|
9- Richard Bonneau, nhà hệ thống
sinh học , đại học New York
Richard
Bonneau, 33 tuổi nói: ghi chép hàng ngày những bộ phận giải
phẩu tế bào cũng tốt đẹp, nhưng chén thánh thực sự của những
nhà sinh học là hiểu biết cách nào mỗi bộ phận lại ra mệnh
lệnh cho chức năng các bộ phận khác. Ông tiếp : “ Bạn có
thể biết là A liên quan tới B, thế nhưng nếu bạn không có một
hình ảnh năng động của hệ thống , bạn không biết được là bộ
phận nào ảnh hưởng lẫn nhau. Tôi muốn vẽ mủi tên trên đường đi
thôi . Bằng cách theo dấu họat động tất cả mọi gen của một
sinh vật sống tự do cỗ xưa archeon , cũng như vi khuẩn là một
đơn bào chưa có nhân điển hình - prokaryotes, mới đây
Bonneau đã có khả năng ráp lại với nhau cách nào một gen ảnh
hưởng đến sự biểu hiện - expression của chúng. Giúp ông
làm đồ bản “ mạch vòng kiểm sóat “ sinh vật như thể nó là một
bộ máy móc vậy đó . Trong tiến trình , ông tìm thấy một điều
đáng ngạc nhiên: thay vì tạo ra những giải đáp hòan tòan khác
nhau đối với những kích thích tỉ như ánh sáng và các hóa chất
độc hại, vi sinh vật cỗ xưa chụp lấy những kích thích môi
trường này và đặt chúng vào cùng một máy tích phân ( hòa nhập ).
Và không có những con số giải đáp vô hạn định. Ông nói thêm :
khi biết được dãi cư xử giới hạn mà các vi sinh vật trình bày
, điều đó sẽ chứng minh, giúp đở lớn lao việc chế tạo ra các
dược phẩm mới và các nhiên liệu sinh hoc.
10 - Jonathan Pritchard, nhà di truyền học ,
viện đai học Chicago / viện y khoa Howard Hughes
Thật dễ dàng nghĩ rằng tiến trào là những gì đã xảy ra cách
đây mấy triệu năm,
Nhưng Jonathan Pritchard , 37 tuổi, đã chứng
minh là chúng ta đang thích nghi với môi trường, trong thời gian
thực tế . Pritchard và các đồng nghiệp, sử dụng các mô hình
thống kê để nhận thức những đột biến di truyền, lan tràn mau
lẹ suốt qua các dân cư . xác định hàng trăm vùng của hệ gen
những biến đổi mới xảy ra gần đây, theo tuyễn lựa thiên
nhiên.Ông nói: nếu một đột biến mới bừng dậy ở một dân cư nào
đó, và nó được ân sủng , tuyễn lựa thiên nhiên sẽ đẩy mạnh
tần số của allele lên rất mau lẹ.Theo thời gian, chỉ có
những khác biệt tần số nhỏ giữa các nhóm người, cho nên khi có
khác biệt tần số lớn, chúng lộ diện rỏ rệt.
11- Sara Seager, nhà vật lý học thiên văn,
viện đại học kỷ thuật Massachusetts - MIT
Khi
những câu hỏi xóay chảy quanh sự hiện diện các hành tinh ngọai
thái dương ( mặt trời ), vào cuối thập niên 1990, Sara Sager nay
36 tuổi, đánh cuộc là những lập lòe xa xôi đi qua mặt
các ngôi sao có thể tăng trưởng thành biên cương kế tiếp của
ngành thiên văn. Đánh cuộc đã thắng : những mô hình lý
thuyết của bà về hóa học các hành tinh ngòai thái dương, đã giúp
các nhà khảo cứu làm ra những đo lường đầu tiên khí quyễn thế
giới xa vời. Seager hy vọng là chúng ta sẽ tìm ra một anh em họ
bà con với Trái đất , trong vài năm tới, nhưng mục đích tối hậu
của bà to lớn hơn nhiều . Bà nói: cái gì tôi muốn làm là hình
dung những lọai khí - gases , đời sống ngòai trái đất có
thể sản xuất ra . Những khí này sẽ tích lũy trong khí quyễn và
có thể dò ra từ xa xôi vời vợi . Theo một bước tiến về hướng
này, bà đang cố tìm những chữ ký , khác với chữ ký căn bản là
oxygen, là đời sống tương tự Trái đất có thể để lại đằng sau ,
tỉ như hydrogen sulfide. Suốt thời gian thơ ấu ở Canada, cha
bà đã phơi bày cho bà một lọat ý kiến , kể cả ý kiến ngắm bầu
trời sao. Thời gian mộng mơ ban ngày đó, theo bà, rất là thiết
yếu , biến bà thành một nhà khoa học tốt .
