Các bộ óc khoa học sáng tạo Hoa Kỳ năm 2008

(phần 2)


 

GS Tôn Thất Trình

E-Mail: tonthattrinh@khoahoc.net

11 tháng 12 năm 2008

            9- Richard Bonneau, nhà hệ thống sinh học , đại học New York

Richard Bonneau, 33 tuổi nói: ghi chép hàng ngày  những bộ phận giải phẩu tế bào  cũng tốt đẹp, nhưng chén thánh thực sự của những nhà sinh học  là hiểu biết cách nào  mỗi bộ phận lại ra mệnh lệnh cho chức năng các bộ phận khác. Ông tiếp : “  Bạn có thể biết là A liên quan tới B, thế nhưng nếu  bạn không có một hình ảnh  năng động  của hệ thống ,  bạn không biết được  là bộ phận nào ảnh hưởng lẫn nhau.   Tôi muốn vẽ mủi tên trên đường đi thôi . Bằng cách theo dấu họat động  tất cả mọi gen  của một sinh vật sống tự do cỗ xưa archeon , cũng như vi khuẩn là một đơn bào chưa có nhân điển hình - prokaryotes, mới đây Bonneau đã có khả năng ráp lại với nhau  cách nào một gen ảnh hưởng đến sự biểu hiện - expression của chúng. Giúp  ông làm đồ bản “ mạch vòng kiểm sóat “ sinh vật  như thể nó là  một bộ máy móc vậy đó . Trong tiến trình , ông tìm thấy một điều đáng ngạc nhiên: thay vì tạo ra những giải đáp hòan tòan khác nhau  đối với những kích thích tỉ như ánh sáng và các hóa chất độc hại, vi sinh vật cỗ xưa chụp lấy những kích thích  môi trường này và đặt chúng vào cùng một máy tích phân ( hòa nhập ). Và không có những con số giải đáp vô hạn định. Ông nói thêm : khi biết được dãi  cư xử giới hạn  mà các vi sinh vật trình bày ,  điều đó sẽ chứng minh, giúp đở lớn lao việc chế tạo ra các dược phẩm mới và các nhiên liệu sinh hoc.

 

10 - Jonathan Pritchard, nhà di truyền học , viện đai học Chicago / viện y khoa Howard Hughes

 Thật dễ dàng nghĩ rằng tiến trào  là những gì đã xảy ra cách đây mấy triệu năm, Nhưng Jonathan Pritchard , 37 tuổi,  đã chứng minh là chúng ta đang thích nghi với môi trường, trong thời gian thực tế .  Pritchard và các đồng nghiệp, sử dụng các mô hình thống kê  để nhận thức những đột biến di truyền, lan tràn mau lẹ  suốt  qua các dân cư .  xác định hàng trăm vùng  của hệ gen những biến đổi mới xảy ra gần đây, theo tuyễn lựa thiên nhiên.Ông nói: nếu một đột biến mới  bừng dậy ở một dân cư nào đó,  và nó được ân sủng , tuyễn lựa thiên nhiên  sẽ đẩy mạnh  tần số của allele lên rất mau lẹ.Theo thời gian, chỉ có  những khác biệt tần số nhỏ giữa các nhóm người, cho nên khi có  khác biệt tần số lớn, chúng lộ diện rỏ rệt.   

 

11- Sara Seager, nhà vật lý học thiên văn, viện đại học kỷ thuật Massachusetts - MIT

