|
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có
nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng Anh,
Bỏ
công bác mẹ sinh thành ra em
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ,
biên giới với tỉnh Quảng Tây , Trung Quốc phía Đông Bắc ranh
giới dài 253 Km. Là cửa ngõ phía Bắc nước Việt Nam , vị trí địa
lý và chính trị quan trọng, trên tuyến biên giới với Trung Quốc
có 2 cửa khẩu quốc tế ( cửa khẩu xe lữa là Đồng Đăng và cửa khẩu
đường bộ là Hửu Nghị), 2 cửa khẩu quốc gia ( Chi Ma ở huyện Lộc
Bình và Bình Nghi ở huyện Tràng Định ) và 7 cặp chợ đường biên
giới, giao lưu kinh tế sôi đông .
Ngay từ thời Hùng Vương , nước ta có 15 bộ, trong đó
có bộ Lục Hải và Lạng Sơn nằm trong bộ Lục Hải này. Vào đời
nhà Trần, gọi là lộ Lạng Giang; năm 1437 đổi làm trấn Lạng
Giang, năm 1466 đặt tên làm thừa tuyên Lạng Sơn. Năm 1940 đổi
làm xứ Lạng Sơn. Năm 1509 đổi làm trấn Lạng Sơn. Thời vua Minh
Mạng, năm 1831 đổi làm tỉnh Lạng Sơn. Tháng 12 năm 1975 , Lạng
Sơn và Cao Bằng hợp nhất thành tỉnh Cao Lạng . Tháng 12 năm
1978, lại tách ra làm hai tỉnh: Lạng Sơn và Cao Bằng .
Hành chánh và dân cư
Diện
tích hiện nay là 8 331.2 km2 , gồm 1 thị xã tên là
thị xã Lạng Sơn, 10 huyện ( Tràng Định, thị trấn là Thất Khê
;Văn Lãng, thị trấn là Na Sầm; Bình Gia, thị trấn là Bình Gia;
Bắc Sơn, thị trấn là Bắc Sơn; Văn Quan, thị trấn là Văn Quan;
Cao Lộc, có 2 thị trấn Đồng Đăng và Cao Lộc; Lộc Bình có hai
thị trấn là Na Dương và Lộc Bình; Chi Lăng , có hai thị trấn là
Đồng Mỏ và Chi Lăng; Đình Lập cũng có 2 thị trấn là Thái Bình và
Đình Lập; Hửu Lũng, thị trấn là Hửu Lũng.
Dân số năm 1989, chỉ có 611 015 người, năm 1999 là
704 642 người và năm 2006 là 746 400 người. Lạng Sơn là cư trú
của cộng đồng các dân tộc miền Bắc. Đông nhất là người Nùng ,
Tày, Kinh, Dao , Hoa, Sán Chay , H’Mông - Mèo… Tài liệu
điều tra năm 1999, cho thấy tộc dân Nùng chiếm 43,9 % tổng số
dân, tiếp theo là tộc dân Tày ( 35.6% ), tộc dân Kinh (15.3%),
tộc dân Dao ( 3.5% ), tộc dân Hoa ( 0,4 % ), tộc dân H’Mông (
0,2 5 ), còn lại là các tộc dân Thái, Mường , Sán Dìu …
Tộc dân Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -Thái,
làm ruộng nước thành thạo như ngưòi Việt ( Kinh ) và người Tày,
nhưng địa bàn cư trú của họ là khu vực chuyễn tiếp giữa vùng
thấp và vùng cao . Ruộng nước ít , nên nương rẫy và hệ thống
ruộng bậc thang đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Người Nùng còn biết làm một số nghề thủ công như dệt,
nhuộm vải , rèn đúc, đan lát , làm ngói máng ( ngói âm dương ).