12- Adam Riess, nhà vật lý học thiên văn,
viện đại học Johns Hopskins
Adam
Reiss biến ngành thiên văn học làm si mê nhiều người, khi ông
hướng dẫn một nhóm nhà thiên văn học ( gọi tên là High-z Team )
khám phá ra là vũ trụ đang nở rộng ra - expansion mau
chóng hơn . Các nhà khoa học đã chấp nhận là vũ trụ nở rộng từ
năm 1929, và trước năm 1998, họ giả thiết là hút dẫn trọng
lực - gravitational attraction sẽ dần dần làm vũ trụ ngưng
lại. Thế nhưng khi Riess, nay 38 tuổi, cố tâm dùng dữ liệu ông
làm bộc lộ ra từ việc quan sát các nổ tung các ngôi sao xa xăm
, hầu cũng cố thêm mô hình này, các con số không lại không phù
hợp tí nào . Sau đó vài ngày, ông chứng minh rằng dữ liệu của
ông chỉ có ý nghĩa ở một vũ trụ gia tốc mà thôi .
Khám
phá cho thấy là một lực đẩy áp đảo, do một năng lượng đen -
dark matter bí mật vũ trụ chứa đến 72 %, nạp nhiên liệu,
sẽ thắng trọng lực để làm vũ trụ tăng tốc. Tỉ như quẳng trái
banh lên trên không khí và cố giữ cho nó luôn luôn lên cao mãi,
theo lời Reiss. Nay được cấp học bổng MacArthur, trị giá 500
000 đô la tháng 9 năm 2008, ông quyết định làm bộc lộ những bí
mật của năng lượng đen này và ảnh hưởng của nó trong vũ trụ .
13 - Sarkis Mamaznian, nhà sinh học Viện Kỷ
thuật California - Caltech
Trong
số 100 ngàn tỉ vi khuẩn - bacteria sống trong ruột chúng
ta, vài vi khuẩn là mầm bệnh , có thể khởi động bệnh và những
phản ứng miễn nhiễm kinh khủng , và nhiều vi khuẩn lại họat
động với hệ thống miễn nhiễm để bảo vệ ký chủ. Sarkis
Mazmanian, 35 tuổi, tự lao mình hầu hiểu biết cách nào những vi
khuẩn tốt đề cao sức khỏe . Ông nói: chúng không xá kể gì đến
chúng ta cả thảy, ngòai vụ chúng ta cung cấp cho chúng một nơi
sinh sống bền vững và giàu dưỡng liệu. Mazmanian xem vụ liên hệ
cộng sinh này giữa thân thể con người và vi trùng -
microbes là một mỏ vàng kim cho những phép chữa trị một số
bệnh .
Mazmanian tin tưởng rằng tương tác giữa thân thể và vi khuẩn
đường ruột có thể là chìa khóa mở cửa vào, chẳng hạn cách nào
một phản ứng miễn nhiễm đến các vi trùng này lại có trách nhiệm
làm phát triễn ung thư ruột kết- colon cancer. Ông tiếp
: tiềm năng của các vi trùng có ích lợi, tuồng như vô giới hạn .