Khi những câu hỏi xóay chảy  quanh sự hiện diện các hành tinh  ngọai thái dương ( mặt trời ), vào cuối thập niên 1990, Sara Sager nay 36 tuổi, đánh cuộc  là những  lập lòe   xa xôi  đi qua mặt các ngôi sao có thể tăng trưởng thành biên cương kế tiếp của ngành thiên văn.  Đánh cuộc đã thắng : những mô hình lý thuyết của bà về hóa học các hành tinh ngòai thái dương, đã giúp các nhà khảo cứu làm ra những đo lường  đầu tiên khí quyễn thế giới xa vời. Seager hy vọng  là chúng ta sẽ tìm ra một anh em họ bà con với Trái đất , trong vài năm tới, nhưng mục đích tối hậu của bà to lớn hơn nhiều . Bà nói: cái gì tôi muốn làm  là hình dung  những lọai khí - gases , đời sống ngòai trái đất có thể sản xuất ra . Những khí này sẽ tích lũy  trong khí quyễn  và có thể dò ra từ xa xôi vời vợi .  Theo một bước tiến về hướng này, bà đang cố tìm những chữ ký , khác với chữ ký  căn bản là oxygen, là đời sống tương tự Trái đất có thể để lại đằng sau , tỉ như hydrogen sulfide.  Suốt thời  gian thơ ấu ở Canada,  cha bà đã  phơi bày  cho bà một lọat ý kiến , kể cả  ý kiến ngắm bầu trời sao. Thời gian mộng mơ ban ngày đó, theo bà, rất là  thiết yếu , biến bà thành một nhà khoa học tốt .    

      

12- Adam Riess, nhà vật lý học thiên văn, viện đại học Johns Hopskins

Adam Reiss  biến ngành thiên văn học  làm si mê nhiều người, khi ông hướng dẫn một nhóm nhà thiên văn học ( gọi tên là High-z Team ) khám phá ra là vũ trụ đang nở rộng ra - expansion mau chóng hơn . Các nhà khoa học đã chấp nhận  là vũ trụ nở rộng từ năm 1929, và trước năm 1998, họ giả thiết là hút dẫn trọng lực - gravitational attraction  sẽ dần dần làm vũ trụ ngưng lại. Thế nhưng khi Riess, nay 38 tuổi, cố tâm dùng dữ liệu ông làm bộc lộ ra từ việc quan sát các nổ tung các ngôi sao xa xăm ,  hầu cũng cố thêm mô hình này, các con số không  lại không phù hợp tí nào .  Sau đó vài ngày, ông chứng minh rằng dữ liệu của ông  chỉ có ý nghĩa ở một vũ trụ gia tốc mà thôi .

Khám phá  cho thấy là một lực đẩy áp đảo, do một năng lượng đen - dark matter  bí mật  vũ trụ chứa đến 72 %,  nạp nhiên liệu, sẽ  thắng trọng lực để làm vũ trụ tăng tốc. Tỉ như quẳng trái banh lên trên không khí và cố giữ cho nó luôn luôn lên cao mãi, theo lời Reiss.  Nay  được cấp học bổng MacArthur, trị giá 500 000 đô la tháng 9 năm 2008, ông quyết định  làm bộc lộ những bí mật của năng lượng đen này và ảnh hưởng của nó trong vũ trụ .

 

13 - Sarkis Mamaznian, nhà sinh học Viện Kỷ thuật California - Caltech

 Trong số 100 ngàn tỉ vi khuẩn - bacteria sống trong ruột chúng ta,  vài vi khuẩn là mầm bệnh , có thể khởi động  bệnh và những phản ứng miễn nhiễm kinh khủng , và nhiều vi khuẩn  lại họat động với hệ thống miễn nhiễm  để bảo vệ ký chủ. Sarkis Mazmanian, 35 tuổi, tự lao  mình hầu hiểu biết cách nào những vi khuẩn tốt  đề cao sức khỏe . Ông nói: chúng không xá kể gì đến chúng ta cả thảy, ngòai vụ  chúng ta cung cấp cho chúng  một nơi sinh sống bền vững  và giàu dưỡng liệu. Mazmanian xem vụ liên hệ cộng sinh này  giữa thân thể con người  và vi trùng - microbes là một mỏ vàng kim  cho những phép chữa trị  một số bệnh .

