Biết thêm đôi chút về “Xứ Lạng“ - Lạng Sơn


 

GS Tôn Thất Trình

E-Mail: tonthattrinh@khoahoc.net

29 tháng 01 năm 2009

                                                 Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

                                         Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

                                               Ai lên xứ Lạng cùng Anh,

                                           Bỏ công bác mẹ sinh  thành ra em

 

           Lạng Sơn là một tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, biên giới với tỉnh Quảng Tây , Trung Quốc phía Đông Bắc ranh giới dài 253 Km. Là cửa ngõ phía Bắc nước Việt Nam , vị trí địa lý và chính trị quan trọng, trên tuyến biên giới với Trung Quốc có 2 cửa khẩu quốc tế ( cửa khẩu xe lữa là Đồng Đăng và cửa khẩu đường bộ là Hửu Nghị), 2 cửa khẩu quốc gia (  Chi Ma ở huyện Lộc Bình  và Bình Nghi ở huyện Tràng Định ) và 7 cặp  chợ đường biên giới, giao lưu kinh tế sôi đông .

            Ngay từ thời Hùng Vương , nước ta có 15 bộ, trong đó có bộ Lục Hải và  Lạng Sơn nằm trong bộ Lục Hải này. Vào đời  nhà Trần, gọi là lộ Lạng Giang; năm 1437 đổi làm trấn Lạng Giang, năm 1466 đặt tên làm thừa tuyên Lạng Sơn. Năm 1940  đổi làm xứ Lạng Sơn. Năm 1509 đổi làm trấn Lạng Sơn. Thời vua Minh Mạng, năm 1831 đổi làm tỉnh Lạng Sơn.  Tháng 12 năm 1975 , Lạng Sơn và Cao Bằng hợp nhất  thành tỉnh Cao Lạng . Tháng 12 năm 1978, lại tách ra làm hai tỉnh: Lạng Sơn và Cao Bằng .

 

             Hành chánh và dân cư

Diện tích hiện nay là 8 331.2  km2 , gồm  1 thị xã tên là  thị xã Lạng Sơn, 10 huyện ( Tràng Định, thị trấn là Thất Khê ;Văn Lãng, thị trấn là Na Sầm; Bình Gia, thị trấn là Bình Gia; Bắc Sơn, thị trấn là Bắc Sơn; Văn Quan, thị trấn là Văn Quan; Cao Lộc, có 2 thị trấn Đồng Đăng và Cao Lộc; Lộc Bình  có hai thị trấn là Na Dương và Lộc Bình;  Chi Lăng , có hai thị trấn là Đồng Mỏ và Chi Lăng; Đình Lập cũng có 2 thị trấn là Thái Bình và Đình Lập; Hửu Lũng,  thị trấn là Hửu Lũng.

            Dân số năm 1989, chỉ có 611 015 người, năm 1999 là 704 642 người và năm 2006 là 746 400 người.  Lạng Sơn là cư trú của cộng đồng các dân tộc miền Bắc. Đông nhất là người Nùng , Tày,  Kinh, Dao , Hoa, Sán Chay , H’Mông - Mèo… Tài liệu điều tra  năm 1999, cho thấy tộc dân Nùng chiếm 43,9 % tổng số dân, tiếp theo là tộc dân Tày ( 35.6% ), tộc dân Kinh (15.3%), tộc dân Dao ( 3.5% ),  tộc dân Hoa ( 0,4 % ), tộc dân H’Mông ( 0,2 5 ), còn lại là các tộc dân Thái, Mường , Sán Dìu …

            Tộc dân Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -Thái, làm ruộng nước thành thạo như ngưòi Việt ( Kinh ) và người Tày, nhưng địa bàn cư trú của họ là khu vực chuyễn tiếp  giữa vùng thấp và vùng cao . Ruộng nước ít , nên nương rẫy và hệ thống  ruộng bậc thang đóng  vai trò quan trọng  trong sản xuất nông nghiệp.  Người Nùng còn biết làm một số nghề thủ công  như dệt, nhuộm vải , rèn đúc, đan lát , làm ngói máng ( ngói âm dương ). Chúng ta thường cho  tộc dân Nùng là một khối ngôn ngữ kết dính, nhưng thật ra  tộc dân Nùng , theo Beth Nicolson  ( 1998) và viện Dân tộc Học miền Bắc ( 1979 ), chia ra  12 nhóm  biệt danh, tỉ như Nùng Cháo, Nùng Inh , Nùng Hù Lai… Rất nhiều biệt danh này  lấy tên từ các vùng Trung Quốc, trước khi họ di cư sang Việt Nam, đã hơn 10 thế hệ, khỏang 300- 400 năm  nay rồi. Tỉ như  Nùng Cháo  từ Long Châu ( Longzhou ) ; Nùng Phàn Slình  từ Vạn Trần Châu ( Wanchenzhou ); Nùng Inh  từ Long Yên ( ? ) Châu ( Longyinzhou ) ;  Nùng Ân từ Ân Kết ( Anjiwezhou ). Khi nói chuyên , có khi  họ không hiểu nhau, phải dùng tiếng Việt , như  khi các tộc dân Nùng  phụ Cháo, Inh , Phàn Slình,  nói chuyện với Nùng Ân.       