Chúng ta thường cho tộc dân Nùng là một khối ngôn ngữ kết dính,
nhưng thật ra tộc dân Nùng , theo Beth Nicolson ( 1998) và
viện Dân tộc Học miền Bắc ( 1979 ), chia ra 12 nhóm biệt danh,
tỉ như Nùng Cháo, Nùng Inh , Nùng Hù Lai… Rất nhiều biệt danh
này lấy tên từ các vùng Trung Quốc, trước khi họ di cư sang
Việt Nam, đã hơn 10 thế hệ, khỏang 300- 400 năm nay rồi. Tỉ
như Nùng Cháo từ Long Châu ( Longzhou ) ; Nùng Phàn Slình từ
Vạn Trần Châu ( Wanchenzhou ); Nùng Inh từ Long Yên ( ? ) Châu
( Longyinzhou ) ; Nùng Ân từ Ân Kết ( Anjiwezhou ). Khi nói
chuyên , có khi họ không hiểu nhau, phải dùng tiếng Việt , như
khi các tộc dân Nùng phụ Cháo, Inh , Phàn Slình, nói chuyện
với Nùng Ân.
Địa bàn cư trú của tộc dân Tày ( Tổng bí thư đảng
Cọng Sản V. N. hiện nay Nông Đức Mạnh thuộc tộc dân Tày ) là
các thung lũng có nhiều đồng ruộng như lòng chảo Thất Khê, Bắc
Sơn, Bình Gia hay ở một số huyện Lộc Bình, Chi Lăng… Ngòai kinh
nghiệm canh tác ruộng nước không thua kém tộc dân Kinh , người
Tày còn thạo trồng cây công nghiệp như trồng hồi (anis tree -
illicium verum ), thuốc lá, ưom tơ, dệt lụa, nuôi vịt, đào
ao thả cá , thủ công bàn ghế tre, trúc . Từ thời Hùng Vương đã
có sự liên minh giữa người Việt cỗ và người Tày cỗ Tộc dân Tày
tiếp thu nhanh chóng văn hóa , phát triễn kinh tế tộc dân Kinh
Tộc dân Kinh ( Việt ) đứng hàng thứ ba. Nhóm Kinh cư dân
đầu tiên của tỉnh, có nguồn gốc con cháu nhà Mạc hay những tù
nhân lưu đày, con cháu các phiên thần quan lại . Nhóm thứ hai
là người Kinh lên Lạng Sơn khai hoang do miền Bắc phát động
vào thập niên 1960. Họ có mặt ở hầu hết các huyện thị trong
tỉnh , nhưng tập trung hơn cả ở các vùng thấp như thị xã Lạng
Sơn, các huyện Hửu Lũng và Chi Lăng.
Địa bàn cư trú tộc dân Dao ( Mán ) là những vùng đồi
núi gần nơi có nước hoặc có điều kiện dẫn nước về bản . Trước
đây hình thức canh tác của họ là du canh, du cư . Nhưng
nay họ tiếp thu nhiều nét tiến bộ, chuyễn dần sang định canh,
định cư, nhưng với trang trại quy mô nhỏ. Tộc dân Dao , cũng tộc
dân láng giềng H’Mông ( Mèo ), di cư từ vùng Tây Nam Trung Quốc
( Tứ Xuyên, Qúi Châu ) xuống Việt Nam , có lẽ từ thế kỷ thứ 13,
thường sống ở cao độ 800- 1500m., những cao độ này nhiều ở các
tỉnh Hà Giang , Tuyên Quuang, Cao Bằng hơn là Lạng Sơn.
Một đặc điểm khác là từ năm 1954 cho đến nay hai tộc
dân Tày và Nùng , có khi cả Dao nữa, đã có mặt ở các vùng đồi
núi Tây Nguyên, ngay cả ở đồng bàng duyên hải Miền Trung ( Sông
Lũy , sông Mao - Bình Thuận ), Cà Mau ? ( Cái Nước, Đầm Dơi ? )
v.v…
Địa hình
Lạng Sơn là một tỉnh miền đồi núi, địa thế tương đối
thấp. Độ cao trung bình tòan tỉnh là 252m so với mức nước biển.