Mazmanian   tin tưởng rằng tương tác giữa thân thể và vi khuẩn đường ruột  có thể là chìa khóa mở cửa vào, chẳng hạn cách nào một phản ứng miễn nhiễm đến các vi trùng này  lại có trách nhiệm làm phát triễn ung thư  ruột kết- colon cancer. Ông tiếp : tiềm năng của các vi trùng có ích lợi, tuồng như vô giới hạn . Theo Mazmanian , triết lý khảo cứu của ông  là “ bất cứ chuyên gì cũng có thể xảy ra ở thế giới thiên nhiên. Vì vậy, tôi muốn  cũng cố mọi nguyên nhân  hay hậu quả có thể có được cho một vấn đề khoa học.’

 

14 - Jack Harris , nhà vật lý học ứng dụng , viện đại học Yale

 Cơ học Hạt lượng - Quantum Mechanics  mô tả một thế giới hiển vi - vi tiểu cuồng lọan,  trong đó những hạt tử  chạy vù quanh theo những tốc độ  nhanh cực kỳ và thông thường  vi phạm những luật  vật lý học cổ điễn,  chúng ta mặc nhiên thụ hưởng .  Mục đích của Harris  là lợi dụng  ưu điểm của “ những luật hiển vi- vi tiểu  thật lạ lùng và bí ẩn ,  đem chúng áp dụng vào  những vấn đề  thế giới đại trà- vĩ mô “  Thời  phát hiện cuối cùng  sẽ bổng nhiên nhận thức là vật thể vĩ mô đang làm điều gì đó , luật vật lý học cổ điển  tuyệt đối cấm đóan. Harirs, 36 tuổi, nghiên cứu  những áp xuất bé tí ti  các photons ( những hạt tử điện từ - electromagnetic particles ) khi chúng dội nảy  trên các gương nhỏ , mềm dẻo. Hầu làm rỏ ý kích thước những áp xuất này, bạn hãy xét đến một  ngày trời trong sáng, các tia mặt trời  đẩy thân thể bạn với áp xuất, chỉ có  một lực một phần triệu cân Anh.  Harris muốn thu lượm ánh sáng photon,

từng photon một, có thể đưa đến một  cách viết mật mã - cryptography không phá vỡ nổi nữa và những dụng cụ thiên văn  siêu cảm ứng - ultrasensitive , có khả năng  dò ra những hiện tượng vô hình, tao ra vài giây nanô  sau Tiếng Nổ Vang - Big Bang .

 

15 - Michael Elowitz, nhà sinh học , Caltech

Năm 2000,  Michael Elowitz nay 38 tuổi, họa kiểu một mạch vòng di truyền làm vi khuẩn E. coli nhấp nháy trong một đĩa cấy  vi trùng .Ông nói:  đúng là một lúc đồ sộ , nhớ lại là cách tế bào cư xử  như những đèn đêm Giáng Sinh màu xanh lục hùynh quang . Thế nhưng thí nghiệm cũng là một thất bại may mắn . Dù rằng các tế bào nhấp nháy , chúng làm như vậy theo những sác xuất khác nhau .  Biến thiên ở các tế bào chứa cùng chuing một lập trình, khởi động một dòng  thí nghiệm hòan tòan mới mẽ, tụ điểm trên cái gì, theo Elowitz, “ đã làm các tế bào khác nhau thực hiện những điều khác nhau”.

Ngày nay , Elowitz xem xét cơ chế  nhờ đó các tế bào di truyền hòan tòan y hệt nhau, khai thác và  kiểm sóat những  thăng trầm ngẩu nhiên  các thành phần  sinh hóa học của chúng , hầu tạo ra  đa dạng lọai tế bào. Elowitz nói : “ hiểu biết nhiệm vụ những thăng trầm “ ồn ào “ này  sẽ giúp chúng ta hiểu biết  cách nào các vi khuẩn đa dạng sống sót , cũng như cách nào các tế bào chuyên biệt, để xây dựng những sinh vật đa bào .

