|
Lẹt đẹt mãi vì chiến tranh, theo sau Thái Lan nhiều về sản xuất
ximăng vào năm 1995, nhưng nay đã đuổi kịp.
Tin tức mới cho biết Hảng Xi Măng Xiêm - Siam Cement Corp., hảng
công nghệ xi măng lớn nhất, chiếm 25 % tổng số sản xuất xi măng
Thái Lan sẽ khánh thành nhà máy xi măng Cam bốt tại tỉnh Kampot,
tên Việt là Cần Bột, trước đây đã đươc vua Cam bốt tặng cho chúa
Nguyễn qua trung gian của Mạc thiên Tứ (có khi ghi là Tích) mà
vì giữa thế kỷ thứ 19, vua Tự Đức đã phải trao trả lại cho Cam
Bốt, khi thực dân Pháp tấn công chiếm Lục Tỉnh - Nam kỳ. Kampot
kế cận Hà Tiên. Đây là nhà máy xi măng tân tiến Thái Lan đầu tư
3.5 tỉ bath (tiền tệ Thái), trên 100 triệu đô la Mỹ, dư trù
sản xuất 2.4 triệu tấn xi măng một năm, khởi đầu sản xuất giai
đọan I vào năm 2009. Tưởng nên nhắc thêm là tổ hợp Xi Măng Siam
cũng đã góp phần đầu tư vào hai nhà máy xi măng ở Việt Nam.
Như Việt Nam Cộng Hòa đầu thập niên 1960, muốn khởi sự công
nghiệp hóa miền Nam, lập dự án xây cất nhà máy xi măng cận đại
ở Kiên Lương – Hà Tiên, Thái Lan cũng bắt đầu xây dựng công nghệ
hóa xứ sở, các năm 1960- 62, trong đó có công nghệ sản xuất xi
măng. Nhưng mãi đến năm 1972 mới đề cao chánh sách mới làm công
nghệ hướng về xuất khẩu, thay cho đường hướng công nghệ hóa thay
thế hàng hóa nhập khẩu, các nhà kinh tế học đề xướng ở các nước
chậm tiến, đang mở mang vừa thu hồi nền độc lập, sau thế chiến
thứ II. Năm 1975, Thái Lan đã bắt đầu trở thành nước xuất khẩu
xi măng nhưng đến năm 1982, mới thật sự xuất khẩu nhiều. Mức sản
xuất xi măng ở Thái Lan năm 1986 là 7.9 triệu tấn; năm 1995 là
34 triệu tấn. Những năm kế tiếp bị ảnh hưởng khủng hoảng tiền tệ
Á Châu, sản xuất xi măng Thái cũng giảm mạnh, như ở nhiều nước
Đông Nam Á. Đến năm 2000, mới phục hồi kinh tế, mức sản xuất xi
măng lên lại đạt 25.5 triệu tấn. Năm 2001 đạt 28 triệu tấn…
Để so sánh, sau thời kỳ "đổi mới " kinh tế, năm 1995, Việt Nam
chỉ sản xuất được 5.8 triệu tấn, thua kém cả mức sản xuất Thái
Lan 10 năm trước, năm 1986, là 7.9 triệu tấn. Thế nhưng thay vì
sản xuất giảm ở nhiều quốc gia Đông Nam Á (Thái Lan, Mã Lai,
Indonêxia và Phi Luật Tân.) kể từ năm 1997, xi măng Việt Nam vẫn
tăng gia đều đều mỗi năm ở thời kỳ khủng hoảng tiền tệ Á Châu.
Sở dĩ như vậy, vì tư bản ngọai quốc đầu tư vào công nghệ xi măng
Việt Nam chỉ khỏang 30%, trong khi ở Inđônexia là 98.4%, Thái
Lan là 56 %, Mã Lai Á là 48%.
Một khi có khủng hỏang, tư bản ngọai quốc ngưng bớt sản xuất
hay đóng cửa, bán rẻ nhà máy.
Năm 2000, Việt Nam sản xuất 13.3 triêu tấn; năm 2001, 16.1 triệu
tấn; năm 2002 là 19.5 triệu tấn. Theo tài liệu Hội Quốc Gia Xi
Măng Việt Nam VINACA (Việt Nam National Cement Association), sản
xuất tăng mạnh những năm kế tiếp, đạt 23 triệu tấn năm 2003;
25.7 triệu tấn năm 2004, 29 triệu tấn năm 2005; 32.4 triệu tấn
năm 2006, gia tăng 9.5 % so với năm trước và hy vọng gia tăng 11
% mỗi năm cho đến năm 2010, sẽ đạt mức dự trù là 60 triệu tấn.