Nơi thấp nhất chỉ cao 20m, ở phía nam huyện Hửu Lũng, trên thung
lũng sông Thương. Nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè, thuộc khối núi
Mẩu Sơn, cao 1541m. Đại thể, Lạng Sơn chia ra làm 3 khu vực cơ
bản. Vùng đá vôi cánh cung Bắc Sơn, chiếm 25% diện tích tòan
tỉnh ở phía Tây Nam, gồm các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Hửu Lũng,
Chi Lăng và Văn Quan. Độ cao trung bình là 400- 500m. Vùng đá
vôi đang diễn ra qúa trình cácxtơ hóa. Khó khăn lớn nhất là
thiếu nước trên mặt cho sinh họat và nông nghiệp, ngòai các
cánh đồng ngọai vi cácxtơ rộng lớn như Chi Lăng , Mẹt ( Hửu
lũng ), Phổng, dân cư đông đúc và nông nghiệp phát triễn. Vùng
đồi núi tả ngạn sông Kỳ Cùng và dọc thung lũng sông Thương,
chiếm 40% diện tích tòan tỉnh. Núi thấp và đồi, cấu tạo chủ yếu
là đá trầm tích lục nguyên, xen lẫn một ít đá magma. Phía Tây
Bắc là 700- 800m ( đỉnh Phia Ngòam cao 1175m , đỉnh Khau Khiêng
cao 1107m ). Ở giữa, cao 500- 600m. Phía Nam thuộc huyện Hửu
Lũng, chỉ cao trung bình 200- 300m.Vùng máng trủng Thất Khê -
Lộc Bình và đồi núi dọc biên giới Việt Trung, nằm phía Đông Bắc
tỉnh, chiếm 35% diện tích tự nhiên. Rất nhiều địa danh nổi
tiếng lịch sử Việt, ca dao cũng như cảnh quan hùng vĩ, hang
động đẹp, nhiều giá trị du lịch và nghĩ dưỡng, thuộc vùng này.
Khí hậu
Tuy Lạng Sơn nằm hòan tòan trong khu vực khí hậu
nhiệt đới gió mùa, nhưng nhờ cao độ trung bình tòan tỉnh là
252m, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc , nên mang
tính chất khí hậu á ( bán ) nhiệt đới. Lượng mưa 1400- 1500mm ,
số ngày mưa 135, ẩm độ trung bình trên 82%. Nhiệt độ trung bình
21, 20 C , trung bình mùa đông từ 13- 17 0
C , nhưng nhiệt độ tối thấp ở vùng núi Mẩu Sơn có thể xuống
dưới 50 C, có khi dưới O0 C. Vị trí, địa
hình Lạng Sơn duy trì khá lâu khối khí lạnh, giúp các cây đào
lông, lê , mận tây thỏa mãn nhu cầu lạnh các cây này ;đậu trái,
tăng trưởng tốt hơn khí hậu Đà Lạt - Lâm Đồng, nhưng vẫn chưa
đủ lạnh cho cây anh đào - cerisier , cherry ra trái đẹp dẻ, ít
nhất là các giống trái anh đào hiện tại . Về mùa hạ, nhiệt độ
không khí trung bình đều trên 250 C , nhưng vùng núi
, khí hậu mát mẽ dịu hơn. Lạng Sơn ít chịu ảnh hưởng của bảo,
nhưng thời tiết tạo sương muối, sương mù và mưa phùn. Sương muối
gây thiệt hại lớn cho cây trồng và vật nuôi .
Thủy Văn
Tỉnh Lạng Sơn có 3 hệ thống sông chính : sông Kỳ
Cùng thuộc hệ thống sông Tây Giang, Quảng Tây ), sông Thương
và sông Lục Nam, thuộc hệ thống sông Thái Bình .
Sông Kỳ Cùng là sông lớn nhất tỉnh Lạng Sơn và khu
vực miền núi Đông Bắc. Chiều dài trong Việt Nam là 243 km . Diện
tích lưu vực là 6660km2 , phần nội tỉnh là 6532 km2
, chiếm gần 80% diện tích tự nhiên của tỉnh. Sông Kỳ Cùng
bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa, huyện Đình Lập cao 1166m, chảy
theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, qua các huyện Lộc Bình, Cao Lộc,
thị xã Lạng Sơn, Văn Lãng đến bản Trại huyện Tràng Định, rồi
đổi sang hướng đông, chảy vào lưu vực sông Tây Giang, Quảng Tây.
