòn đảo xinh xắn với đầy đủ hình dạng đặc
sắc, rải rác trong một vùng đồng chiêm trũng. Chân các núi đá
vôi có nhiều hàm ếch và hang động ngập nước , vết tích hoạt
động mài mòn của biển trước đây như khối núi đá vôi Thiên Tôn (
Ninh Mỹ ) và các núi đá vôi ven đường 12 B từ Cầu Đế đến thị
trấn Nho Quan. Địa hình cacxtơ Ninh Bình là đặc trưng cácxtơ
nhiệr đới gồm dạng vòm, dạng tháp ( Núi Tròn, Núi Ông Trạng -
Trường Yên ), dạng đồi ( Gia Sinh , Sơn Lai ), dạng xiêng( Hoa
Lư , Tam Cốc - Bích Động ), dạng phểu, dạng cánh đồng cácxtơ (
xã Ninh Hòa, Ninh Nhất , Ninh Tiến - Hoa Lư ) …Đặc biệt trong
hang động cácxtơ có nhiều bồi tụ vú đá - thạch nhủ tạo cảnh đẹp
huyền ảo nổi tiếng như Bích Động, Thiên Động, động Hoa Lư, Hang
Dơi ( Hoa Lư ), Địch Lộng, động Người Xưa, động Trăng Khuyết ở
rừng Cúc Phương …
Danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử
Cố đô Hoa Lư, một kiến trúc đặc biệt
nước nhà ( phỏng theo kiến trúc sư Đoàn Đức Thành, Hà Nội 1989
)
Đáng kể
ở Ninh Bình là cố đô Hoa Lư. Hoa Lư được Đinh Tiên Hòang chọn
làm kinh đô nước Đại Cồ Việt, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư,
cách Hà Nội 100 km, là một di tích lịch sử lớn, có thành cổ,
cung điện , đền ,chùa, lăng vua và là một danh lam thắng cảnh
nổi tiếng có sông ngòi, núi non, hang động. Thành Hoa Lư nằm
trong thung lũng bằng phẳng, rộng chừng 300 ha, ba mặt có vách
núi đá vôi của dãy Tràng An bao bọc. Mặt Tây Bắc thưa núi hơn,
có dòng sông Hoàng Long án ngữ . Những đoạn trống không có núi,
được chắn bằng trường thành nhân tạo nối từ chân núi này đến
chân núi kia. Đoạn dài nhất 500m, đoạn ngắn nhất 65m, cao ngót
10m, rộng khoảng 15m. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những viên
gạch xây thành có khắc nổi hình phựợng vờn, bướm hoa sen và
dòng chữ “ Đại Việt quốc quân thành chuyên “ và “Giang
Tây quân “ niên đại thế kỷ 10- 11. Hai vòng thành không
lồng vào nhau mà ở cạnh nhau, liên hệ qua một ngách núi ở giữa
là Quền Võng. Thành Ngoại ở phía Đông rộng chừng 150 ha , nơi
xây dựng cung điện nhà vua, nay thuộc làng Yên Thành. Vua Đinh
Tiên Hoàng đã dựng cột cờ ở cung điện Thành Ngoại. Thành Nội ở
phía Tây, nơi hoàng gia sinh sống, nơi dạy dỗ và bảo vệ trẻ em.
Hinh như cung điện nhà vua hinh chữ Vương , như Dinh Độc Lập nay
là Dinh Thống Nhất ở Sài Gòn vậy ( theo kiến trúc sư Ngô Viêt
Thụ ?, người họa kiểu dinh, thay cho dinh Toàn quyền, dinh
Norodom cũ ?).
Theo
thư tịch cỗ thì sau 41 năm dưới triều nhà Đinh và nhà Tiền Lê ở
kinh đô Hoa Lư có nhiều cung điện lầu gác, đình tạ. Chính vua
Lê Đại Hành mới xây dựng nhiều cung điện và làm cho Hoa Lư đẹp
đẽ thêm, lộng lẫy thêm. Đẹp nhất là cung điện Bách Bảo Thiên
Tuế, dát vàng, dát bạc nguy nga lộng lầy. Tiếc rằng thời gian đã
hủy hoại tất cả. Nhưng sau hơn 1 ngàn năm, có lẽ chúng ta nên
tim cách tái tạo những đặc sắc kiến trúc , xây dựng Thành Nội,
Thành Ngoại, Thành Nam cố đô Hoa Lư, như đã làm ở Huế, Hà Nội ?
Sau
khi lên ngôi, Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô, năm 1010, về
Thăng Long ( Hà Nội ngày nay ). Dân chúng đã dựng lên ở Hoa Lư,
trên nền cũ cung điện, hai ngôi đền thờ vua Đinh và vua Lê.
Đền vua Đinh ở làng Yên Trung, còn gọi là đền Thượng cách đền
Hạ, đền vua Lê ở làng Yên Hạ, 500m. Cả hai đền đều bố cục theo
kiểu “ Nội công , ngoại quốc “ , công trình bố trí qua
đường thần đạo. Đền thờ có nhà bái đường, thiên hương ( thờ
các quan ) và chánh cung ( nơi có tượng vua Đinh Tiên Hoàng ).
Bên trái tượng này là con cả vua Đinh Liễn, bên mặt là các
tượng Đinh Hạng Vương và Đinh Toàn. Mỗi bên bàn thờ đều có
hình rồng bằng đá, tương tự các hình rồng long sàng . Ngoài
ra còn có nhà Khải Thánh ( thờ cha mẹ vua Đinh ), vọng lâu Ngọ
Môn ( sau cổng vào này, có hình con Nghê đứng canh hai bên một
long sàng, giường vua ngũ bằng đá ) , trụ cổng, sân rồng, hồ
sen, vườn cảnh, bể cạn, núi giả … Đền vua Lê cũng tương tự,
nhưng quy mô nhỏ hơn, có bái đường, Thiên Hương và bàn thờ vua
Lê. Ở giữa là tượng Lê Đại Hành, bên trái là hoàng hậu Dương
Vân Ngà, bên mặt là Lê Ngọa Triều. Từ đền vua Đinh, lần theo
bậc đá lên đỉnh núi Yên Ngựa ở gần đó, là lăng vua Đinh, khiêm
nhường, giản dị. Dưới chân núi Yên Ngựa về phía Nam có lăng vua
Lê.
Sông
núi Hoa Lư là một danh lam thắng cảnh, gắn truyền thuyết vua
Đinh, vua Lê. Trên đỉnh Yên Ngựa, nhìn sang bên kia sông Hoàng
Long là thôn Kim Lư, nơi Đinh Bộ Lĩnh ra đời. Nơi đây có Thung
Lá, Thung Lau đã từng chứng kiến “ ông vua mục đồng “
phất cờ lau tập trận, mổ trâu khao quân. Mõm đá Ghềnh Tháp bên
con ngòi Sào Khê đã in đậm hình ảnh Đinh Bộ Lĩnh đứng duyệt
thủy quân thuở nào. Về hướng nào cũng có thể chiêm ngưỡng
những hang động và cảnh đẹp. Làng Yên Hạ có am Tiêm Động ở lưng
chừng núi, bên trong có thạch nhủ hình cây tiền, cây lúa óng ánh
và hang rồng sâu thẳm.