 

16 - Tapio Schneider, nhà khoa học môi sinh , Caltech

 Tương tác phức tạp  giữa xóay lốc khí quyễn và chuyên chở nhiệt lượng ảnh hưởng đến  khì hậu tòan cầu.  Tapio Schneider, 36 tuổi, đã  phát triễn những bắt chước - simulations  trên computer , để hiểu biết tốt hơn là tại sao như vậy. Ông nói:  nếu tôi xây dựng được một khí hậu trong la bô thì lý tưởng hơn , nhưng chúng tôi không làm như vậy được với cả một hành tinh.  Cho nên computer là điều tốt nhất sau đó . 

Ở dự án đang phát triễn , mới đây ông  sử dụng một hành tinh kiểu mẩu  trình bày là  “ gió mùa - monsoons” có thể hình thành ngay cả  trên nước cạn, không sâu,  tỉ như đầm lầy. Vì vây, mô hình cổ truyền của Haley cho gió mùa , nghĩa là những khả năng nhiệt lượng  khác nhau giữa  bề mặt  lục địa -đất liền và đại dương  gây ra những  trận mưa lụt dữ dội, không cho chúng ta biết  một hình ảnh toàn diện.  Di chuyễn của  hơi nước ở những  hệ thống khí hậu  còn chưa được hiểu biết tường tận, theo lời Schneider, đây là môt lọat câu hỏi  Schneider đã khảo cứu từ nhiều năm nay.

Mục đích của Schneider là xây dựng  một bộ luật vât lý học căn bản cho khí hậu: những luật nhiệt động lực  cống hiến một  diễn tả  vĩ mô- macroscopic của một hành vi  vi tiểu - microscopic, và Schneider muốn làm ra một cái gì tương tự cho khí hậu .

 

Người thực hiện cả đời mình  :

  Stephen Hawking, nhà vật lý học lý thuyết, viện đại học Cambridge

 Dù cho Stephen Hawking  phần lớn bị tê liệt vì bệnh xơ cứng teo cơ ở bên - amyotrophic lateral sclerosis( ALS) ,  ông không có gì khóa khăn nói cho người ta hiểu . Một phần nhờ  ông dựa vào một nút nối với xe lăn  và nói chuyện bằng một máy tổng hợp gịong nói.   Ngay cả  những chuyễn động  giới hạn thân thể, ý nghĩ của Hawking xuyên qua một cách rỏ ràng . Mỗi nét cong lông mày hay đảo mắt, mang theo nhiều ý nghĩa hơn cả  một thác từ ngữ của một người khác .

            Một điều ông không làm được là  ghi chép ngắn gọn chú giải  trên bảng đen , khiến biên tập viên Corey S. Powell nguyệt san Discover,  khi phỏng vấn , chụp hình ông   đã phải vội vàng  làm rỏ ràng ý nghĩ của nhà khoa học lừng danh này  cho nhiếp ảnh viên. May thay , Hawking đã viếtra một số sách  dễ đọc rất phổ thoông , kể cả  cuốn  Một Sử ký Ngăn  của Thời gian - A Brief History of Time. Nếu bạn trải qua chút ít thời giờ với thế giới Hawking , bạn  sẽ đủ khả năng  phác họa những ảnh hưởng của lổ đen trong cấu tạo của không gian phụ nguyên tử.

             Hawking đã góp phần cực trọng  về vũ tru, học và trọng lực hạt lượng, nh+ng công trình của ông  trên lỗ đen vẫn  vang danh nhất. Lỗ đen , có lúc  đã tuồng như tiến độc đạo vào quên lảng, vì những trường  trọng lực quá to lớn.  Cho nên , theo lý thuiyết,   không còn cho phép điều gì nữa, ngay cả ánh sáng cũng  vậy, lọt ra ngòai.  Hawking nhận thức rằng vũ trụ không qúa chỉnh tề như thế. Các lỗ đen có thể đẩy cái ngữ ra ngòai, phát ra những phóng xạ , theo một cảm gíác nào đó,túm lấy  từ không gian trống trơn.  Tiến trình này , có tên là phát xạ Hawking, giải thích  tại sao chúng ta khỏi phải sợ hải bất cứ lỗ đen mini nào do Máy Đụng độ  Large Hadron Collider tạo ra . Chúng sẽ “ biến hơi mất - evaporate”   gần như ngay tức khắc thành phát xạ .       