Các nhánh sông lớn là Bắc Giang, Bắc Khê và Ba Thìn. Sông Bắc
Giang dài 114km, diện tích lưu vực là 2670km2 , bắt
nguồn từ đèo Gió thuộc tỉnh Bắc Cạn, chảy theo hướng Tây Nam -
Đông Bắc, đổ vào bờ tả sông Kỳ Cùng ở xã Hùng Việt, huyện Tràng
Định. Phụ lưu lớn thứ hai của sông Kỳ Cùng là sông Bắc Khê, chỉ
dài 54 km, lưu vực nhỏ 801 km2 , bắt nguồn tgừ xã Cao
Minh, huyện Tràng Định ,chảy gần như song song với sông Bắc
Giang, rồi đổ vào bờ tả sông Kỳ Cùng ở xã Đại Đồng , huyện
Tràng Đinh. Sông Ba Thìn dài 52 km , lưu vực 320 km2
, bắt nguồn từ vùng núi Bản Xung, tỉnh Qủang Tây, chảy theo
hướng Đông Nam - Tây Bắc, đổ vào bờ hửu sông Kỳ Cùng ở huyện
Lộc Bình.
Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn,
chiều dài 157km, đọan chảy qua Lạng Sơn dài 70km, ở phần thượng
và trung lưu. Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước,
huyện Chi Lăng ở cao độ 600m, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây
Nam rồi vào tỉnh Bắc Giang tại xã Hòa Thắng, huyện Hửu Lũng.
Sông Trung, một phụ lưu của sông Thương, dài 65 km, lưu vực
rộng 1270km2, bắt nguồn từ vùng núi Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên, đổ vào hửu ngạn sông Thương tại Na Hoa, huyện Hửu
Lũng. Sông Hóa, dài 47km, diện tích lưu vực 385km2
, nhập vào tả ngạn sông Thương ở xã Hòa Lạc , huyện Hửu Lũng .
Sông Lục Nam, ở thượng nguồn tên là Lục Ngạn, bắt
nguồn từ vùng núi Kham Sau Chôm, cao 700m, thuộc huyện Đình
Lập, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, rồi chảy vào tỉnh Bắc
Giang. Chiều dài ở tỉnh Lạng Sơn chỉ là 28km, diện tích lưu vực
642 km2. Ở phần thượng nguồn lòng sông hẹp, uốn
khúc, nhiều ghềnh tháp, độ dốc lớn .
Vài sông ngắn khác ở Lạng Sơn là sông Nà Làng, sông
Phố Cũ, sông Đồng Qui.
Tổng lượng nước hàng năm các sông ước lượng 5, 9 tỉ
m3 , nhưng chưa hòan tòan khai thác tưới tiêu, cung
cấp nước, điện đầy đủ cho tỉnh nhà.
Địa danh, thắng cảnh ca
dao, lịch sử Lạng Sơn
Tài nguyên du lịch thiên nhiên là các khu danh
thắng Nhị -Tam Thanh, Mẩu Sơn, rừng Hửu Liên, hệ thống 92 hang
động cáxtơ , chiều dài 13 560m , tập trung ở huyện Hửu Lũng (
hang Cả và hang Dơi ), Bình Gia ( hang Bắc Nguồm, hang Ông Việt
) , Bắc Sơn ( hang Bông Hiên, Thẩm Oay, Mỏ Nghiên ) và huyện
Chi Lăng ( hang Canh Tẻo, Đồng Mỏ và đặc biệt là hang Gió mới
phát hiện năm 1999 ). Rừng ngập nước trên núi cao, rộng 3500
ha có thể là một tài nguyên du lịch sinh thái , cũng như các
khu bảo tồn thiên nhiên, nhất là dông vật hiếm qúi Hửu Liên (
huyện Hủu Lũng )m và MO/ Rẹ ( huyện Bắc Sơn như khỉ vàng b, khỉ
bạc má , vượn đen , vượn vàng, cu li, sóc , gà lôi trắng , hồng
hòang, gà tím, trĩ …
Thắng cảnh ca dao “ Chùa Tam Thanh “ có tượng Phật
trong động Tam Thanh , cách thị xã chừng 1 km. Thật ra
động Tam Thanh gồm ba động, Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh.