Yêu cầu xi măng trong nước năm 2005 là 29 triệu tấn, bằng mức
cung sản xuất và ước luợng mức cầu vào năm 2010 là 46.8 triệu
tấn. Như vây sẽ phải xuất khẩu 12 – 13 triệu tấn. Yêu cầu
nội địa cũng ước lượng chỉ là 65 triệu năm 2015 và 68 -70 triệu
năm 2020. Do đó phải tiếp tục xuất khẩu, Xi măng Việt Nam phải
cạnh tranh trên phương diện gíá cả, lẫn phẩm giá với các nước Á
Đông đã và đang xuất khẩu. Đặc biệt ở Lào và Cam bốt với xi
măng Thái Lan hay Trung Quốc.
Thóang qua mức sản xuất xi măng ở hai nước Việt Nam cần cạnh
tranh xuất khẩu tương lai.
Năm 1998, Trung Quốc đã đứng hạng nhất thế giới, sản xuất 495
triệu tấn xi măng. Trung Quốc cũng dự liệu phế thải hay tân
trang 250 triệu tấn nhà máy xi măng xấu, kỹ thuật xưa cổ và công
xuất nhỏ. Năm 2005, Trung Quốc đã sản xuất 1.064 tỉ tấn xi măng
trong khi cả thế giới chỉ sản xuất 2.27 tỉ tấn. Mức sản xuất dự
trù sẽ gia tăng 9- 10% mỗi năm cho đến năm 2010. Điều đáng chú
ý là năm 2006, Trung Quốc có đến 6000 xí nghiệp sản xuất xi
măng, nhưng 80 % sản xuất các xi măng thuộc lọai tiêu chuẩn thấp
kém.
Năm 1998, Nhật đứng thứ hai, 91 triệu tấn, nhưng sau thập niên
1990, sản xuất Nhật có phần co lại. Ấn Độ thứ ba 85 triệu tấn
vào năm 1998, nhưng năm 2007, Ấn Độ đã vượt lên hàng thứ hai,
chỉ sau Trung Quốc, hơn Hoa Kỳ và Nhật bổn. Công suất đã thiết
kế ở Ấn Độ hiện nay gồm130 nhà máy lớn là 163.45 triệu tấn và
332 nhà máy nhỏ là 11.10 triệu tấn. Mức sản xuất thực sự của
các nhà máy lớn là 117 triệu tấn và đã xuất khẩu 6-7 triệu tấn
xi măng và clinker. Hàn Quốc (Nam Hàn) cũng đã sản xuất 59 triệu
tấn năm 1998. Kế đến là Thái Lan 34 triệu, Inđônêxia 23 triệu,
Đài Loan 22 triệu, Pháp 19 triệu ….
Những vùng sản xuất xi măng ở Việt Nam
Nguyên liệu trước tiên chế biến ra xi măng là đá vôi. Và vùng đá
vôi phải rộng lớn, đủ cung cấp nguyên liệu này ít nhất trong
vòng 20 -25 năm cho một nhà máy công xuất dưới 2000 t/ ngày và
30 năm cho một nhà máy công suất trên 3000 t/ngày. Một nhà máy,
Nhật thiết lập năm 1986 ở Hồi Quốc – Pakistan , công suất điển
hình 5000 t/ ngày một năm sản xuất 1.8 triệu tấn xi măng và nếu
công suất là 6700 t/ngày sản xuất lên đến 2.4 triệu tấn. Đất
sét chứa kim lọai thích nghi cũng là mộtthành phần nguyên liệu
phụ quan trọng, kế cận vùng đá vôi sẽ giảm được phí tổn chuyên
chở và nếu có mỏ thạch cao gần đó thì lại càng tốt.
Thạch cao- gypsum là nguyên liệu phụ sản xuất xi măng trắng-
white cement. Hình như nhà máy Kampot dự trù sử dụng 54.000 tấn
thạch cao một năm.
Việt Nam có 8 vùng đá vôi phân bố rộng (năm 1998, tài liệu kinh
tế trong nước chỉ ghi 4 vùng ) là:
• Vùng núi đá vôi Quảng Ninh- Hạ Long. Vùng đá vôi này gần Hải
Phòng ở Tràng Kênh, lại có đất sét thích nghi; cho nên vào thời
Pháp thuộc đã thiết lập nhà máy xi măng Hải Phòng. Nay đã mở
rộng thêm nhiều với công suất 2.4 triệu tấn /năm. Năm 1998, xây
dựng cụm nhà máy Hòanh Bồ (Quảng Ninh), công suất chung 4.5
triệu tấn /năm.
• Vùng núi Hải Phòng, Hải Dương. Nhà máy Phúc Sơn (Hải Dương)
công suất 2 triệu tấn /năm.