Theo Mazmanian , triết lý khảo cứu của ông là “ bất cứ chuyên
gì cũng có thể xảy ra ở thế giới thiên nhiên. Vì vậy, tôi muốn
cũng cố mọi nguyên nhân hay hậu quả có thể có được cho một vấn
đề khoa học.’
14 - Jack Harris , nhà vật lý học ứng dụng ,
viện đại học Yale
Cơ học Hạt lượng - Quantum Mechanics
mô tả một thế giới hiển vi - vi tiểu cuồng lọan, trong đó những
hạt tử chạy vù quanh theo những tốc độ nhanh cực kỳ và thông
thường vi phạm những luật vật lý học cổ điễn, chúng ta mặc
nhiên thụ hưởng . Mục đích của Harris là lợi dụng ưu điểm của
“ những luật hiển vi- vi tiểu thật lạ lùng và bí ẩn , đem
chúng áp dụng vào những vấn đề thế giới đại trà- vĩ mô “
Thời phát hiện cuối cùng sẽ bổng nhiên nhận thức là vật thể vĩ
mô đang làm điều gì đó , luật vật lý học cổ điển tuyệt đối cấm
đóan. Harirs, 36 tuổi, nghiên cứu những áp xuất bé tí ti các
photons ( những hạt tử điện từ - electromagnetic particles
) khi chúng dội nảy trên các gương nhỏ , mềm dẻo. Hầu làm rỏ ý
kích thước những áp xuất này, bạn hãy xét đến một ngày trời
trong sáng, các tia mặt trời đẩy thân thể bạn với áp xuất, chỉ
có một lực một phần triệu cân Anh. Harris muốn thu lượm ánh
sáng photon,
từng
photon một, có thể đưa đến một cách viết mật mã -
cryptography không phá vỡ nổi nữa và những dụng cụ thiên
văn siêu cảm ứng - ultrasensitive , có khả năng dò ra
những hiện tượng vô hình, tao ra vài giây nanô sau Tiếng Nổ
Vang - Big Bang .
15 - Michael Elowitz, nhà sinh học , Caltech
Năm
2000, Michael Elowitz nay 38 tuổi, họa kiểu một mạch vòng di
truyền làm vi khuẩn E. coli nhấp nháy trong một đĩa cấy vi
trùng .Ông nói: đúng là một lúc đồ sộ , nhớ lại là cách tế bào
cư xử như những đèn đêm Giáng Sinh màu xanh lục hùynh quang .
Thế nhưng thí nghiệm cũng là một thất bại may mắn . Dù rằng các
tế bào nhấp nháy , chúng làm như vậy theo những sác xuất khác
nhau . Biến thiên ở các tế bào chứa cùng chuing một lập
trình, khởi động một dòng thí nghiệm hòan tòan mới mẽ, tụ điểm
trên cái gì, theo Elowitz, “ đã làm các tế bào khác nhau thực
hiện những điều khác nhau”.
Ngày
nay , Elowitz xem xét cơ chế nhờ đó các tế bào di truyền hòan
tòan y hệt nhau, khai thác và kiểm sóat những thăng trầm ngẩu
nhiên các thành phần sinh hóa học của chúng , hầu tạo ra đa
dạng lọai tế bào. Elowitz nói : “ hiểu biết nhiệm vụ những
thăng trầm “ ồn ào “ này sẽ giúp chúng ta hiểu biết cách nào
các vi khuẩn đa dạng sống sót , cũng như cách nào các tế bào
chuyên biệt, để xây dựng những sinh vật đa bào .
16 - Tapio Schneider, nhà khoa học môi sinh ,
Caltech
Tương
tác phức tạp giữa xóay lốc khí quyễn và chuyên chở nhiệt lượng
ảnh hưởng đến khì hậu tòan cầu. Tapio Schneider, 36 tuổi, đã
phát triễn những bắt chước - simulations trên computer ,
để hiểu biết tốt hơn là tại sao như vậy. Ông nói: nếu tôi xây
dựng được một khí hậu trong la bô thì lý tưởng hơn , nhưng chúng
tôi không làm như vậy được với cả một hành tinh. Cho nên
computer là điều tốt nhất sau đó .