          Địa bàn cư trú của tộc dân Tày ( Tổng bí thư đảng Cọng Sản V. N.  hiện nay Nông Đức Mạnh thuộc tộc dân Tày )  là các thung lũng có nhiều  đồng ruộng như lòng chảo Thất Khê, Bắc Sơn, Bình Gia hay ở một số huyện Lộc Bình, Chi Lăng… Ngòai kinh nghiệm canh tác ruộng nước không thua kém tộc dân Kinh , người Tày còn thạo trồng cây công nghiệp như trồng hồi (anis tree - illicium verum ), thuốc lá, ưom tơ, dệt lụa, nuôi vịt, đào ao thả cá , thủ công bàn ghế tre, trúc .  Từ thời Hùng Vương đã có  sự liên minh  giữa người Việt cỗ và người Tày cỗ Tộc dân Tày tiếp thu nhanh chóng văn hóa , phát triễn kinh tế  tộc dân Kinh

       Tộc dân Kinh ( Việt ) đứng hàng thứ ba. Nhóm Kinh  cư dân đầu tiên của tỉnh, có nguồn gốc con cháu nhà Mạc hay những tù nhân lưu đày, con cháu các phiên thần quan lại . Nhóm thứ hai  là người Kinh  lên Lạng Sơn khai hoang  do miền Bắc phát động vào thập niên 1960. Họ có mặt ở hầu hết  các huyện thị trong tỉnh , nhưng tập trung hơn cả ở  các vùng thấp như thị xã Lạng Sơn, các huyện Hửu Lũng  và Chi Lăng.

        Địa bàn cư trú tộc dân Dao  ( Mán ) là những vùng đồi núi  gần nơi có nước hoặc có điều kiện dẫn nước về bản . Trước đây  hình thức canh tác của họ  là du canh, du cư . Nhưng nay  họ tiếp thu nhiều nét tiến bộ, chuyễn dần sang định canh, định cư, nhưng với trang trại quy mô nhỏ. Tộc dân Dao , cũng tộc dân láng giềng H’Mông ( Mèo  ), di cư từ vùng Tây Nam Trung Quốc ( Tứ Xuyên, Qúi Châu ) xuống  Việt Nam , có lẽ từ thế kỷ thứ 13, thường sống ở cao độ  800- 1500m., những cao độ này nhiều ở các tỉnh Hà Giang , Tuyên Quuang, Cao Bằng hơn là Lạng Sơn.

            Một đặc điểm khác là từ năm 1954 cho đến nay hai tộc dân Tày và Nùng , có khi cả Dao nữa, đã có mặt ở  các vùng đồi núi Tây Nguyên, ngay cả ở đồng  bàng duyên hải Miền Trung ( Sông Lũy , sông Mao - Bình Thuận  ), Cà Mau ? ( Cái Nước, Đầm Dơi ? )   v.v…

 