       Hawking là giáo sư Tóan học ,viện đại học Cambridge, lại có vẽ ít quả cảm hơn là chức vị ông . Ông đã diễn kịch  chính mình ở dạng họat họa nhiêều đọan  kịch The Simpsons .  Năm 2009 tới đây, ông  có ý định đáp phi thuyền Virgin Galactic, quỉ khốc thần sầu  du lịch không gian. Chính những tuyên bố nghiêm trọng  của ông  cũng đượm vẽ  hóm hĩnh chua chát. Tháng tư năm 2008,  trong cuộc diễn thuyết   ca ngợi 50 năm ngày thành lập NASA, ông đã bàn đến đời sống ngòai trái đất . Ông nói : “ đời sống sơ khai tương đối thông thường, nhưng đời sống  trí tuệ lại rất hiếm có “.

           Theo Michio Kaku , giáo sư vật lý học lý thuyết ,đại học thành phố New York,  và tác giả sách “ Vật lý học của  chuyện không thể xảy ra - Physics of the Impossible “,  cho rằng vấn đề  lớn nhất của vật lý học là thống nhất lý thuyết hạt lượng với lý thuyết trong lực của Einstein.  Do đó tạo ra “ một lý thuyết của mọi điều “, giúp chúng ta “đọc được trí óc của Thương Đế “ , như Einstein có lần đã viết. Một lý thuyết như thế  sẽ giải đáp vài câu hỏi sâu đậm nhất của chúng ta , tỉ như : cái gì đã xảy ta trước Big Bang ? có những vũ trụ song song không đây ? Làm du hành thời gian được không ?  Cái gì nằm trong lỗ đen? Stephen đã thực hiện vài đột khởi - chọc thủng ở lảnh vực này , cho thấy là những ảnh hưởng hạt lượng  có cơ giúp cho các lổ đen phát xạ , cho nên lỗ đen thật sự là lổ xám .

           Có một lần Kaku đã phát biểu ở viện đại học Cambridge trong một phiên diễn thuyết Stephen tổ chức  và đã có cơ hội viếng nhà Stephen.  Kaku lưu ý tới  nhiều  vật tạm thời thay thế ở phòng sinh sống , giúp Stephen chống chỏi  bệnh nan y.  Chẳng han., một máy lật sách tự động . Bạn đặt một tập san  vật lý học vào đó , máy sẽ  chụp bắt một trang và lật trang gìùm.  Rồi thì  một ý nghĩ thóang qua đầu Kaku , làm Kaku run  bắn người.  Có sức lực tinh thần gì  hung bạo  đã giúp Stephen  tích cực họat động khảo cứu như thế, trong khi mất hết sức lực  mọi cơ bắp ở thân thể ? Kaku tự hỏi:  tôi có chịu đổi chỗ với Stephen không ? Kaku có thể nổi tiếng tức thì, nhưng giá phải trả là Kaku mất hết kiểm sóat thân thể .  

 

Gây ảnh hưởng sâu đậm

       1-  Larry Page & Sergey Brin ,  đồng thiết lập viên Google.   Thông minh, tiền bạc và uy quyền : họ núp sau hậu trường, chỉ nhìn đến ai đó đang chuyễn khoa học từ lý thuyết  đến giải đáp

             Cách nào chúng ta phát hiện nơi nào  trường trung học Hoa Kỳ bị nghiền nát , đã xảy ra,  20 năm sau khi chúng ta thấy được, nếu không có sáng chế Google? Nhưng Google đem đến cho thế giới nhiều hơn là  lén lút đeo đuổi điều khiển học - cyberstalking .  Google giúp  con em mới lên lớp 2 hay đã có PhD khai thác mỏ thông tìn , nới rộng ý kiến về đề tài , ngước nhìn những bài viết học giả thâm thúy qua Google Scholar, và khám phá bằng mắt nhìn mỗi một cm hành tinh chúng ta với Google Earth . Thế nhưng Larry Page và Sergey Brin, những kẻ tạo ra Google, muốn nhiều hơn nữa  và tiến một bước nhảy vọt  với Google.org. , một tổ chức bác ái mới mẽ của họ.  Thay vì nạp hồ sơ  xin chánh phủ qui chế không  vụ lợi, Google - org ( khác  đa số dot- orgs )  lấy làm sung sướng  giải quyết vấn đề  theo phương thức “ vụ lợi - for profit “.