Bích Động - Tam Cốc
Năm 1773 , Nguyễn Nghiêm, cha của nhà đại thi hào
Nguyễn Du, thăm viếng hang động thuộc dãy núi Ngũ Nhạc, đã đặt
tên hang động này là Bích Động, động Ngọc bích Xanh biếc.Bích
Động đã được nhiều nhà vua xem là hang động đẹp thứ hai, sau
hang động Hương Tích, có thể trụt xuống hàng thứ ba (? ) sau
khi khám phá nhiều hang động mới dài, rộng hơn ở vùng Phong Nha
- Kẻ Bàng, Quảng Bình. Chùa Bích Động, tỉnh Ninh Bình, cũng được
xem là chùa đẹp thứ hai ở Việt Nam, sau chùa Hương ở tỉnh Hà
Tây. Chùa cách thị xã Ninh Bình 11 km, có thể đến bằng đò hay xe
ô tô. Chùa này chia ra làm ba mức : Chùa Hạ, Chùa Trung cà Chùa
Thượng xen trong sườn núi. Từ Chùa Thượng, nhìn phong cảnh
tuyệt vời, thơ mộng trên phương diện kiến trúc và lịch sử núi
đồi, sông suối vùng Hoa Lư. Vị trí chùa Bích Động được hai nhà
sư lựa chọn năm 1428 , mến cảnh sông núi vùng này . Sau đó vào
thế kỷ thứ 18, vua Lê Cảnh Hưng đã viết một bài thơ ca tụng
phong cảnh chùa Bich Động và gọi chùa này là thắng cảnh thứ hai,
sau chùa Hương.
Viếng Bích Động thì không thể bỏ qua động Tam Cốc,
cách chùa 2 km và cách bến Văn Lâm 3km. Tam Cốc là ba hang
động: Hang Cả, Hang Hai và Hang Ba, ở làng Ninh Hải , huyện Hoa
Lư. Ngã vào duy nhất vào ba hang là đi đò sông, mất ba tiếng
đồng hồ từ Đình Các ở bến Văn Lâm. Sau khi rời đường bộ, hàng
trăm đò nhỏ chờ đợi đón mời du khách vào ba hang Tam Cốc. Đi đò
thì du khách sẽ bị cảnh đẹp thiên nhiền núi đá to lớn dọc
theo sông và rải rác những cánh đồng lúa xanh tươi thơ mộng,
quyến rũ. .. Sáng tinh sương phong cảnh mù dày dặc bao phủ,
khiến du khách không phân biệt đó là Hạ giới hay Tiên cảnh. Nếu
cũng là buổi sáng từ Văn Lâm, du khách sẽ đến Hang Cả; nơi đây
một cầu vòng trên nước chào mừng khi mặt trời lên cao trên Hang
Múa, đẫy du khách ra khỏi thực tế , lạc vào mộng ảo Hư Vô.
Núi đá vôi đã bị nước biển mài mòn, tạo ra một loạt hang động ở
vùng này. Khi nước biển rút đi, thì còn lại hang động. Nước
mưa giúp bào láng hang động và biến sông ngòi thành sông ngầm.
Hang Cả dài 127 m dưới núi lớn, trải dài hai bên sông Ngô
Đồng. Khi chạm núi, sông xuyên qua hang động. Hang im lặng như
tờ, chỉ còn nghe tiếng chèo khua. Đò ra khỏi hang, du khách sẽ
ngac nhiên thấy tuồng như một ngư phủ già râu bạc ngồi đánh
cá. Trên trời cao. mây lững thửng bay. Thiên nhiên hoàn tất
bằng vài nông phu thu lượm củi và vài con dê trắng gặm cỏ trên
đồi. Sau đó sẽ đến gần Hang Hai, ,cũng đẹp như vùng Hang Cả .
Nước sông không chút gợn sóng nào, phản chiếu chi tiết hoa,
cây, đá, dọc bờ sông trên trời xanh ngắt, mây trắng lưng lờ bay
qua. Hang Hai cũng đầy nước và mây bay. Cách đó 100m là Hang
Ba, lạnh nhất, vì thấp nhất. Điểm hút dẫn ở đây là ánh sáng
thiên nhiên trong hang do nước phản chiếu. Những tảng đá lớn,
bằng phẳng ngay ở dòng sông cũng thể làm bàn dựa cho ai muốn
tắm sông. Truyền thuyết gọi dòng sông là Suối Tiên, vì đã có
lân bầy tiên xuống tắm. Thật hay ảo, tắm nơi vùng hoang dã, kềm
theo tiếng động rừng sâu và hương thơm hoa đồng cỏ nội là một kỷ
niệm khó quên. Cả ba hang đều có thạch nhũ đa dạng, đa hình óng
ánh như châu báu.
Tam
Điệp , một khu di tích lịch sử
Tam
Điệp nay là một thị xã tỉnh Ninh Bình. Ngoài việc đóng vai trò
chiến tuyến phòng thủ, Tam Điệp còn là thắng cảnh di tích, đã
đi vào lịch sử và thơ văn. Đây là nơi dãy núi đá vôi xen lẫn
các đồi đất chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam, ranh giới hai
tinh Ninh Bình và Thanh Hóa. Địa hình và cảnh trí thiên nhiên,
đa dạng, hùng vĩ, khép kín, tạo ra vòng cung khu rừng nguyên
thủy Cúc Phương với những núi đá vôi muôn hình muôn vẻ, vách
dựng đứng , những đồi đất hiền lành chen giữa những thung lũng
bằng phẳng, những dòng suối uốn quanh. Trà Tu, Tam Giao là những
hang động đẹp nổi tiếng của Tam Điệp. Đại Nam Nhất thống Chí mô
tả : “ mạch núi từ huyện Thạch Thành kéo đến liên tiếp chạy
ngang suốt cả bải biển “. Phan huy Chú ( Lịch Triều Hiến
Chương Loại Chí ) nhìn địa thế Tam Điệp “ núi cao nhất, cỏ
xanh tốt, đứng trên đỉnh núi thấy biển cả. Núi ở chung quanh,
đường đi ở giữa, trông về hai bên tả hửu, núi như chậu úp một,
chỗ gần hết núi thì hai bên như bức vách đứng thẳng lên.. .