Ở dự án
đang phát triễn , mới đây ông sử dụng một hành tinh kiểu mẩu
trình bày là “ gió mùa - monsoons” có thể hình thành
ngay cả trên nước cạn, không sâu, tỉ như đầm lầy. Vì vây, mô
hình cổ truyền của Haley cho gió mùa , nghĩa là những khả năng
nhiệt lượng khác nhau giữa bề mặt lục địa -đất liền và đại
dương gây ra những trận mưa lụt dữ dội, không cho chúng ta
biết một hình ảnh toàn diện. Di chuyễn của hơi nước ở những
hệ thống khí hậu còn chưa được hiểu biết tường tận, theo lời
Schneider, đây là môt lọat câu hỏi Schneider đã khảo cứu từ
nhiều năm nay.
Mục
đích của Schneider là xây dựng một bộ luật vât lý học căn bản
cho khí hậu: những luật nhiệt động lực cống hiến một diễn tả
vĩ mô- macroscopic của một hành vi vi tiểu -
microscopic, và Schneider muốn làm ra một cái gì tương tự
cho khí hậu .
Người
thực hiện cả đời mình :
Stephen
Hawking, nhà vật lý học lý thuyết, viện đại học Cambridge
Dù cho
Stephen Hawking phần lớn bị tê liệt vì bệnh xơ cứng teo cơ ở
bên - amyotrophic lateral sclerosis( ALS) , ông không có gì
khóa khăn nói cho người ta hiểu . Một phần nhờ ông dựa vào một
nút nối với xe lăn và nói chuyện bằng một máy tổng hợp gịong
nói. Ngay cả những chuyễn động giới hạn thân thể, ý nghĩ của
Hawking xuyên qua một cách rỏ ràng . Mỗi nét cong lông mày hay
đảo mắt, mang theo nhiều ý nghĩa hơn cả một thác từ ngữ của một
người khác .
Một điều ông không làm được là ghi chép ngắn gọn
chú giải trên bảng đen , khiến biên tập viên Corey S. Powell
nguyệt san Discover, khi phỏng vấn , chụp hình ông đã phải
vội vàng làm rỏ ràng ý nghĩ của nhà khoa học lừng danh này cho
nhiếp ảnh viên. May thay , Hawking đã viếtra một số sách dễ đọc
rất phổ thoông , kể cả cuốn Một Sử ký Ngăn của Thời gian -
A Brief History of Time. Nếu bạn trải qua chút ít thời giờ
với thế giới Hawking , bạn sẽ đủ khả năng phác họa những ảnh
hưởng của lổ đen trong cấu tạo của không gian phụ nguyên tử.
Hawking đã góp phần cực trọng về vũ tru, học và
trọng lực hạt lượng, nh+ng công trình của ông trên lỗ đen vẫn
vang danh nhất. Lỗ đen , có lúc đã tuồng như tiến độc đạo vào
quên lảng, vì những trường trọng lực quá to lớn. Cho nên ,
theo lý thuiyết, không còn cho phép điều gì nữa, ngay cả ánh
sáng cũng vậy, lọt ra ngòai. Hawking nhận thức rằng vũ trụ
không qúa chỉnh tề như thế. Các lỗ đen có thể đẩy cái ngữ ra
ngòai, phát ra những phóng xạ , theo một cảm gíác nào đó,túm
lấy từ không gian trống trơn. Tiến trình này , có tên là
phát xạ Hawking, giải thích tại sao chúng ta khỏi phải sợ
hải bất cứ lỗ đen mini nào do Máy Đụng độ Large Hadron
Collider tạo ra . Chúng sẽ “ biến hơi mất - evaporate”
gần như ngay tức khắc thành phát xạ .