• Vùng Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Thanh Hóa. Nhà
máy Bút Sơn (Hà Nam) công suất 1.4 triêu tấn /năm. Nhà máy Tam
Điệp (Ninh Bình) công suất 1.4 triệu tấn / năm.
• Vùng Nam Thanh Hóa, Nghệ An. Nhà máy Bỉm Sơn sẽ mở rộng tăng
công suất và nhà máy Hòang Thạch đã tăng công suất (Hòang Thạch
II). Nhà máy Hòang Mai ,ở Nghệ An, thiết lập từ năm 1995, nay
có công suất 1.4 triệu tấn / năm.
• Vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế. Nhà máy xi măng
Văn Xá Lukvasi chỉ có công suất năm 2000 khỏang 500 000 t/ năm,
nay đã thiết lập tổ máy thứ tư, đưa công suất lên 1.2 triệu tấn/
năm.
• Vùng Quảng Nam -Đà Nẳng
• Vùng Tây Ninh, Bình Phước. Nhà máy Tây Ninh có công suất 1.4
triệu tấn/ năm.
• Vùng Kiên Giang có Hà Tiên II, công suất 1.26 triệu tấn/ năm,
ở quận Kiên Lương .
Các nhà máy mới đang xây cất đã thỏa mãn yêu cầu xi măng nội địa
và có thể gây thặng dư nhiều vào năm 2010. Tháng 5/ 2008, chánh
phủ Việt Nam yêu cầu địa phương không cấp môn bài cho phép làm
thêm các dự án mới sản xuất xi măng nữa, cho đến năm 2025 mới
xét lại, ở các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Hòa Bình, Hải Dương, Bắc
Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái và Hải Phòng.
Tuy nhiên đến cuối năm 2008, Việt Nam cũng sẽ thiết lập xong
thêm một dung lượng tổng cộng trên 7 triệu tấn ở các nhà máy
Công Thành, Luckvasi Văn Xá, Thăng Long, Tây Ninh, Chinfon
(Chinh Phong Đài Loan), Hải Phòng, Hòang Long và Tuyên Quang.
Công suất nhà máy Công Thành, trung tâm tỉnh Thanh Hóa là 0.91
triệu tấn / năm, đã họat động tháng 5 năm 2008. Nhà máy Lukvasi
Văn xá Thừa Thiên sẽ làm xong nhà máy thứ tư, công xuất 1.2
triệu tấn/ năm. Nhà máy Thăng Long ở Quảng Ninh cũng sẽ xong vào
tháng 6 năm 2008, công suất 2.3 triệu tấn. Nhà máy Hòang Long.
phía Bắc tỉnh Hà Nam, công suất 350.000 tấn một năm và nhà máy
Tuyên Quang 250.000 tấn / năm, sẽ xong vào tháng 7 năm 2008. Nhà
máy Tây Ninh công xuất 1.4 triệu tấn sẽ xong tháng 10/ 2008 cũng
như nhà máy Chinfon Hải Phòng công xuất 1.4 triệu tấn. Ngòai ra
phải kể đến 17 dự án nhà máy xi măng, tổng công xuất 19,42
triệu tấn, sẽ họat động năm 2009, 18 dự án nhà máy khác cũng sẽ
họat động vào năm 2010, biến Việt Nam thành một nước thặng dư xi
măng, như đã kể trên. Một bước tiến công nghệ hóa xứ sở đáng
kể. Nhưng thặng dư sẽ gây nhiều khó khăn cho Việt Nam, vì phải
tranh giành thị trường xuất khẩu với các nước Á Châu, đặc biệt
với Trung Quốc, đang canh tân hóa 250 triệu ximăng nội địa, kỹ
thuật cũ, thấp kém, công suất nhỏ như đã kể trên và đang tung
xi măng bán rẻ ở nhiều nước trên thế giới.
Giai đọan cũng cố, cận đại tân tiến hóa hầu cạnh tranh thắng
lợi tương lai?
Phải
tân tiến hóa kỷ thuật sản xuất, chế tạo xi măng đặc biệt thay
thế theo chiều hướng thị trường, củng cố hay đảo thải các nhà
máy cở quá nhỏ, cải thiện chuyên chở và khai thác các nguyên
liệu liên quan đến sản xuất xi măng, thay thiết bị cổ lỗ xĩ bằng
các thiết bị tân tiến, giảm bớt tiêu thụ nhiên liệu, bớt bụi
nguyên liệu, lò đốt tân tiến, kiểm sóat phát thải khí ô nhiễm,
tự động hóa, tăng cường năng suất lao động và các điều kiện sản
xuất ở những vị trí địa phương.
Tiến trình khái quát chế tạo xi măng là đập đá vôi- crusher,
nghiền nát – grinder đốt vật liệu nghiền ở lò đốt - kiln ,để
sản xuất ra clinker rồi thêm vào clinker các chất phụ, nghiền
nát thành xi măng.