“ Từ lâu Tam Điệp đã xuất hiện trong thơ văn Lê HửuTrác, Ngô
Thì Sĩ, Đoàn Nguyễn Tuấn, Thiệu Trị, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du,
Nguyễn Khuyến. Ngô Thì Sĩ, khi qua Tam Điệp, đã tức cảnh bài
thơ chữ Hán, so sánh với thói nham hiểm của lòng người, tạm
dịch:
Núi non sừng sửng, cây im hơi
Đường đá cheo leo lên được thôi.
Duy chốn gập ghềnh không thể biết
Dầu hơn cõi thế với lòng người.
Nguyễn
Du cũng có bài thơ Tái Du Tam Điệp , tạm dịch :
Chạm mây núi Ba Dội
Bên trời, khách lại qua
Mắt đưa, trùm bốn cõi
Ngoài khơi chiếc thuyền xa.
Sương tan, đồi núi trọc,
Trời
lạnh , cây cỏ già .
Bồn
chồn khách ngoảnh lại,
Càng
thêm nhớ quê nhà.
Công
viên quốc gia , rừng nguyên thủy Cúc Phương ( phỏng theo Trần
Tuyền , Hà Nội, 1989 )
Diện
tích 25 000 ha này tuy trực thuộc tỉnh Ninh Bình, nhưng nằm gối
trên địa phận ba tỉnh là Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa. Cúc
Phương, cách Hà Nội 140 km về phía Tây Nam, cách Biển Đông 60
km, là một khu bảo tồn thiên nhiên, không phải chỉ riêng cho
Việt Nam mà cho cả thế giới nữa. Rừng nguyên thủy nhiệt
đới trên đá vôi Cúc Phương, chủ yếu là rừng mưa luôn luôn xanh
( vạn niên thanh ), rừng rụng lá chiếm tỉ lệ nhỏ, được phát
hiện năm 1960 và trở thành công viên quốc gia hai năm sau.
Rừng mưa nhiệt đới điển hình có cấu trúc thực vật 5 tầng, trong
đó có 3 tầng cây gỗ. Công viên gồm hơn 2000 loài - species
thực vật ( cây cỏ ) trong số trên 16000 loài thực vật rừng kiểm
kê, định danh ở Việt Nam và 262 loài động vật, chim chóc và bò
sát, 20 bộ côn trùng mà bướm là bộ đặc sắc nhất. Bướm địa
phương hay bướm lạ bay về , nhiều đàn khổng lồ , sặc sở đủ màu
bay lượn trong nắng; nhiều loài mang tên thơ mộng như bướm
Nàng Tiên , bướm Phượng Hoàng , hoa văn cánh làm say
mê nhà sưu tập. Tưởng cũng nên nhắc lại bộ sưu tập bướm Đông
Pháp, thời bộ nông nghiệp còn dưới tên là Tổng Thanh tra Canh
Nông, đã vang danh thế giới một thời.
Bộ
sưu tập thực vật vừa có những tên gọi quen thuộc nước ta như
kim giao , chò, gie, dẽ, mun, cẩm hương, sấu, táu, gụ, đinh …
nhiều loài cổ thụ lạ, hiếm, gỗ qúy như nghiến
Burretiodendron hsienmu, hoàng đàn Cupressus torulosa…
; vừa qui tụ một luồng thực vật di thực từ vùng nhiệt đới khô
Ấn độ - Miến Điện đến sinh cơ lập nghiệp ở đây, như những cây
thuộc họ Bàng Combretaceae : chò xanh, chò nhai; họ Gạo
Bombacaceae , rụng lá mùa khô. Leo lên sườn núi, luồn
lõi qua những ngách đá lô nhô ta bắt gặp cây chò cao hơn 50 m,
sừng sững ngút trời xanh, gốc rộng 16 người ôm mới xuể. Chò chỉ
tên khoa học là Parashorea chinensis ( chò chỉ Trung
Quốc ), còn cao hơn nữa, đến 70m, thân lớn dựng đứng đến 60 m
( thân đứng này có lẽ cao hơn cả cây sao đen Hopea odorata,
thân thuộc các rừng quanh Sài Gòn hay trang điểm vài đường phố
Sài Gòn trước đây và có khi còn gặp ở rừng Hà Giang, Tuyên
Quang hay Lâm Đồng ), xòe tàn lá một vùng, cũng đến tuổi 1000
năm, thuộc họ cây dầu Dipterocarpaceae , đặc điểm rừng
mưa ẩm nhiệt đới Mã lai - Inđônêxia. Cây kim giao, bên đường
mòn thân gốc xù xì cỗ kính. Kim giao tên khoa học là
Podocarpus neriifolius, còn gọi là thông tre, kim giao trước
( Trúc ) đào - faux pemou, đôi khi có thể gặp ở rừng Yên Bái,
Vinh Phú, Đà Lạt - Bảo Lộc. Đủa gỗ kim giao cũng như đủa gỗ mun,
theo truyền thuyết có thể phát hiện thức ăn nhiễm độc ( ? ) .
Còn cây gù hương Hopea mollissima còn gọi là sao mềm,
sao mặt quỷ, gù táu, hoa đo đỏ bao phủ một vùng thơm ngát
hương đưa. Cây sấu ( tía ) hay long cóc Dracuntomelon
duperreanum , thân bạnh ra , xù xì như thành quách rêu
phong, vòng gốc 60m, ngang tuổi cây chò. Có lẽ không nên quên
trên 50 loài phong lan quý hiếm, màu sắc kỳ lạ, treo trên
cành cao như những chùm đèn sáng một góc rừng. Có loài phong
lan Cúc Phương hoa nở bốn mùa.
Cúc
Phương có 255 loại động vật có xương sống, trong số này chim
chiếm 140 loài, thú 64 loài, bò sát 36 loài, lưỡng thể 17 loài
và một số loài cá. Động vật quý hiếm gồm có cá niếc hang, hươu
sao, cheo cheo, khỉ vàng, vẹt “ quần đùi “, chồn, trăng gấm,
báo gấm, gấu ngựa, sơn dương, tắc kè, khỉ, phượng hoàng đất, gà
lôi, chim trĩ, công, cu li, heo rừng, hồ cáo .., và đặc biệt hai
loài rất hiếm trên thế giới là sóc bay bộ cánh là làn da
mỏng căng ở bốn chân và thằn lằn bay màu xanh mướt cánh
như sóc bay, khiến du khách tưởng lầm là chiếc lá liệng từ
những rừng cây rậm rạp la đà giữa từng không. Trăn gấm, báo
gấm là những thú dữ còn rất ít ở vùng Đông Nam Á.