            Địa hình

            Lạng Sơn là một tỉnh miền đồi núi, địa thế tương đối thấp. Độ cao trung bình tòan tỉnh là 252m so với mức nước biển. Nơi thấp nhất chỉ cao 20m, ở phía nam huyện Hửu Lũng, trên thung lũng sông Thương. Nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè, thuộc khối núi Mẩu Sơn, cao 1541m. Đại thể, Lạng Sơn chia ra làm 3 khu vực cơ bản. Vùng đá vôi cánh cung Bắc Sơn, chiếm 25% diện tích tòan tỉnh ở phía Tây Nam, gồm các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Hửu Lũng, Chi Lăng và Văn Quan.  Độ cao trung bình là 400- 500m. Vùng đá vôi đang diễn ra qúa trình cácxtơ hóa. Khó khăn lớn nhất là  thiếu nước trên mặt cho  sinh họat và nông nghiệp, ngòai các cánh đồng ngọai vi cácxtơ  rộng lớn như Chi Lăng , Mẹt ( Hửu lũng ), Phổng, dân cư đông đúc và nông nghiệp phát triễn. Vùng đồi núi tả ngạn sông Kỳ Cùng và dọc thung lũng sông Thương, chiếm 40% diện tích tòan tỉnh. Núi thấp và đồi, cấu tạo chủ yếu là đá trầm tích lục nguyên, xen lẫn một ít đá magma. Phía Tây Bắc là 700- 800m ( đỉnh Phia Ngòam cao 1175m , đỉnh Khau Khiêng cao 1107m ). Ở giữa, cao 500- 600m. Phía Nam thuộc huyện Hửu Lũng,  chỉ cao trung bình 200- 300m.Vùng máng trủng Thất Khê - Lộc Bình và đồi núi dọc biên giới Việt Trung, nằm phía Đông Bắc tỉnh, chiếm 35%  diện tích tự nhiên. Rất nhiều địa danh nổi tiếng lịch sử Việt, ca  dao cũng như cảnh quan hùng vĩ, hang động đẹp, nhiều giá trị du lịch và nghĩ dưỡng, thuộc vùng này.

 

            Khí hậu

            Tuy Lạng Sơn nằm  hòan tòan trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng nhờ cao độ trung bình tòan tỉnh là 252m,  lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc , nên mang tính chất khí hậu á ( bán ) nhiệt đới. Lượng mưa 1400- 1500mm , số ngày mưa 135, ẩm độ trung bình trên 82%. Nhiệt độ trung bình 21, 2C , trung bình mùa đông từ 13- 17 0 C , nhưng nhiệt độ  tối thấp ở vùng núi Mẩu Sơn  có thể xuống dưới 50 C, có khi dưới O0 C. Vị trí, địa hình Lạng Sơn duy trì khá lâu khối khí lạnh, giúp các  cây đào  lông, lê , mận tây thỏa mãn nhu cầu lạnh các cây này ;đậu trái, tăng trưởng tốt hơn khí hậu Đà Lạt - Lâm Đồng, nhưng  vẫn chưa đủ lạnh cho cây anh đào - cerisier , cherry  ra trái đẹp dẻ,  ít nhất là các giống trái anh đào hiện tại . Về mùa hạ, nhiệt độ không khí trung bình đều trên 250 C , nhưng  vùng núi , khí hậu mát mẽ dịu hơn.  Lạng Sơn ít chịu ảnh hưởng của bảo, nhưng thời tiết tạo sương muối, sương mù và mưa phùn. Sương muối gây thiệt hại lớn cho  cây trồng và vật nuôi .  

 

Thủy Văn

           Tỉnh Lạng Sơn có 3 hệ thống sông chính : sông Kỳ Cùng  thuộc hệ thống sông Tây Giang, Quảng Tây ), sông Thương  và sông Lục Nam, thuộc hệ thống  sông Thái Bình . 

              Sông Kỳ Cùng là sông lớn nhất tỉnh Lạng Sơn và khu vực miền núi Đông Bắc. Chiều dài trong Việt Nam là 243 km . Diện tích lưu vực là 6660km2 , phần nội tỉnh là 6532 km2 , chiếm gần 80% diện tích tự nhiên của tỉnh. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa, huyện Đình Lập cao 1166m, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, qua các huyện Lộc Bình, Cao Lộc, thị xã Lạng Sơn, Văn Lãng đến bản Trại huyện Tràng Định,   rồi đổi sang hướng đông, chảy vào lưu vực sông Tây Giang, Quảng Tây. Các nhánh sông lớn là Bắc Giang, Bắc Khê và Ba Thìn. Sông Bắc Giang dài 114km, diện tích lưu vực là 2670km2 , bắt nguồn từ đèo Gió thuộc tỉnh Bắc Cạn, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đổ vào bờ tả sông Kỳ Cùng ở xã Hùng Việt, huyện Tràng Định. Phụ lưu lớn thứ hai của sông Kỳ Cùng là sông Bắc Khê, chỉ dài 54 km, lưu vực nhỏ 801 km2 , bắt nguồn tgừ xã Cao Minh,  huyện Tràng Định ,chảy gần như song song với sông Bắc Giang,  rồi đổ vào bờ tả sông Kỳ Cùng ở xã Đại Đồng , huyện Tràng Đinh. Sông Ba Thìn dài 52 km , lưu vực 320 km2 , bắt nguồn từ vùng núi Bản Xung, tỉnh Qủang Tây, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đổ vào bờ hửu sông Kỳ Cùng  ở huyện Lộc Bình.