Hawking là giáo sư Tóan học
,viện đại học Cambridge, lại có vẽ ít quả cảm hơn là chức vị ông
. Ông đã diễn kịch chính mình ở dạng họat họa nhiêều đọan kịch
The Simpsons . Năm 2009 tới đây, ông có ý định đáp phi thuyền
Virgin Galactic, quỉ khốc thần sầu du lịch không gian. Chính
những tuyên bố nghiêm trọng của ông cũng đượm vẽ hóm hĩnh
chua chát. Tháng tư năm 2008, trong cuộc diễn thuyết ca ngợi
50 năm ngày thành lập NASA, ông đã bàn đến đời sống ngòai trái
đất . Ông nói : “ đời sống sơ khai tương đối thông thường,
nhưng đời sống trí tuệ lại rất hiếm có “.
Theo Michio Kaku , giáo sư vật lý học lý thuyết ,đại
học thành phố New York, và tác giả sách “ Vật lý học của
chuyện không thể xảy ra - Physics of the Impossible “, cho
rằng vấn đề lớn nhất của vật lý học là thống nhất lý thuyết
hạt lượng với lý thuyết trong lực của Einstein. Do đó tạo
ra “ một lý thuyết của mọi điều “, giúp chúng ta “đọc được
trí óc của Thương Đế “ , như Einstein có lần đã viết. Một lý
thuyết như thế sẽ giải đáp vài câu hỏi sâu đậm nhất của chúng
ta , tỉ như : cái gì đã xảy ta trước Big Bang ? có những vũ
trụ song song không đây ? Làm du hành thời gian được không ?
Cái gì nằm trong lỗ đen? Stephen đã thực hiện vài đột khởi
- chọc thủng ở lảnh vực này , cho thấy là những ảnh hưởng hạt
lượng có cơ giúp cho các lổ đen phát xạ , cho nên lỗ đen
thật sự là lổ xám .
Có một lần Kaku đã phát biểu ở viện đại học Cambridge
trong một phiên diễn thuyết Stephen tổ chức và đã có cơ hội
viếng nhà Stephen. Kaku lưu ý tới nhiều vật tạm thời thay thế
ở phòng sinh sống , giúp Stephen chống chỏi bệnh nan y. Chẳng
han., một máy lật sách tự động . Bạn đặt một tập san vật lý học
vào đó , máy sẽ chụp bắt một trang và lật trang gìùm. Rồi thì
một ý nghĩ thóang qua đầu Kaku , làm Kaku run bắn người. Có
sức lực tinh thần gì hung bạo đã giúp Stephen tích cực họat
động khảo cứu như thế, trong khi mất hết sức lực mọi cơ bắp ở
thân thể ? Kaku tự hỏi: tôi có chịu đổi chỗ với Stephen không ?
Kaku có thể nổi tiếng tức thì, nhưng giá phải trả là Kaku mất
hết kiểm sóat thân thể .
Gây ảnh
hưởng sâu đậm
1- Larry Page & Sergey Brin , đồng
thiết lập viên Google. Thông minh, tiền bạc và uy quyền : họ
núp sau hậu trường, chỉ nhìn đến ai đó đang chuyễn khoa học từ
lý thuyết đến giải đáp
Cách nào chúng ta phát hiện nơi nào trường trung
học Hoa Kỳ bị nghiền nát , đã xảy ra, 20 năm sau khi chúng ta
thấy được, nếu không có sáng chế Google? Nhưng Google đem
đến cho thế giới nhiều hơn là lén lút đeo đuổi điều khiển
học - cyberstalking . Google giúp con em mới lên lớp 2 hay
đã có PhD khai thác mỏ thông tìn , nới rộng ý kiến về đề tài ,
ngước nhìn những bài viết học giả thâm thúy qua Google
Scholar, và khám phá bằng mắt nhìn mỗi một cm hành tinh
chúng ta với Google Earth . Thế nhưng Larry Page và
Sergey Brin, những kẻ tạo ra Google, muốn nhiều hơn nữa
và tiến một bước nhảy vọt với Google.org. , một tổ chức
bác ái mới mẽ của họ. Thay vì nạp hồ sơ xin chánh phủ qui chế
không vụ lợi, Google - org ( khác đa số dot- orgs )
lấy làm sung sướng giải quyết vấn đề theo phương thức “ vụ
lợi - for profit “.