Cúc
Phương còn mang trong lòng cả suối nước nóng. Nước Suối Thường
Xung nóng trên 37 độ C. Cúc Phương còn giữ nguyên những di chỉ
hoang sơ đất nước, hang động kỳ thú nhủ thạch huyền ảo, thần
thoại: động Trăng Khuyết, động Vui Xuân, động Chua, động Thành
Minh, động Con Moong… Đường vào động Người Xưa ( hang Đăn )
vòng vèo , cheo leo . Leo cao 223 bậc thang, đến nơi gặp gió
hun hút, tạo dựng không gian sinh sống của người thời cỗ đồ đá.
Du khách còn có thể nghe kể sự tích Quèn Voi , nơi vua Quang
Trung cùng binh sĩ và đàn voi nghỉ chân. Vết chân voi còn như
in dấu một thời chinh chiến trên thảm cỏ, trên bờ khe.
Thắng cảnh Cánh Diều hay Ngọc Mỹ Nhân - Phát Diệm
Là một
dãy núi huyền thoại phía Tây tỉnh lỵ Ninh Bình, cách Hà Nội 90
km về phía Nam . Truyền thuyết là hiện thân của danh tướng phù
thủy Cao Biền, nhà Đường. Người ta thường thấy ông bay như một
cánh diều, do thám và phá hoại phong cảnh đẹp đẻ nước ta. Ông
bị một ẩn si Lảo giáo tài năng bắn hạ và các cánh rơi rụng
trong dãy núi, nên dãy núi này mới có tên là Cánh Diều.
Thât ra dãy núi gồm ba đỉnh, đỉnh cao nhất nằm giữa hai bên dãn
ra hai đỉnh khác như cánh diều hâu. Nhà bác học Lê Qúy Đôn (
1726- 1784 ), quê ở Thái Bình kế cận, đã khắc một bài thơ ở
vách phía Đông, ghi những đặc điểm phong cảnh dãy Cánh Diều. Năm
1821, vua Minh Mang thăm viếng Bắc Hà đã dừng nơi đây và cũng
đã ghi khắc ở vách chênh lênh phía Bắc, xem phong cảnh núi như
thể một bức tranh, vua cúi đầu nhìn xuống rủ “ bụi đời,
phong sương “. Về lại Huế, Vua Minh Mạng đã nghĩ đến lao lực
phong sương nông nghiệp vùng Ninh Bình -Thái Bình, nghĩ ra kế
hoạch Dinh điền và giao phó công tác thực hiện cho Nguyễn Công
Trứ. Cũng có truyền thuyết cho rằng Nguyễn Công Trứ đã lựa
chọn một khu đông dân cư đặt tên là Phát Diệm, nơi
phát ra Người Đẹp; vì “ khám phá “ ra một mỹ nhân trẻ tuổi,
ngực trần, nằm trải lưng dài suốt dãy núi, mắt ngước nhìn trời
cao vô tận, như đóng dây chuyền cả thân hình vào dãy núi. Vì vậy
núi Cánh Diều còn có tên là Ngọc Mỹ Nhân, mặt đẹp mỹ nhân
hướng về Biển Đông, ở vùng Dinh điền Kim Sơn, nơi phát ra diện
mạo đẹp đẽ Ngọc Mỹ Nhân ( Phát Diệm )
Hai
xây dựng thờ phụng tôn giáo nguy nga tỉnh Ninh Bình.
Chùa
Bải Dinh (? ) đang xây cất có là chùa lớn nhất Việt Nam không ?
Ngoài
các chùa Bích Động, Nhất Tự ở cố đô Hoa Lư… cũng nên viếng
Chùa Cần Linh, chùa Bành Long , và nhất là chùa Bái Dinh tại
làng Gia Sinh, huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Chùa đang xây
cất, hy vọng sẽ hoàn tất vào năm 2010, kỷ niệm một ngàn năm
ngày dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, Hà Nội. Tuy chỉ mới làm
phân nữa chùa vào giữa tháng 9 năm 2009, mà đã có rất nhiều
khách thập phương thăm viếng mỗi ngày, dưới dàn giáo 500 thợ nề
làm việc ngày đêm. Một điện thờ trong chùa chứa một tượng Phật
bằng đồng nặng 100 tấn, có lẽ là tượng phật đồng lớn nhất Đông
Nam Á. Còn các đền khác chứa ba tượng Phật cũng bằng đồng,
nhưng chỉ nặng 50 tấn. Cả 4 tượng đều do những nghệ sĩ danh
tiếng tỉnh Nam Định đúc, từ đồng nước Nga chế tạo. Chùa cũng
còn có thêm hai chuông đồng thau, nặng 27 và 36 tấn cũng do
nghệ sĩ tài ba ở Huế đúc ra. Chuông 27 tấn đã được chuyễn đến
hai năm trước và đã đặt trên đỉnh núi. Chuông 36 tấn, cao 5.4
m, là chuông lớn nhất Đông Nam Á ( ? ). Ở một cảnh đồi khác,
chùa đặt 200 tượng phật la hán - arhats, mỗi tựợng cao
2m. 300 tượng la hán khác sẽ được chuyễn đến cuối năm nay. Khi
hoàn tất, chùa núi Bải Dinh sẽ là chùa chứa nhiều tượng la hán
nhất vùng. Một đặc điểm khác của chùa là có thêm hai đền thờ
khổng lồ, cạnh núi cao 200 m. Hinh như ngày mồng 6 tháng 6 năm
2009, Phật Ngọc Buddha Saririkaidhatu, từ chùa Giác Quan - Sài
Gòn, sau khi đến chùa Quán sứ Hà Nội, đã đến chùa Bải Dinh để
cho hơn 10 000 tín đồ sùng bái, chiêm ngưỡng và 1000 nhà sư
ngày đêm tụng niệm.
Nhà
thờ Phát Diệm đã hoàn toàn trùng tu
Nhà thờ Phát Diệm cách Hà Nội 130 km về phía Nam và cách tỉnh
lỵ Ninh Bình 28 km về phía Đông Nam. Xây dựng từ năm 1875 đến
năm 1899, là một mạng lưới ao, hồ, nhà thờ và các động nhân
tạo. Nhà thờ Phượng Đình, một thành phần cơ sở Phát Diệm khổng
lồ hoàn toàn bằng đá. Rất nhiều chạm trỗ trên đá tường trong
và tường ngoài. Tháp chuông chứa một chuông to lớn, đúc vào thập
niên 1890, nặng gần 2 tấn. Năm 1891, nhà thờ Phát Diệm có 4
mái và sáu hàng cột gỗ lim cứng như sắt thép. Hai bên nhà thờ
lớn là bốn nhà thờ nhỏ, diện mạo khác nhau. Ở cuối gốc Bắc là
ba hang động bằng đá. Hang động đẹp nhất là hang động Đức Mẹ
Lộ Đức. Nhà thờ Phát Diệm là Trung Tâm Thiên Chúa Giáo Cơ Đốc
Bắc Việt. Nhà thờ không mấy thay đổi, kể từ khi nhà văn Graham
Greene mô tả ; … những cột làm bằng chỉ một cây lim và
công trình sơn mài đỏ ở các bàn thờ trông có vẽ là Phật Giáo
hơn là Thiên Chúa Giáo, trong cuốn truyện cổ điển xuất bản
năm 1955 “ Người Mỹ Thầm Lặng - The Quiet American “.