            Sông  Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn,  chiều dài 157km, đọan chảy qua Lạng Sơn dài 70km, ở phần thượng và trung lưu. Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước, huyện Chi Lăng ở cao độ 600m, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam  rồi vào tỉnh Bắc Giang tại xã Hòa Thắng, huyện Hửu Lũng. Sông Trung, một phụ lưu của   sông Thương,  dài 65 km, lưu vực rộng 1270km2, bắt nguồn từ vùng núi Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, đổ vào hửu ngạn sông Thương tại Na Hoa, huyện Hửu Lũng. Sông Hóa, dài  47km, diện tích lưu vực 385km2 ,  nhập vào  tả ngạn sông Thương ở xã Hòa Lạc , huyện Hửu Lũng .

            Sông Lục Nam, ở thượng nguồn tên là Lục Ngạn, bắt nguồn từ  vùng núi Kham Sau Chôm, cao 700m, thuộc huyện Đình Lập, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, rồi chảy vào tỉnh Bắc Giang. Chiều dài ở tỉnh Lạng Sơn chỉ là 28km, diện tích lưu vực 642 km2.  Ở phần thượng nguồn lòng sông hẹp, uốn khúc, nhiều ghềnh tháp, độ dốc lớn .

          Vài sông ngắn khác ở Lạng Sơn là sông Nà Làng, sông Phố Cũ, sông Đồng Qui.

          Tổng  lượng nước hàng năm  các sông ước lượng 5, 9 tỉ m3 , nhưng chưa hòan tòan khai thác tưới tiêu, cung cấp nước, điện  đầy đủ cho tỉnh nhà. 

 

            Địa danh, thắng cảnh ca dao, lịch sử Lạng Sơn

            Tài nguyên du lịch thiên nhiên là các khu danh thắng  Nhị -Tam Thanh,  Mẩu Sơn, rừng Hửu Liên, hệ thống 92 hang động cáxtơ , chiều dài 13 560m , tập trung ở huyện Hửu Lũng ( hang Cả và hang Dơi ), Bình Gia ( hang Bắc Nguồm, hang Ông Việt ) , Bắc Sơn  ( hang Bông Hiên, Thẩm Oay, Mỏ Nghiên  ) và huyện Chi Lăng ( hang Canh Tẻo, Đồng Mỏ  và đặc biệt là hang Gió mới phát hiện năm 1999 ). Rừng ngập nước  trên núi cao,  rộng 3500 ha có thể là một tài nguyên du lịch sinh thái , cũng như  các khu bảo tồn  thiên nhiên, nhất là dông vật hiếm qúi Hửu Liên ( huyện Hủu Lũng )m và MO/ Rẹ ( huyện Bắc Sơn  như khỉ vàng b, khỉ bạc má , vượn đen , vượn vàng, cu li, sóc , gà lôi trắng , hồng hòang, gà tím, trĩ …

            Thắng cảnh ca dao “ Chùa Tam Thanh “  có tượng Phật trong  động Tam Thanh , cách thị xã chừng 1 km. Thật ra động Tam Thanh gồm ba động, Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh. Tam Thanh nổi tiếng hơn hết  ở cuối Tây phố Kỳ Lừa . Động Tam Thanh giống như  một voi phục trong đồng cỏ hòa bản  rộng. Cửa vào hang động  chỉ cao hơn chân núi 8m , bị  tàn cây cao lớn che phủ tất cả ánh sáng . Trên vách cao bên phải cửa vào  có  khắc một bài thơ của hòang giáp Ngô Thì Sĩ ( 1726- 1780 ) một thi sĩ, tài cao dức ( nhân cách  ) trọng, cùng thời với nhà thơ bác học Lê Qúi Đôn ( 1726- 1784 ),  lúc Ngô Thì Sĩ làm đốc trấn ( tỉnh trưởng  quân sự) Lạng Sơn, ca tụng vẻ đẹp hùng vĩ của  đồi núi này, đặc biệt là tiếng nước róc rách êm dịu  trên đá. Gần đó là hòn Vọng Phu, Tô Thị ( ? ) chờ chồng . Chính Ngô Thì Sĩ đã  khám phá ra động Nhị Thanh, tên ông đặt ra để nhớ đến sinh quán  làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông còn cho khắc hình ông trên vách đá Nhị Thanh.