Theo Davis Wise , nhà báo doanh ngiệp đọat giải
Pulitzer và tác giả sách “ Câu chuyện Google “ : bên
trong thành công Doanh vụ, Đa ngành thông tin và Kỷ thuật nóng
bỏng nhất thời đại chúng ta, Brin và Page hy vọng tầm quan
trọng của Google .org ngày nào đó, sẽ che khuất chính
ngay cả Google . Vise nói : “ muốn có thêm gỗ cho cưa gỗ,
họ đã chấp thuận một kiểu mẩu lai, vượt khuôn khổ làm từ
thiện, ôm chồm lấy những dự án tự vững bền- hãy nghĩ đến món
cho vay nho nhỏ , có thể làm lợi được. Hơn nữa, hầu gieo mầm
tiểu doanh vụ và đặt chúng trên căn bản hướng về thị trường
hơn, như thế sẽ dùng Google.org, tái phối trí lại ngân
khỏan mới mẽ một lần nữa , khi các món nợ vay được trả xong “.
Hiện tại tụ điểm vào một lọat sáng kiến về năng lượng, y tế
công cọng , và nghèo khổ tòan cầu, Google.org , tuyễn
dụng bác sĩ Larry Brilliant , chuyên về y khoa ngừa trị và y tế
công cọng, cựu tổng giám đốc điều hành hai công ty công, ở chức
vụ giám đốc điều hành.
Brilliant, thiết lập viên của Tổ chức Seva
Foundation, họat động khắp thế giới để chửa trị và ngăn ngừa mù
lòa, và WELL một cộng đồng ảo ảnh tiền phong, cặp đôi Google
này không chỉ là “ những tay mơ tưởng kỷ thuật “ mà còn là
những kẻ mơ tưởng đạo đức và cơ cấu nữa “ . Sự kiến tạo ra
Google.org , một phương cách mới làm tốt trên thế giới
có lời, nhờ một công ty kỷ thuật , có thể không xảy ra, nếu
Larry và Sergey không quan niệm ra, trước khi Google thành
công , theo lời Brilliant. Sau IPO - Cống hiến ( Đầu tư )
Công cọng Thọat tiên ,có lẽ là đã qúa chậm rồi. Một cách
nào đó, họ đã tiên đóan tương lai. Phương cách họ đẩy xa thêm
biên cương của năng lượng tái sinh, tổ chức cơ cấu, cách nào họ
xây cất dinh thự, tương tự như vậy. Brilliant nói thêm: họ là
những tay thông thạo computer, nhưng đồng thời cũng là những
tay phi phàm đạo đức và như thể có thể lâu dài hơn là di sản
của họ. Những cam kết luân lý , đạo đức của họ cảm hứng
làm Brilliant gia nhập Google, hầu họat động cùng họ .
2- James Hansen, nhà khí hậu học ,
giám đốc viện Goddard về Nghiên cứu Không gian. Chống cự lại Hâm
nóng Tòan cầu
Al Gore đã đọat giải Nobel nhờ giải thích hâm nóng tòan cầu
cho thế giới, nhưng James Hansen là một trong những người giải
thích thay đổi khí hậu cho Al Gore .