Thật tế, với mái nhà uốn cong, đa tầng và 48 cột gỗ lim ( cột
lớn nhất nặng 7 tấn ), Phát Diệm khác hẳn các nhà thờ lớn Âu
Châu . Vài thiên thần đá khắc nổi, vươn lên trên các con rồng
điêu khắc và chuông hai tấn của nhà thờ lại kèm theo một cồng (
chiêng ) đồng thau khổng lồ. Ở khu bao quanh nhà thờ đá và gỗ
lim, trên những cánh đồng lúa, rải rác nhiều nhà thờ đá nhỏ
hơn. Dị biệt với nhà thờ nhỏ do các người Âu xây cất, nhà thờ
lớn Phát Diệm do Cha Sáu, người Việt họa kiểu từ năm 1875 đến
năm 1899, như đã nói trên . Cha Sáu đã hô hào dân địa phương góp
công xây cất nhà thờ lớn, năm nơi thờ phụng cạnh bên , ba động
nhân tạo, một hồ nhân tạo và một tháp chuông. Năm hoàn tất khu
nhà thờ cũng là năm cha Sáu qua đời. Dân chúng Thiên Chúa Cơ
Đốc địa phương coi việc sống sót nhà thờ Phát Diệm là một phép
lạ. Một trận ném bom năm 1972 đã làm sập hai nơi thờ phụng
cạnh và làm chánh tòa nghiêng 20 độ. Tuy nhiên công cuộc
trùng tu đã khởi sự ngay khi còn chiến tranh và nay dấu vết bom
thả chỉ còn ở vài chạm trỗ điêu luyện trên đá thôi .
Dù có
nhiều loại hình thái cho du lịch, ngành dịch vụ này ở Ninh Bình
còn kém xa nhiều tỉnh khác. Hành hương tôn giáo chùa Nhất
Tự, chùa Bích Động thua hẳn chùa Hương, các chùa Hà Nội, các
chùa Huế như Từ Đàm, Thiên Mụ, Vĩnh Nghiêm Sài Gòn. Phát Diệm dù
có hang Đức Mẹ Lộ Đức , quần thể kiến trúc Cơ Đốc giáo Pháp ( Âu
) Việt giao liên, còn thua nhà thờ lớn Đức Bà Sài Gòn, nhà
thờ đức Mẹ La Vang Hải Lăng. Viếng thăm nghiên cứu công viên
Cúc Phương không mấy hơn công viên Cát Tiên, Bạch Mã, Bản Đôn
và cố đô Hoa Lư thua xa cố đô Huế trên phương diện trùng tu
cung điện, đền đài, lăng tẩm, nhạc múa ( vũ ) cung đình. Hạ
Long cạn- Ninh Bình thua xa Hạ Long biển- Quảng Ninh . Tổng số
du khách năm 1999 là 406 000 hành khách, trong đó chỉ có 96
400 khách ngoại quốc. Tuy có mức gia tăng đáng kể những năm kế
tiếp, nhưng vẫn kém cỏi, so với con số du khách đến Quảng
Ninh là 2 600 000 người năm 2005 và 3 600 000 người năm 2007.
Khó lòng chấp nhận một công nghệ dịch vụ dễ làm, có sức thu
hút nhân lực cao, ở một tinh nhỏ dân quá đông đúc, mà năm 1999
chỉ tạo ra 346 lao động ở 6 cơ sở quốc doanh lớn của tỉnh,
khách sạn Hoa Lư 2 sao, khách sạn Ninh Bình và Nhà Khách Ủy Ban
Nhân dân tỉnh… Hình như năm 2008, Ninh Bình đã nâng cấp hệ thống
khách sạn tỉnh, nay đã đếm được 300 khách sạn ( năm 1999 chỉ có
25 khách sạn ), 3 (Bích Động , Hoa Lư , Tam Cốc ? ) đạt tiêu
chuẩn 3- 5 sao.
Sở dĩ
như vậy là vì Ninh Bình chưa tận dụng khai thác đủ các ưu điểm
du lịch tỉnh nhà ( cảnh quan thiên nhiên, môi trường tự nhiên
); du lich khảo sát, mạo hiểm thể thao ( leo núi đá vôi vách đá
cheo leo, xuống sâu các hang động thăm thẳm mới, cũ, khảo sát
các động vật , thực vật hiếm Cúc Phương…) ; du lịch truyền
thống dân tộc ( cố đô Hoa Lư , hành hương phật giáo, thiên chúa
giao cơ đốc , Bich Động - Tam Cốc , Tam Điệp , khu Voi Quèn Cúc
Phương …) , những quần cư nông thôn đắc sắc: “ làng đồi “
đẹp trên sườn núi hay thung lũng, rải theo các tuyến giao
thông đường bộ ở Yên Mô, Gia Viễn, Nho Quan, “các làng ven
biển” xây cất chắc chắn chống bảo tố, song song với bờ biển
nhìn xuống các kênh ngang, các làng “ dệt chiếu cói “ , mái ngói
hiên nhà rộng, có vẽ khang trang, trù phú, làng “nấu rượu nếp
( nay đã sạch, không còn chất độc ô nhiễm, nhờ trang bị dung cụ
chưng cất Nhật ) vùng đất Kim Sơn… ; lịch sữ văn hóa, nghệ
thuật cá tính Ninh Bình ( không rỏ lễ hội Thái Vù - Ninh Hải,
Hoa Lư mỗi trăng khuyết hạ tuần tháng ba âm lịch, lễ hội
Trường Yên, lễ hội Yên Cư, lễ hội Non Khê… có những gì sáng tạo
văn hóa, văn nghệ địa phương ?); chưa có du lịch nghỉ ngơi,
chửa bịnh ( dù có nhiều suối nước nóng , nước khoáng bổ dưỡng
như suối nước nóng Kênh Gà, huyện Gia Viễn, nhiệt độ 53 độ C,
phun mạnh, đều, lưu lượng 5m3 /giờ, suối nước khoáng
Kỳ Phú, huyện Nho Quan 20 loại hóa chất hòa tan, có khả năng
chửa bệnh … ) hay giải trí ( chẳng hạn tại sao rặng núi Ngọc Mỹ
Nhân- Cánh Diều lại không tổ chức thi đua quốc tế, trong nước
thả diều như Vũng Tàu, cho du khách nhảy - lượn dù giải trí
như ở nhiều thị trấn du lịch Thái Lan, múa hát giữa thành phố
hay ở trình diễn kịch định kỳ ở các cung điện xưa điệu tân, cổ
nhạc như ở thành phố Avignon, miền nam nước Pháp và thiết lập
những công viên đóng xi nê, kịch ti vi…. kiểu tiểu Hồ Ly Vọng
Nam Ca Li, Cinecitta, Ý; công viên “ hí trường thể thao tiêu
khiễn kiểu quốc tế ngày nay tựa các Disneyland, Disney World,
nhưng nhỏ, ít phí tổn hơn và cộng thêm nhiều đặc sắc văn hóa
Việt Nam .). Tóm lại, cần hình dung, quan niệm lại từ cơ cấu,
tổ chức, đầu tư tân trang cận đại hệ thống đón mời, kể luôn cả
mau lẹ hoàn tất tân trang giao thông đưòng sông ( 284 km, lượng
luân chuyễn lớn hơn, tuy hàng hóa vận chuyễn chỉ phân nữa
đường bộ vào năm 1999 ), đưòng bộ ( hương lộ và huyện lộ, tỉnh
lộ, quốc lộ tổng cọng 2927 km, đường sắt ( Ninh Bình chỉ có
20km tuyến Bắc Nam từ cầu Non nước đến Dốc Xây - thị xã Tam Điệp
với các ga Ninh Bình , Cầu Yên, Ghềnh , Đồng Giao ). Hầu mở
rộng nối liền, chung sức khai thác các vùng chánh du lịch
cùng các tỉnh lận cận hay xa xôi sang tận các nước bạn Lào,
Miên, Miến Điên, Thái Lan... ( quốc lộ 1A, quốc lộ. 10, các
tỉnh lộ 12A, 12B, 12C , 59…) . Việc khánh thành các trạm
khang trang bên đường - road side stations năm 2008 (hình
như với viện trợ Nhật JICA ? ) là một hướng mới đáng tiếp diễn ở
những khía canh tăng cường, cập nhật khác tăng cường cho ngành
dịch vu tạo nhiều công ăn việc làm này.