            Mẩu Sơn là đỉnh núi cao nhất tỉnh nhà, gió hú, mây trôi thấp lưng chừng đồi,  tuồng như trời cao ở  ngay tầm tay, cảnh quan như một bức tranh thủy mạc Trung Hoa cỗ .Phía bắc Mẩu Sơn là  Ninh Minh Trung Quảng Tây , phía đông là Na Dương thành phố bụi bặm than nâu, phía tây là thị trấn Đồng Đăng , tất cả  hội nhập thành một  cảng quan lạ lùng . Mẩu Sơn  cách thị xã Lạng Sơn 30k . Đường lên núi ngoằn ngoèo như rắn uốn khúc giữa lòng  hai vực núi sâu; thỉnh thỏang vài cô gái  Dao mặc áo quần cỗ truyền să/c sở, miệng cười tươi thắm phất cờ, mong đựợc chở đi một đọan đường núi.  Cách đây 70 năm, chưa có đường này, lên Mẩu Sơn phải leo bộ hay trên  lưng ngựa. Mẩu Sơn lúc đó được nguời Pháp chú ý làm nơi nghĩ dưỡng  vì không khí mát lạnh quanh năm  và phía  Đông Bắc là cửa ngõ sang Tàu, Pháp thiết lập một căn cứ quân sự ở đây  vào đầu thế kỹ thứ 20, để canh giữ biên phòng . Dân địa phương thuôc tộc dân Dao ( Mán ) được di dời để quân binh Pháp cư trú.  Ai có giấy phép đăc biệt mới đượcvào căn cứ  Pháp.Tuy nhiên sau đó, du khách được đón mời thăm viếng. Tháng giêng năm 1936,  bác sĩ O. Pflot, môn đệ cuủa bác sĩ vi trùng học danh vang thế giớiYersin, đến Mẩu Sơn tìm cây cỏ làm thuốc đông y,  vài lòai  được dân địa phương khai thác, trồng trọt. Cũng năm đó, ông được phép  thống  sứ- governor miền Bắc là Thorace  cho xây cất nhiều  biệt thự - villas  Đón du khách. Không có lò gạch quanh vùng, Pflot dùng đá làm vật liệu xây dựng  Nay còn phân biệt được các  tầng lầu điêu tàn,  nền móng bẩn màu vàng rêu phủ xanh, nơi nào là nhà bếp, lò sưởi,  nơi nào là các bậc thang cấp. Trong gần 50 năm , như nàng công chúa  giấc nồng ngũ  say, không ai biết đến.  Năm 1987, xe mô tô cũng không được phép chạy đường lên  núi. Nay thì du khách địa phương trong vùng, rồi từ nguời Hoa Trung Quốc và Kinh miền đồng bằng V .N. viếng thăm tấp nập, tưng bừng, khác hẳn cấm địa Mẩu Sơn thời Pháp thuộc. Hy vọng  Mẩu Sơn mau chóng trở thành một Sa Pa  hay thị trấn mới ” Mang Đen “ ,huyện KomPlong , đang xây dựng ở tỉnh Kontum . Đối chiếu  Trung tâm du lịch Tháp Đức Thiên ( De Tian ), Trung Quốc vừa thiết lập, gọi là đệ nhất Hùng Quan  Nam Trung Quốc mà phân nữa là vùng   thác đẹp Bản Giốc, thuộc  huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng , Trung Quốc chiếm giữ, sau cuộc xâm lăng  iền Bắc Việt Nam năm 1979, để bảo vệ chế độ Khmer Đỏ Pol Pot đánh phá  các tỉnh miền Nam Việt Nam   

             Trên đất tỉnh Lạng Sơn, đầu thế kỷ thứ 20, một nền văn minh cỗ,  tuy còn được biết đến ở Lào , Căm Bốt , Thái Lan , Miến Điện , Mã Lai Á và miền đông đảo Sumatra, nhưng không đâu phong phú bằng Việt Nạm , người :Pháp đã tìm thấy  hơn 150  di tích khảo cổ  cách đây mấy chục ngàn năm, dấu tích xưa nhất  con người trên đất nước ta . Nền văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn trong các hang động văn hóa chứa hàng vạn di vật bằng đá  cuội,  ghè đẻo thành những công cụ  hình hạnh nhân , hình tròn , rìu ngắn , rìu dài , đặc biệt là ríu mài lưỡi …