Năm 1981, Hansen, một nhà khí hậu học NASA, đã lên tiếng báo
động là thay đổi khí hậu sẽ gia tốc mau lẹ hơn là đã được tính
toán. Khi Bill Clinton và Al Gore còn ở tòa Bạch Ốc, Hansen
đã viết báo về tai hại của các khí nhà kiếng, làm cho chánh phủ
Hoa kỳ tóat mồ hôi. Dưới ảnh hưởng của George W . Bush, các
chánh trị gia rất bực bội các bản báo cáo của ông, theo như
Hansen tuyên bố, cho nên bị kiểm duyệt ngay tức khắc . Tuy
nhiên, Hansen đã trở thành cố vấn khoa học cho Gore, khi cựu phó
tổng thống xuống đường, trưng bày vấn đề này, và nay nhiều người
xem Hansen như thể là kẻ hướng dẫn Gore .
Thức tỉnh vì tiếng còi nguyên thủy của Hansen, làm
đảo ngược khuynh hướng hâm nóng , nay đã trở thành phong trào
dòng chánh , và tất cả một khu vực của khoa học đã nhận được
rất nhiều tài trợ.
Nhà môi sinh học Bill McKibben, đại học Middleburu
bình luận như sau: mô hình computer của Hansen , giúp Hansen
nói không tí chút nào mù mờ , vào mùa xuân năm 1988, là
con người đang làm nóng hành tinh và đó sẽ là một vấn đề nghiêm
trọng. Hansen luôn luôn muốn nói to câu chuyện , trong công
chúng, không hề ngừng, không né tránh, những gì công trình khoa
học của Hansen có ý nghĩa cho hành tình .
3- Harold Varmus, cựu giám đốc,
quán quân về chánh sách mở cửa Các Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ,
quán quân mở rộng- open access đường vào kiến thức, học
hỏi
Harold Varmus đã đọat giải Nobel , là một trong
những động lưc thúc đẩy của ngành khoa học y khoa, ngay cả
trước khi ông cố tâm cách mạng hóa cách nào các nhà khoa học
hoạt động . Vào thập niên 1970, Varmus và đông nghiệp Michael
Bishop khám phá ra nguồn gốc tế bào của những gen virus
ngược - retroviral genes gây ra ung thư, mở đầu một thời
đại mới về khảo cứu ung thư.
Ở chánh quyền Clinton , Varmus lảnh đạo Các Viện
Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ - NIH và biến các viện này thành một
trung tâm quyền lực y khoa sinh học. Bishop nhớ lại là khi làm
giám đốc NIH, Harold đã cố gắng đạt sự hổ trợ cả hai đảng Cộng
Hòa và Dân Chủ cho khảo cứu y khoa sinh học. Và khoa học vững
chắc luôn luôn ở trọng tâm chương trình nghị sự.
Thách thức cuối cùng nhất cho Varmus là một cố
gắng sửa chửa lớn hệ thống xuất bản tập san khảo cứu , để cho
mọi bài biết đều tự do lưu hành trên Internet, thay vì phải đặt
mua đắt tiền. Như vậy giúp các nhà khảo cứu ở mọi đồng lương ,
bất cứ ở đâu trên thế giới , xây đắp một khối lớn kiến thức. Vận
động thị uy những cố gắng của Varmus. là Thư viện Công cọng
Khoa học và sổ phân công xuất bản hàn lâm, đã trở thành một
trong những nguồn trích dẫn ở khảo cứu hàn lâm và đã cảm hứng
nhiều người khác khắp thế giới, tiếp tục cuộc lảnh đạo này .
4- J
. Craig Venter , thiết lập viên Viện J. Craig Venter, cách mạng
hóa khoa học đời sống - life sciences
Nếu táo bạo khiến mọi
việc được thực hiện, L Craig sẽ lấy làm sung sướng
chất đầy một cam nhông dữ liệu đưa vào la bô . Hãy cố quên
những cọng tác cỗ truyền và sự xây đắp chậm rì dữ liệu .Venter
đã nổi danh khởi đầu những công ty của ông và đẩy tới theo một
phương cách làm giới khoa học đã thành danh bực tức. Đó cũng
là cách ông trở nên danh tiếng hơn nữa khi giải mã hệ gen con
người , trên hẳn môt đạo quân khoa học quốc tế chia sẽ thực
hiện này , cách nào ông hy vọng hiểu biết tất cả mọi vi trùng
đại dương ( xuyên qua dự án Viễn chinh lấy Mẩu Đại dương Tòan
cầu của ông ) và cách nào ông dự tính tạo ra đời sống nhân
tạo. Nhờ thành công , nay Venter cảm hứng mọi người, từ các
nhà đọat giải Nobel đến các giáo sư không nhiệm kỳ, để tung lên
những khởi sự - start up đưa vào dòng chánh cho khám phá
và thu lượm lợi lộc dọc đường.