Quan
niệm lại đê điều khai khẩn đất lấn biển và hệ thống “ chuyễn đổi
“ nông nghiệp ?
Theo
lệnh vua Minh Mạng , Nguyễn Công Trứ đốc xuất dân chúng hoàn
tất cuối năm 1829 , cách đây 180 năm, 14 620 mẩu ta ( một mẩu
3600 mét vuông ) lấn biển và lập ra huyện Kim Sơn ( hay là huyện
Núi Vàng )..Một kỳ công tăng quỷ đất nông nghiệp cho tỉnh Ninh
Bình, thiếu đất trồng trọt nặng nề. Quá trình 3 bước 1ấn biển:
bước 1 dựa vào các cồn cát ven biển đắp đê, đào kênh “ chắn mặn
“; bước 2 đào kênh tưói rữa măn kết hợp với trồng cói trong đồng
và trồng rừng chống sóng triều ngoài đê; bước 3 đất ngọt đến
đâu trồng lúa đến đó. Tiến trình xây dựng này kéo dài trên dưới
10 năm. Điển hình là nông trường Bình Minh, bắt đầu lấn biển năm
1958, 40 năm sau tạo thêm Bình Minh 2 và các xã mới. Tuy nhiên
kỷ thuật áp dụng đã xưa cũ gần 200 năm rồi . Nay đã có kỷ thuật
mới tinh xảo lấn biển, chống bảo lụt, ô nhiễm, lập cảng sông
cảng biển, đô thị trấn hóa các làng huyện, hồ nước nhân tạo,
cải thiện đất bùn phèn chuyễn đổi loại cây trồng như ở các châu
thổ Hạ Hà Lan ( như công trình Delta Works đã hoàn tất năm
1997, hy sinh nhiều khía cạnh môi sinh hơn ) và châu thổ sông
Mississipi (của quân đoàn kỷ sư công binh Corps of Engineers Hoa
Kỳ, ít hy sinh môi trưòng hơn) ( theo tiến sĩ Trần Đăng Hồng ở
tạp san Nông Nghiệp Hải Ngoại Việt Nam, Ca Li , 2007- 2008 ).
Nay chúng ta đã có đủ xi măng, sẽ đủ sắt thép và nhiều vật liệu
xây dựng khác, nhiều chuyên viên, nhân công thủy lợi, công
chánh cập nhật và khá tinh tường kỷ thuật mới thế giới (đã thực
hiện đườngTrường Sơn công nghiệp, tổng công ty sông Đà làm nhiều
nhà máy thủy điện lớn.. ) ngân sách có thể đủ tiền tài trợ, đầu
tư kích cầu cải thiện hạ tầng cơ sở, ít sợ lạm phát vào một
giai đoạn kinh tế quốc tế, nước nhà suy thoái. Các hồ đập thủy
điện thượng nguồn sông Hồng ở Trung Quốc và chi lưu chẳng hạn ở
sông Đà như các đập Hòa Bình, Sơn La... cũng đã thay đổi dòng
chảy, đất bồi tụ, từ của sông Đáy đến cửa Thần Phù; hệ thống đê
điều quan niệm từ thời nhà Lý, e không còn bao nhiêu giá trị
bảo vệ và giao thông, thêm đất lấn biển Ninh Bình… thế kỷ 21,
cũng như toàn thể châu thổ sông Hồng ?
Việc chuyễn dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tạo thế
cân đối giữa trồng trọt, chăn nuôi ( tính luôn cả ngư nghiệp )
và dịch vụ nông nghiệp, tuy được quan niệm từ hơn 10 năm nay,
vẫn chậm rì so vói mức tiến triễn ở miền Nam và Tây Nguyên.
Năng xuất lúa còn chưa đến 6- 7 tấn/ mỗi vụ/ ha, dù rằng nay
đã có các giống lai cao năng tiềm năng 12- 13 tấn/mỗi vụ / ha;
phân đạm hóa hoc urê - muối diêm lạnh cho lúa đã sản xuất khá
dồi dào trong nước, bón ruộng thay thả bèo hoa dâu - azolla
loại bèo chứa vi khuẩn có khả năng tổng hợp đạm, nhưng tổng hợp
này không đủ sức cung ứng đầy đủ đạm cho lúa cao năng, siêu
năng ngày nay, mà lại có cơ choáng mất đất, mất vụ. Ninh Bình
cũng như miền Bắc có lạnh thích hợp cho các loài lúa Japonica
cao năng, hột tròn hột dẻo và sửa soạn thị trường xuất khẩu nay
mai sang Nhật, Đại Hàn, Bắc Trung Quốc… lại ít được khảo
cứu.phổ biến hơn cả ở An Giang không có lạnh, đồng bằng sông
Cửu Long . Năng xuất ngô ( bắp ) lai còn tệ hại hơn nữa trong
khi trên thế giới tân tiến, ngay cả ở một vài vùng Tây Phi
Châu, các giống ngô - bắp lai lại có năng xuất trung bình cao
hơn cả lúa lai nữa. Nhóm cây công nghiệp hàng năm ( đậu phụng -
lạc chưa có phát triễn các giống mới nhóm Virginia hột to , bổ
sung nhóm Spanish nước nhà, mía, cói thật ra là lác chiếu-
lác gon tên khoa học là Cyperus tegetiformis Roxb. , tên
Anh là chinese mat grass, tuy đã tuyễn chọn được giống cói bông
trắng Nhật năng xuất gần gấp đôi, phẩm giá tốt hơn các giống Kim
Sơn, Thanh Hóa , Trung Quốc , Đại Hàn du nhập, đay , mè- vừng
chưa cái thiện như các giống mè tân tuyễn Thái Lan, đậu tương
- đậu nành, thuốc lá ) cũng không mấy cải thiện năng xuất từ
nhiều năm nay, dù trên thế giới cũng đã có nhiều kỷ thuật mới
cải thiện năng xuât., phẩm giá .