            Không những phải cố tái tao khu thắng cảnh nghĩ dưỡng ( và quân sự phòng thủ ? ) Mẩu Sơn mà phải tái thiết mở rộng các quần cư đô thị như thị xã Lạng Sơn và 14 đô thị  trấn thuộc 10 huyện,   quá trình đô thị hóa còn thấp kém mà lại  còn bị ngọai xâm phá hoai. Đặc biệt là  các thị trấn Lạng Sơn , Đồng Đăng , Lộc Bình trong số 20 thị trấn  quan trọng dọc biên giới từ tỉnh Lạng Sơn  đến tỉnh Lại Châu, tháng 2 năm 1979, Trung Quốc tràn sang  tàn phá ( theo Hà Mai Phương và Chu thu Hằng - 2000 ) , kể luôn cả mọi công nghệ ở các thị trấn này .

 

            Truyền thống chống xâm lăng

          Vùng  Ải  Chi Lăng  chủ yếu thuộc hai xã Chi Lăng và Quan Lang, huyện Chi Lăng, cách Hà nội 110km , cách biên giới Việt Trung 60 km , là thung lũng ép giữ hai dãy núi, phía Đông là  núi đất Bảo Đài - Thái Họa, phía Tây là núi đá Cai Kinh vách núi dựng đứng non  . Có sông Thương chảy ngang qua, có hai cửa ngõ khóa hai đầu thung lũng  . Cửa phía bắc là Qủi  Môn Quan - ,Monster Gate nơi quân xâm lăng Trung Quốc tiến vào Việt Nam . Phía Nam  là của Ngõ Thề- Swearing Gate, cha ông chúng ta  đã thề hy sinh chống giặc, bảo vệ tổ quốc ngăn ngừa chúng  tràn qua  ải. Ải Chi Lăng  cũng là một thắng cảnh hiểm địa , “ thập nhân khứ , nhất nhân hòan - mười người đi ( xâm lược ) , chỉ một người về được “. Từ thế kỷ thứ 14, Phạm sư Mạnh  đã hạ hai câu thơ đích đáng:

 Lâu phong bạt mã cao hồi thủ (Trước gió, ghi cương ngựa, lên cao ngỏanh đầu nhin lại)

 Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề (  Chi Lăng ải hiểm tựu lên trời ).  Những ngọn núi độc lập rải dọc thung lũng , trấn ven đương đi: Hàm Qủi, Phương Hòang , Kỳ Lân , Mã Yên … Năm 981 vua Lê Đại Hành ( Lê Hoàn ) ở vùng quan ải này đã chiến thắng quân nhà Tống , diệt hết quân thù.

·        Trận Như-Nguyệt ( sông Cầu ) :18-1 1077 đến tháng 3 - 1077

 Năm 1076, Phò mã Thân Cảnh Phúc lập phòng tuyến chống 300 000 quân Tống ( 10 vạn quân tác chiến, 20 vạn quân hổ trợ ) nhà Tống xâm lăng Việt Nam lần thứ hai. Ngày 8-1 - 1077 , quân Tống tiến vào nước ta theo hai ngã ở biên giới phía Bắc và một ngã theo  đường biển Đông Bắc, nhưng rất vất vả  nhất là  trước các cửa ải Quyết Lý, Chi Lăng , vì bị các lực lượng thổ binh ta chận đánh . Đến ngày 18 - 1,  quân Tống mới đến bờ Bắc sông Như Nguyệt ( còn có tên là sông Cầu  , sông Nguyệt Đức ), dóng thành 2 cụm quân  cụm Quách Qùy và cụm Triệu Tiết . Quân thủy của ta do Lý Kế Nguyên chỉ huy đánh tan  quân thủy nhà Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy.  Tháng 3 năm 1077 ,  400 chiến thuyền của ta bất ngờ, ngược dòng sông Như Nguyệt , tấn công cụm  quân Quách Qùy từ hướng đông. Trong khi cụm quân này đang mãi đối phó, Lý Thường Kiệt nắm đại quân , vượt sông đánh thẳng vào  tiêu diệt cụm quân Triệu Tiết.  Thừa thắng, từ hướng Tây Bắc, Lý Thường Kiệt  đánh đạo quân Quách Quỳ, đóng cách đó 30 km, khiến chúng cuối cùng phải phá vây chạy về phía Bắc  Đến Chi Lăng,  bị đạo quân của Thân Cảnh Phúc  chặn ở Chi Lăng . Địch bi tiêu diệt đại quân và buộc lòng phải rút hết quân về Tàu. 