Theo Huntington F. Willard , giám đốc Viện Khoa học Hệ Gen và
Chánh sách , sự nghiệp của Venter được định nghĩa bằng sáng
tạo, can đảm , bất cần mọi ý nghĩ cỗ truyền. Cuối cùng , vuợt
khỏi một lọat thành công đầu , ảnh hưởng của Venter sẽ được đánh
dấu rỏ , khi các sinh viên cảm giác ngay, dù chỉ mo »i thọảng
nghe đến công trình của ông. Đúng là tốt , khi táo bạo và
thách thức hiện trạng .
Jay Keasling, giám đốc thiết lập ban sinh học tổng
hợp tại La bô Quốc gia Lawrence Berkeley nói: Craig không sợ
mơ tưởng và tư duy to lớn , rất to lớn. Đa số chúng ta bị gò
ép khi suy nghĩ , đặc biệt ở kích thước lớn. Craig không đau khổ
vì những gò ép giới hạn này. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là
ông đã có thể thực hiện những gì ông mơ tưởng .
5-
Bill Gates
sáng lập Microsoft , Sức khỏe cho quốc gia chậm tiến, đang mở
mang
Sau khi
Bill Gates đặt đường rầy cho đương xe lữa PC , bùng nổ của
computer cá nhân lôi kéo dân gian xích lại gần nhau, một cách
chưa bao giờ thấy . Chuyễn hướng này giúp Bill Gates thấy rỏ
ràng hơn, những ai bị dính lại, bị bỏ rơi bên bờ mép nhọn .
Bill Gates cho rằng ông bạn tỉ phú đô la Warren Buffet đã cảm
hứng ông , giúp Gates ôm chồm lấy công cuộc từ thiện. Đây là
lúc thiết lập Cơ quan Bill và Melinda Gates Foundation , một tổ
chức từ thiện giàu có nhất địa cầu. Cơ quan tụ điểm trên
ý tế đặc biệt ở các nước đang mở mang và nhờ vậy Bill Gates trở
thành một lực lượng cũng to lớn như vài tổ chức y tế của chánh
phủ Hoa Kỳ. Cơ quan Gates đưa tới cách chửa trị cho người
nghèo, gồm luôn cả phát tri n các vaccins mới cho ho lao , sốt
rét và AIDS.
Stephen Blount , giám đốc Cơ sở phối hợp Y tế Tòan
cầu ở các Trung tâm Kiểm sóat và Ngăn ngừa bệnh - CDC ,
nói : nhờ tính hào phóng của Gates, thế giới đang tiếp tục
theo đuổi. Các dự án y tế tòan cầu của Gates có sức hấp dẫn
mạnh mẽ, theo lời Blount, khiến cho vài nhân viên kỳ cựu nhất
của CDC đã chịu nhận chức vụ ở Cơ quan Gates, khi họ nghĩ hưu.
Theo Gates hướng dẫn , những tay cự phách nhất ngành công nghệ
Hoa Kỳ, nay thường xuyên cộng tác với những cơ sở quan trong
nhất của chánh phủ Hoa Kỳ ; đưa vào dòng chánh tiến trình
hay bị thư lại và quan liêu làm trì trệ .
( Irvine, Ca
Li ngày 1 tháng chạp năm 2008 )
Đã đăng:
Các bộ óc khoa học sáng tạo Hoa Kỳ năm 2008
(phần 1)
Trở về Trang Chính
|