            Theo Davis Wise , nhà báo doanh ngiệp đọat giải Pulitzer và tác giả sách “ Câu chuyện Google “ :  bên trong  thành công Doanh vụ, Đa ngành thông tin và Kỷ thuật nóng bỏng nhất thời đại chúng ta, Brin và Page  hy vọng tầm quan trọng của Google .org ngày nào đó, sẽ che khuất chính ngay cả Google . Vise nói : “ muốn có thêm gỗ cho cưa gỗ, họ đã chấp thuận một kiểu mẩu lai, vượt khuôn khổ  làm từ thiện,  ôm chồm lấy những dự án tự vững bền- hãy nghĩ đến món  cho vay nho nhỏ , có thể làm lợi được. Hơn nữa, hầu gieo mầm tiểu doanh vụ  và đặt chúng  trên căn bản hướng về thị trường hơn,  như thế sẽ  dùng Google.org,  tái phối trí lại ngân khỏan mới mẽ một lần nữa , khi  các món nợ vay được trả xong “. Hiện tại  tụ điểm vào một lọat sáng kiến về năng lượng, y tế công cọng , và nghèo khổ tòan cầu, Google.org , tuyễn dụng bác sĩ Larry Brilliant ,  chuyên về y khoa ngừa trị và y tế công cọng, cựu tổng giám đốc điều hành hai công ty công, ở chức vụ giám đốc điều hành.

            Brilliant, thiết lập viên  của Tổ chức Seva Foundation, họat động khắp thế giới để chửa trị và ngăn ngừa mù lòa,  và  WELL  một cộng đồng ảo ảnh tiền phong,  cặp đôi Google này không chỉ là “ những tay mơ tưởng kỷ thuật “ mà còn là  những kẻ mơ tưởng đạo đức và cơ cấu nữa “ .  Sự kiến tạo ra Google.org , một phương cách  mới làm tốt trên thế giới có lời, nhờ  một công ty kỷ thuật , có thể không xảy ra,   nếu Larry và  Sergey không  quan niệm  ra,  trước khi Google thành công , theo lời Brilliant.  Sau IPO - Cống hiến  ( Đầu tư ) Công cọng Thọat tiên ,có lẽ là đã qúa chậm rồi.  Một cách  nào đó, họ đã tiên đóan tương lai. Phương cách họ đẩy xa thêm biên cương của năng lượng tái sinh, tổ chức cơ cấu,  cách nào họ xây cất dinh thự, tương tự như vậy. Brilliant nói thêm: họ là  những tay thông thạo computer, nhưng đồng thời cũng là những tay phi phàm đạo đức và như thể  có thể lâu  dài hơn là di sản của họ. Những cam kết luân lý , đạo đức của họ  cảm hứng làm  Brilliant gia nhập Google, hầu họat động cùng họ .

      2- James Hansen, nhà  khí hậu học , giám đốc viện Goddard về Nghiên cứu Không gian. Chống cự lại Hâm nóng Tòan cầu

       Al Gore đã đọat giải Nobel nhờ giải thích  hâm nóng tòan cầu cho thế giới, nhưng  James Hansen  là một trong những người giải thích thay đổi khí hậu cho Al Gore .