 

·        Chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông ( Cổ ) :1285 và  1285- 1288

           Lần thứ nhất vào tháng giêng năm 1258 .Lúc bấy giờ chúa Mông Cổ đang tiến hành cuộc xâm chiếm Trung Quốc. Chỉ một đạo quân  khoảng 4 vạn người,  gồm kỵ binh Mông Cỗ và binh lính người Thóang Vân Nam,tướng Lương Hợp Thai ( Uryanquadai ) chỉ huy  từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Quân ta rút lui, bỏ Thăng Long  nhưng quân dân không nao núng  Thái sư Trần Thủ Độ đã trả lời vua Lý Thái Tông. câu bất hủ “ đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo “ . Ngày 29-1 1258 , vua Trần Thái Tông đem binh thuyền ngược sông Hồng tái chiếm Thăng Long , đuổi quân địch  tháo chạy về Vân Nam. Trên đường rút lui, chúng còn bị quân các tộc miền núi tập kích, đánh tan tác .

          Lần thứ hai, cuối năm1284, đạo quân Nguyên Mông do Thóat Hoan ( Togan ), con trai vua Nguyên Hốt Tất Liệt ( Kubilai  ) và A lý Hải Nha ( Ariquaya ) chỉ huy, lên đường xâm lược Đại Việt. Cánh quân lớn nhất  của Thóat Hoan đánh vào mặt Lạng Sơn . Cánh quân do Nạp Tốc Lạt  Đinh( Nasirut Din ) từ Vân Nam đánh mặt Tuyên Quang . Sau một vài trận đánh chặn giặc ở mặt Lạng Sơn và  Tuyên Quang, tháng 2 năm 1285 Quân ta rút lui bỏ trống Thăng Long theo kế họach “ vườn không nhà trống “, kéo về mạn Thiên Trường và Trường Yên ( Hà Nam Ninh ). Tháng 5 -1285, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân phản công, giải phóng Thăng Long.Thóat Hoan hỏang hốt bỏ chạy, nhưng đến biên giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Đại tướng Lý Hằng đi đọan hậu , bị tên độc ttrúng đầu gối về đến Tư Minh thì chết. Sau lần thất bại này  các đạo quân viễn chinh Nguyên Mông  lại lên đường xâm lược vào cuối năm 1287. Tháng 12 - 1287, Thóat Hoan đã tiến sâu vào Lạng Sơn. và cuối tháng 1- 1288 mới chia quân tiến về Thăng Long.  Quân ta lại bỏ ngỏ Thăng Long lần thứ ba. . Quân Nguyên vào Thăng Long ngày 2- 2- 1288.  Đạo quân Thóat Hoan chiếm đóng Thăng Long không có lương thực, lâm vào tình thế khốn quẫn., vì thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ đã  bị  Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhận chìm hết  ở vùng đảo Vân Đồn.  Cánh quân bộ Thóat Hoan rút qua biên giới Lạng Sơn , bị phục kích ở cửa ải nột Bàng , bỏ con đường ra ải Khâu Cấp,  vòng theo đường Đan Ba ( huyện Đình Lập ) chạy tạt ra biên giới. Nhưng ở đây chúng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích ( Abaci ) bị trúng tên chết . Mãi đến ngày 19- 4 - 1288 , tàn quân Thóat Hoan  mới về đến Tư Minh, Trung Quốc .

             Sẽ tiếp : Chiến tranh ở tỉnh Lạng Sơn thời Pháp thuộc, mất mỏ đồng Tụ Long cuộc tàn phá vùng biên giới của Đặng Tiểu Bình , mất Nam Quan - Hửu Nghị , thác Bản Giốc … . Phát triễn kinh tế , công nghệ Lang Sơn  . Tranh chấp lảnh địa biên giới Việt Trung.  Hành lang kinh tế  va vùng phát triễn kinh tế đặc biệt Lạng Sơn trong Thỏa Hiệp Hòa Nghị giữa hai nước ?                                                      

 

 

 

Trở về Trang Chính