Tam Thanh nổi tiếng hơn hết ở cuối Tây phố Kỳ Lừa . Động Tam
Thanh giống như một voi phục trong đồng cỏ hòa bản rộng. Cửa
vào hang động chỉ cao hơn chân núi 8m , bị tàn cây cao lớn che
phủ tất cả ánh sáng . Trên vách cao bên phải cửa vào có khắc
một bài thơ của hòang giáp Ngô Thì Sĩ ( 1726- 1780 ) một thi sĩ,
tài cao dức ( nhân cách ) trọng, cùng thời với nhà thơ bác học
Lê Qúi Đôn ( 1726- 1784 ), lúc Ngô Thì Sĩ làm đốc trấn ( tỉnh
trưởng quân sự) Lạng Sơn, ca tụng vẻ đẹp hùng vĩ của đồi núi
này, đặc biệt là tiếng nước róc rách êm dịu trên đá. Gần đó là
hòn Vọng Phu, Tô Thị ( ? ) chờ chồng . Chính Ngô Thì Sĩ đã khám
phá ra động Nhị Thanh, tên ông đặt ra để nhớ đến sinh quán làng
Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông còn cho khắc
hình ông trên vách đá Nhị Thanh.
Mẩu Sơn là đỉnh núi cao nhất tỉnh nhà, gió
hú, mây trôi thấp lưng chừng đồi, tuồng như trời cao ở ngay
tầm tay, cảnh quan như một bức tranh thủy mạc Trung Hoa cỗ .Phía
bắc Mẩu Sơn là Ninh Minh Trung Quảng Tây , phía đông là Na
Dương thành phố bụi bặm than nâu, phía tây là thị trấn Đồng Đăng
, tất cả hội nhập thành một cảng quan lạ lùng . Mẩu Sơn cách
thị xã Lạng Sơn 30k . Đường lên núi ngoằn ngoèo như rắn uốn khúc
giữa lòng hai vực núi sâu; thỉnh thỏang vài cô gái Dao mặc áo
quần cỗ truyền să/c sở, miệng cười tươi thắm phất cờ, mong đựợc
chở đi một đọan đường núi. Cách đây 70 năm, chưa có đường này,
lên Mẩu Sơn phải leo bộ hay trên lưng ngựa. Mẩu Sơn lúc đó được
nguời Pháp chú ý làm nơi nghĩ dưỡng vì không khí mát lạnh quanh
năm và phía Đông Bắc là cửa ngõ sang Tàu, Pháp thiết lập một
căn cứ quân sự ở đây vào đầu thế kỹ thứ 20, để canh giữ biên
phòng . Dân địa phương thuôc tộc dân Dao ( Mán ) được di dời để
quân binh Pháp cư trú. Ai có giấy phép đăc biệt mới đượcvào căn
cứ Pháp.Tuy nhiên sau đó, du khách được đón mời thăm viếng.
Tháng giêng năm 1936, bác sĩ O. Pflot, môn đệ cuủa bác sĩ vi
trùng học danh vang thế giớiYersin, đến Mẩu Sơn tìm cây cỏ làm
thuốc đông y, vài lòai được dân địa phương khai thác, trồng
trọt. Cũng năm đó, ông được phép thống sứ- governor miền Bắc
là Thorace cho xây cất nhiều biệt thự - villas Đón du khách.