Mở
mang thêm quỷ đất nông nghiệp, ngoài việc khai khẩn đất lấn
biễn, nên tận dụng đất đai thích hợp cho cây ăn quả ( ăn trái )
và cây công nghiệp lâu năm , đặc biệt xét lại việc trồng và
chế biến chè- trà, khi mà sản phẩm trà khô tỉnh nhà không có
thị trường xuất khẩu. Cần tái xét đất lâm nghiệp hiện chiếm
đến gần 20 % diện tích đất tự nhiên. Chương trình trồng lại
rừng 5000 ha , tăng bao phủ rừng thêm, từ sác xuất 9 % đến 31 %
, nên dùng cây vừa ăn trái vừa làm gỗ tốt , thay thế cây rừng
chỉ công dụng làm gỗ; dưới tàn cây trồng, phát triễn chăn nuôi
hay trồng cây lương thực hàng năm, chờ đợi thu hoạch cây lâu
năm. Con số 4000 ha cây ăn quả năm 2000- 2001 của tỉnh Ninh
Bình có thể tăng lên gấp 3 gấp 4, nếu triễn khai đại trà hơn
thể thức nông truờng, lâm trường, nhiều loại cây ăn trái bán ôn
đới, bán nhiệt đới,theo thế nông lâm mục đa năng , đa tầng. Vùng
Cúc Phương đã nhận diện nhiều loài hồ đào như Mày Châu
Carya tonkinensis , Mày Thanh Hóa Carya anamocarya,
Mày Trung Quốc Carya sinensis hột ngon, tương tự các
giống Carya pecan hay illinoensis Mỹ - pecan
nut, sao chưa thấy khuếch trương ở các sườn đồi, vườn tượt
“làng đồi Ninh Bình “ những giống pecan lai - hybrids gỗ
tốt ở các tiểu bang Hoa Kỳ? Cũng không thấy nói ở vùng đồi
ráo nước không úng thủy, đất vôi, trồng ngay cả dẽ bi-
macadamia nut hay Úc châu kiên quả, mới đây đã thành công
ở Ban Mê Thuột , Lâm Đồng, ngoài Lạng Sơn…; các giống hồ đào
óc chó- walnut Ba Tư , Anh Quốc , Pháp .. các giống dẽ,
sồi dẽ - chestnut ; các giống cây bơ -avovado ( cần
tránh nơi đồng băng ven biển hay bảo tố vì cành bơ dễ gãy );
các cây sung ngot- ficus carica loại không cần ong đặc
biệt thụ phấn, các cây kiwi dương đào ( ruột xanh , ruột
vàng ) cần đôi chút lạnh; các cây hạnh nhân loại ngọt Ca Li
cần đôi chút khô hạn, nơi vùng Ninh Bình gió Lào khô thổi qua.
Quanh đồi núi ngoài chùa Bích Động sao không thấy bóng dáng
những vườn trái mơ ( mai ) -apricots cải thiện làm ô mai
mơ hay ăn trái tươi, làm mứt… như rừng mơ nhiều loại quanh chùa
Hương.
Trong 3
món khoái khẩu dân Ninh Bình là Rượu Kim Sơn, Thịt dê và Cơm
cháy , sao trong thế nông lâm mục vừa kể, không thấy đề cao
nuôi dê giữa các hàng cây; có lẽ nên thêm các giống dê sửa nhiều
thịt nhiều sửa trên thế giới hơn là giống dê Bách Thảo ? Hay
nuôi “ bò mini “ Hoa Kỳ, nhất là nuôi trâu sửa Murrah, lấy sửa
làm phó mát buffalo mozzarella ngon, làm sửa
tươi, sửa chua yogourt, cà rem, bánh ga tô phó mát - cheese
cake, dân Á Đông ưa chuộng … như ở gần thủ đô Roma , thành
phố Napoli tỉnh Campania nước Ý ( tuy cần xét lại cơ cấu tại sao
chăn nuôi trâu sửa ở Mộc Châu không mấy phát đạt ). Có lẽ bên
cạnh thịt dê khoái khẩu nên nghỉ cách làm những món thịt
thỏ hầm- civet de lapin trộn môn, khoai, hô đào, dẻ, nấm,
đặc sản tỉnh nhà, vì nay ngành nuôi thỏ đã khởi xướng, đặc biệt
ở Nho Quan, nhờ mới tìm được thị trường xuất khâu cả triệu
con sang Nhật (? )
Lạ lùng thay, Ninh Bình có nhiều hang động ẩm thấp , lạnh
lẽo lại không nghe nói tới nuôi trồng đại trà các loại nấm như
nấm mỡ Agaricus sp., nấm rốn to bự Portobello,
nấm kim châm, nấm đinh enoki, nấm đông cô , nấm hương, nấm cỏ
dày , nấm da báo, nấm ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng ), ngoài nấm rơm,
nấm mộc nhĩ ( tai mèo ) , bào ngư … nhiều nấm dược liệu là các
nấm linh chi Ganoderma sp. Chuyễn đổi ngành rau đậu,
hoa kiểng, ngoài việc phụ thêm các loài nhiệt đới nội địa ( như
rau đay , rau sắng, rau muống, rau dền… ) phải bổ sung mạnh
bằng các loài giống bán ôn đới mới mẽ nguồn gốc Đài Loan, Hàn
Quốc, Nhật Bổn và cả Bắc Ấn Độ nữa . Nếu cần thiết trồng rau
hoa trong các vòm, nhà kiếng nhựa dẻo điều hòa không khí thích
nghi, nuôi trồng theo kỷ thuật thủy sinh - hydroponics .