        Năm 1981, Hansen, một nhà khí hậu học NASA,  đã lên tiếng báo động là thay đổi khí hậu sẽ gia tốc mau lẹ hơn là đã được tính toán.  Khi Bill Clinton và Al Gore còn ở tòa Bạch Ốc, Hansen đã viết báo về tai hại của các khí nhà kiếng, làm cho chánh phủ Hoa kỳ tóat mồ hôi. Dưới ảnh hưởng của George W . Bush, các chánh trị gia rất bực bội các bản báo cáo của ông, theo như Hansen tuyên bố, cho nên bị kiểm duyệt ngay tức khắc . Tuy nhiên, Hansen đã trở thành cố vấn khoa học cho Gore, khi cựu phó tổng thống xuống đường, trưng bày vấn đề này, và nay nhiều người xem Hansen như thể là kẻ hướng dẫn Gore .

            Thức tỉnh vì tiếng còi  nguyên thủy của Hansen, làm đảo ngược  khuynh hướng hâm nóng , nay đã trở thành phong trào dòng chánh , và  tất cả một khu vực của khoa học đã nhận được rất nhiều tài trợ.

            Nhà môi sinh học Bill McKibben, đại học Middleburu bình luận như sau:  mô hình computer của Hansen , giúp Hansen nói  không tí  chút  nào mù mờ , vào mùa xuân năm 1988,  là con người đang làm nóng hành tinh và đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng. Hansen luôn luôn muốn nói to câu chuyện , trong công chúng, không hề ngừng,  không né tránh, những gì công trình khoa học của Hansen có ý nghĩa cho hành tình .   

 

       3- Harold Varmus, cựu giám đốc, quán quân về chánh sách mở cửa  Các Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ, quán quân mở rộng- open access đường vào kiến thức, học hỏi

            Harold Varmus đã đọat giải Nobel , là một trong những động lưc thúc đẩy  của ngành khoa học y khoa, ngay cả trước khi ông cố tâm cách mạng hóa cách nào các nhà khoa học hoạt động .  Vào thập niên 1970, Varmus và đông nghiệp Michael Bishop khám phá  ra nguồn gốc tế bào của những gen virus ngược - retroviral genes gây ra ung thư, mở đầu  một thời đại mới về khảo cứu ung thư.

            Ở chánh quyền Clinton , Varmus lảnh đạo Các Viện Y Tế  Quốc Gia Hoa Kỳ - NIH  và biến các viện này  thành một trung tâm quyền lực y khoa sinh học. Bishop nhớ lại là khi làm giám đốc NIH, Harold đã cố gắng đạt sự hổ trợ cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ  cho khảo cứu y khoa sinh học. Và khoa học vững chắc luôn luôn ở  trọng tâm chương trình nghị sự.

            Thách thức  cuối cùng nhất cho Varmus  là một cố gắng  sửa chửa lớn hệ thống xuất bản  tập san khảo cứu , để cho mọi bài biết  đều tự do lưu hành trên Internet, thay vì phải đặt mua đắt tiền.  Như vậy giúp các nhà khảo cứu ở mọi đồng lương , bất cứ ở đâu trên thế giới , xây đắp một khối lớn kiến thức. Vận động  thị uy những cố gắng của Varmus. là Thư viện Công cọng  Khoa học và sổ phân công xuất bản hàn lâm, đã trở thành  một trong những nguồn trích dẫn ở khảo cứu hàn lâm và đã cảm hứng  nhiều người khác khắp thế giới, tiếp tục cuộc lảnh đạo này .

            4- J . Craig Venter , thiết lập viên Viện J. Craig Venter,  cách mạng hóa khoa học đời sống - life sciences

            Nếu táo bạo  khiến mọi việc được thực hiện,  L Craig  sẽ lấy làm sung sướng  chất đầy một cam nhông dữ liệu đưa vào la bô .  Hãy cố quên  những cọng tác cỗ truyền  và sự xây đắp chậm rì dữ liệu .Venter  đã nổi danh khởi đầu những công ty của ông  và đẩy tới theo một phương cách làm giới khoa học đã thành danh bực tức. Đó cũng là cách ông trở nên danh tiếng hơn nữa khi giải mã hệ gen con người , trên hẳn môt đạo quân khoa học quốc tế  chia sẽ thực hiện này , cách nào ông hy vọng hiểu biết  tất cả mọi  vi trùng đại dương ( xuyên qua  dự án Viễn chinh lấy Mẩu Đại dương Tòan cầu của ông )  và cách nào ông dự tính  tạo ra đời sống nhân tạo.  Nhờ thành công , nay Venter cảm hứng mọi người, từ các nhà đọat giải Nobel đến các giáo sư không nhiệm kỳ, để tung lên những khởi sự - start up  đưa vào dòng chánh cho khám phá và thu lượm lợi lộc dọc đường.