Trung bình một ki lô CaCO3 cho 0.56 kg CaO và 0. 44 kg CO2.
Clinker chứa trung bình 64- 67% CaO ( cộng thêm iron oxide,
aluminium oxide v.v… ) . Làm clinker cần trộn hóa học đá phiến
lớp – diệp thạch, cát, đá quặng sắt và đá vôi… đưa vào lò đốt
đến 1.500 độ Celsius .
Vì không có đường rầy xe lửa tốt đẹp chuyển tải vật liệu đến nhà
máy và clinker xi măng như ở bang Gujarat, bang sản xuất nhiều
xi măng nhất Ấn Độ, Bộ Công nghệ Việt Nam khuyến cáo là nhà máy
xi măng phải kế cận các đường chuyên chở sông hay biển. Ước
lượng chuyên chở thủy vận xi măng khỏang 5- 6 triệu tấn mỗi năm,
vào năm 2010. Nhất là khi các tỉnh Nam Bộ chưa sản xuất đủ yêu
cầu lớn của thị trường thành phố Sài Gòn và đồng bằng Sông Củu
Long, còn phải nhập thêm clinker từ các nhà máy miền Bắc hay từ
Thái Lan. Việc thiết lập nhà máy Tây Ninh và tăng cường dung
lượng nhà máy Hà Tiên (Hà Tiên 2) sẽ chấm dứt tình
trạng này.
4 điểm chánh cần tân tiến hóa
Theo VINACA (tổ hợp quốc doanh chiếm gần phân nữa tổng số sản
xuất xi măng Việt Nam), 4 điểm chánh cần tân trang ở các nhà máy
xi măng nhà nước là: mức hữu hiệu năng lượng dùng, làm điện năng
từ nhiệt lượng, thay đổi nhiên liệu, thay đổi cách trộn.
Việt Nam đã thay các lò thổi cao – blast furnace hiệu năng kém,
qua lò đảo ngược được – reverter furnace. Năm 2007 Việt Nam đã
thiết kế 31 lò đảo ngược, tổng công suất nhà máy sử dụng lọai lò
tân tiến này là 39 triệu tấn. Năm 2010 sẽ thêm 45 lò đảo ngược
nữa. Tuy nhiên cũng còn đến năm 2010, 6 triệu tấn xi măng các
nhà máy nhỏ độc lập nghiền xi măng và 3 triệu tấn xi măng còn
chạy bằng lò thổi cao, ít hửu hiệu.
Xi măng Portland thường chứa 95 % clinker và 20-40 % phí tổn sản
xuất là sử dụng năng lượng. Đến năm 2002, hầu hết các nhà máy
xi măng Nhật, Hàn Quốc chạy bằng than đá, thay vì 58% ở Hoa Kỳ
và 48% ở Hiệp hội Âu Châu.
Một hướng cải thiện khác là dùng lò đốt quay –rotary kiln thay
cho lò đốt trục thẳng - shaft kiln . Việt Nam hy vọng đến 2020,
bải bỏ được hoàn toàn lò đốt trục thẳng ít hửu hiệu. Cũng như áp
dụng chế biến xi măng theo tiến trình khô - hửu hiệu nhất hiện
nay – efficient dry
process, thay cho các tiến trình nửa khô – semi dry, hay tiến
trình ướt – wet process. Và sử dụng những nguồn nguyên liệu phụ
khác (tỉ như các phế thải công nghệ luyên sắt thép, kim khí
v.v…, chế tạo các xi măng đặc biệt hay hạ phí tổn sản xuất. Các
vấn đề môi sinh: phế
thải các khí độc hại ( NOx ) hay khí nhà kiếng ( CO2 ...), bụi
bặm – dust , tiếng ồn ào quá đáng – noise cũng đang được các
quản lý nhà máy Việt Nam lưu tâm, tìm cách giải quyết thích
đáng.
Những tổ hợp công ty lớn thế giới Lafarge – Pháp, Heidelberg –
Đức, Holcim – Thụy Sĩ, Italcementi – Ý, Taihheiyo Co. Nhật,
RMC – Anh Quốc , Cemex – Mehicô …., hình như đều có mặt, muốn
cộng tác cùng các công ty quốc doanh , hợp doanh hay tư nhân xi
măng Viêt Nam, nên Việt Nam có đủ cơ hội cùng họ thương lượng áp
dụng các tiến triển mới hay nhờ họ huấn luyện cập nhật mọi
phương pháp sản xuất, chuyên chỏ, khai thác nguyên liệu, tự đông
hóa tiến trình…, có khi ngay cả chế tạo những thay thế xi măng –
substituted cements đang thành hình ..
( Ca Li, tháng 6 năm 2008)
Trở về Trang Chính
|