Ơ các đất thấp không trồng cói nữa, hay đất trũng đầm lầy còn
mặn, ngoài việc tăng cường nuôi tôm nuôi cá, các loại ngư sản
khác, có lẽ cũng nên nghĩ đến các loài rong - tảo - algae
mới cao năng , không chỉ để làm thực phẩm nuôi súc vật, nuôi
cá, trích dâu diesel, mà còn để ăn tươi, ăn sấy khô đã thông
dụng ở Nhật , Hàn Quốc … Nếu đưa được khí thải chứa CO2 ,
khí hâm nóng địa cầu các nhà máy chạy than đá Ninh Bình
qua các hồ, ao, ruộng nuôi tảo thích nhiều thán khí này ( thay
vi đưa các khí qua các mạch mỏ ngầm ) có cơ giải quyết khía cạnh
ô nhiẻm các nhà máy chạy than đá dơ bẩn; dù rằng trồng thêm cây
cổ thụ bóng mát đường phố, công viên thị trấn hay gây tao
rừng cũng đã góp phần làm sạch vụ ô nhiễm, hâm nóng địa cầu này
rồi.
Chuyễn đổi cơ cấu loại công nghệ
Ngành
công nghệ Ninh Bình cần thoát ly quản trị quốc doanh, cả địa
phương lẫn trung ương, chuyễn đổi mau đến các công nghệ khai
thác tri thức mủi nhọn, công nghệ liên hệ quốc phòng và tương
lai hướng về biến chế dầu khí vinh Bắc Bộ nữa .
Năm
1996, công nghiệp Ninh Bình chỉ chiếm 8, 83 % lao động, đóng góp
23.63% tổng sản xuất và 17.1 GDP ( so với năm 1994 ) của tỉnh,
dừ trù tăng 14- 16 % GDP trong thời gian 2001- 2010 , 33- 34 %
năm 2010 . Công nghiệp Ninh Bình thuộc loại nhỏ, so với cả nước
( ngoài nhà máy xi măng Tam Điệp công xuất 1, 4 triệu tấn thiết
lập năm 1999 và nhà máy nhiệtđiện chạy than đá tỉnh lỵ Ninh
Bình ) hay với các tỉnh thành phố của đồng bằng sông Hồng, tập
hợp thành 3 nhóm : công nghiệp chế biến , công nghiệp điện nước
và công nghiệp khai thác. Toàn bộ những ngành quan trọng đều do
Trung Ương quản trị, như điện, hóa chất phân bón ( phân nung
chảy ) sản xuất sản phẩm phi kim loại, khai thác đá. Các ngành
chế biến kim loại, sản xuất máy móc thiết bị , khai thác than
qua lữa, xuất bản , in … do quốc doanh địa phương quản lý,
chiếm 19,8 % công nghiệp toàn tỉnh. Công nghiệp ngoài quốc doanh
chỉ chiếm giữ vai trò đáng kể trong hoạt động tiểu thủ công
nghiệp ở cấp huyện, tuy mảng công nghiệp nhỏ nhưng lại rất
linh hoạt,tạo ra nhiều sản phẩm và thu hút nhiều lao động trẻ.
Chẳng hạn ngành tiểu thủ công nghệ ở Yên Khánh đã đẩy mạnh chế
biến cói, thêu ren , chế tác đá mỹ nghệ… Phải khích lệ các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh khai thác các khoáng sản như
than nâu , than mỡ, than bùn ở Đồng Giao , Thạch Bích , Sơn Hà (
Nho Quan ), đá vôi có cường độ chịu lữa và tinh nguyên khối
cao làm đá ốp lát trang trí các xây dưng; đôlômít phong hóa
làm gạch không nung cưòng độ chịu nén cao ở Hoa Lư và Tam
Điệp, bột màu xây dựng ở Văn Phú ( Nho Quan ) , khai thác các
nưóc nóng hay nước khoáng tốt chữa bệnh hay làm nước đóng chai
uống giải khát, các lò gạch ngói ở những nơi có nguồn đất sét
làm gạch ngói tốt ở Sơn Hà, Xích Thổ ( Nho Quan ) Đồng Giao,
Ghềnh (Tam Điệp), khai thác cát vàng, cát đen ở các bải bồi và
lòng sông dùng cho xây dựng, cát trắng với hàm lượng ôxyt silic
cao thích hợp sản xuất thủy tinh, gạch ngói silicat ….Cân thêm
nhiều cố gắng đẩy mạnh đầu tư tư nhân, tư bản ngoại quốc vào
hai khu công nghệ Tam Điệp ( 62 .2 ha ) ở thị xã Tam Điệp và
nhất là khu công nghệ Ninh Phúc ở huyện Yên Khánh diện tích đến
350 ha.
Tương
lai công nghiệp Ninh Bình phải duyệt xét các ngành sản xuất cơ
khí ( từ lâu máy bơm đã không xuất khẩu được ?), điện tử và hóa
chất bổ sung bằng những công nghiệp phục vụ quốc phòng diện địa
đã có truyền thống lịch sử ( và vì Ninh Binh không có nhiều bờ
biển làm quốc phòng bảo vệ Biển Đông ), những công nghiệp phục
vu trang trí thiết bị nhà cửa theo đà đô thị hóa và tiện nghi
hóa gia cư khang trang, đúng vệ sinh, ít phá hại môi sinh hơn,
cũng như tiết kiệm năng lượng, công nghệ dược phẩm cả âu dược
tân tiến ( sản xuất thuốc chủng, thuốc tương thích chung
-generic ) lẫn Nam - Bắc Đông Y, công nghiệp viễn thông, truyền
thông, bưu điện máy computer , phần mềm phần cứng , robot , nanô
… Giải quyết mau lẹ tranh chấp vấn đề khai thác 7 bồn trũng khí
dầu Vịnh Bắc Bô đã khám phá, hay cố tìm cho được giếng khí dầu
gần lảnh thổ, lảnh hải Ninh Bình - Thái Bình hơn, hầu hình dung
một cụm công nghệ điện khí đạm như đã làm ở Phú Mỹ - Bà Rịa ,
Cà Mau hay chung sức nới rộng cụm phức tạp lọc dầu, chế biến
sản phẩm lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa kế cận ?
( Irvine ,Ca Li ngày 16 tháng 6 năm 2009 )
Đã đăng:
Thô thiễn lạm bàn về tỉnh Ninh
Bình, cố đô Hoa Lư, Đinh, Tiền Lê…(phần I)
1. Tên của bạn::
'trang'
2. E-Mail của bạn::
'vtrang89hp@
3. Góp ý cho bài ? :
'tho thien lam ban ve tinh nnh binh...'
4. Góp ý, Phê bình::
'bai viet nay the hien su hieu biet sau sac ve ninh binh ca
ve mat tu nhien, lan van hoa, kinh te xa hoi. toi dang can tai
lieu de tim hieu them ve tinh ninh binh nen doi voi toi no rat
can thiet va huu ich'
Trở về Trang Chính
|