           Theo Huntington F. Willard , giám đốc Viện Khoa học Hệ Gen và Chánh sách , sự nghiệp của Venter  được định nghĩa bằng sáng tạo, can đảm , bất cần mọi ý nghĩ cỗ truyền. Cuối cùng , vuợt khỏi một lọat thành công đầu , ảnh hưởng của Venter sẽ được đánh dấu rỏ , khi các sinh viên cảm giác ngay, dù chỉ mo »i thọảng nghe đến công trình của ông. Đúng là tốt , khi táo bạo và thách thức  hiện trạng .

            Jay Keasling, giám đốc thiết lập ban sinh học tổng hợp tại La bô Quốc gia Lawrence Berkeley nói: Craig không sợ mơ tưởng và tư duy to lớn , rất to lớn. Đa số chúng ta bị gò ép khi suy nghĩ , đặc biệt ở kích thước lớn. Craig không đau khổ vì những gò ép giới hạn này. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa  là  ông đã có thể thực hiện những gì ông mơ tưởng .

5-      Bill Gates sáng lập Microsoft , Sức khỏe cho quốc gia chậm tiến, đang mở mang

Sau khi Bill Gates đặt đường rầy cho đương xe lữa PC , bùng nổ của  computer cá nhân  lôi  kéo dân gian xích lại gần nhau, một cách chưa bao giờ thấy . Chuyễn hướng này giúp Bill Gates  thấy rỏ ràng hơn, những  ai bị dính lại, bị bỏ rơi bên bờ mép nhọn .  Bill Gates cho rằng ông bạn tỉ phú đô la Warren Buffet đã cảm hứng ông , giúp Gates ôm chồm lấy công cuộc từ thiện.  Đây là lúc thiết lập Cơ quan Bill và Melinda Gates Foundation , một tổ chức từ thiện  giàu có nhất địa cầu.   Cơ quan tụ điểm trên  ý tế đặc biệt ở các nước đang mở mang và nhờ vậy Bill Gates trở thành  một lực lượng cũng to lớn như vài tổ chức y tế của chánh phủ Hoa Kỳ.  Cơ quan Gates đưa tới cách chửa trị  cho người nghèo, gồm luôn cả  phát tri n các vaccins mới cho ho lao , sốt rét và AIDS. 

            Stephen Blount , giám đốc  Cơ sở phối hợp  Y tế Tòan cầu ở các Trung tâm Kiểm sóat và Ngăn ngừa bệnh - CDC , nói :  nhờ tính hào phóng của Gates, thế giới đang tiếp tục  theo đuổi. Các dự án  y tế tòan cầu của Gates có sức hấp dẫn mạnh mẽ, theo lời Blount, khiến cho vài nhân viên kỳ cựu nhất của CDC  đã chịu nhận chức vụ ở Cơ quan Gates, khi họ nghĩ hưu.  Theo  Gates hướng dẫn ,  những tay cự phách nhất ngành công nghệ Hoa Kỳ,  nay thường xuyên cộng tác với những cơ sở quan trong nhất của chánh phủ Hoa Kỳ ;  đưa vào dòng chánh tiến trình hay bị thư lại và quan liêu làm trì trệ .                

 

                        ( Irvine, Ca Li ngày 1 tháng chạp năm 2008 )

  

Đã đăng:

Các bộ óc khoa học sáng tạo Hoa Kỳ năm 2008 (phần 1)

 

 

 

Trở về Trang Chính