Không có lò gạch quanh vùng, Pflot dùng đá làm vật liệu xây dựng
Nay còn phân biệt được các tầng lầu điêu tàn, nền móng bẩn
màu vàng rêu phủ xanh, nơi nào là nhà bếp, lò sưởi, nơi nào là
các bậc thang cấp. Trong gần 50 năm , như nàng công chúa giấc
nồng ngũ say, không ai biết đến. Năm 1987, xe mô tô cũng không
được phép chạy đường lên núi. Nay thì du khách địa phương trong
vùng, rồi từ nguời Hoa Trung Quốc và Kinh miền đồng bằng V .N.
viếng thăm tấp nập, tưng bừng, khác hẳn cấm địa Mẩu Sơn thời
Pháp thuộc. Hy vọng Mẩu Sơn mau chóng trở thành một Sa Pa hay
thị trấn mới ” Mang Đen “ ,huyện KomPlong , đang xây dựng ở tỉnh
Kontum . Đối chiếu Trung tâm du lịch Tháp Đức Thiên ( De Tian
), Trung Quốc vừa thiết lập, gọi là đệ nhất Hùng Quan Nam Trung
Quốc mà phân nữa là vùng thác đẹp Bản Giốc, thuộc huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng , Trung Quốc chiếm giữ, sau cuộc xâm lăng
iền Bắc Việt Nam năm 1979, để bảo vệ chế độ Khmer Đỏ Pol Pot
đánh phá các tỉnh miền Nam Việt Nam
Trên đất tỉnh Lạng Sơn, đầu thế kỷ thứ 20, một nền
văn minh cỗ, tuy còn được biết đến ở Lào , Căm Bốt , Thái Lan ,
Miến Điện , Mã Lai Á và miền đông đảo Sumatra, nhưng không đâu
phong phú bằng Việt Nạm , người :Pháp đã tìm thấy hơn 150 di
tích khảo cổ cách đây mấy chục ngàn năm, dấu tích xưa nhất con
người trên đất nước ta . Nền văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn
trong các hang động văn hóa chứa hàng vạn di vật bằng đá cuội,
ghè đẻo thành những công cụ hình hạnh nhân , hình tròn , rìu
ngắn , rìu dài , đặc biệt là ríu mài lưỡi …
Không những phải cố tái tao khu thắng cảnh nghĩ
dưỡng ( và quân sự phòng thủ ? ) Mẩu Sơn mà phải tái thiết mở
rộng các quần cư đô thị như thị xã Lạng Sơn và 14 đô thị trấn
thuộc 10 huyện, quá trình đô thị hóa còn thấp kém mà lại còn
bị ngọai xâm phá hoai. Đặc biệt là các thị trấn Lạng Sơn , Đồng
Đăng , Lộc Bình trong số 20 thị trấn quan trọng dọc biên giới
từ tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Lại Châu, tháng 2 năm 1979, Trung
Quốc tràn sang tàn phá ( theo Hà Mai Phương và Chu thu Hằng -
2000 ) , kể luôn cả mọi công nghệ ở các thị trấn này .
Truyền thống chống xâm lăng
Vùng Ải Chi Lăng chủ yếu thuộc hai xã Chi
Lăng và Quan Lang, huyện Chi Lăng, cách Hà nội 110km , cách biên
giới Việt Trung 60 km , là thung lũng ép giữ hai dãy núi, phía
Đông là núi đất Bảo Đài - Thái Họa, phía Tây là núi đá Cai Kinh
vách núi dựng đứng non . Có sông Thương chảy ngang qua, có hai
cửa ngõ khóa hai đầu thung lũng . Cửa phía bắc là Qủi Môn Quan
- ,Monster Gate nơi quân xâm lăng Trung Quốc tiến vào Việt Nam .
Phía Nam là của Ngõ Thề- Swearing Gate, cha ông chúng ta đã
thề hy sinh chống giặc, bảo vệ tổ quốc ngăn ngừa chúng tràn qua
ải. Ải Chi Lăng cũng là một thắng cảnh hiểm địa , “ thập
nhân khứ , nhất nhân hòan - mười người đi ( xâm lược ) , chỉ một
người về được “. Từ thế kỷ thứ 14, Phạm sư Mạnh đã hạ hai
câu thơ đích đáng:
Lâu
phong bạt mã cao hồi thủ (Trước gió, ghi cương ngựa, lên cao
ngỏanh đầu nhin lại)
Chi
Lăng quan hiểm dữ thiên tề ( Chi Lăng ải hiểm tựu lên trời
). Những ngọn núi độc lập rải dọc
thung lũng , trấn ven đương đi: Hàm Qủi, Phương Hòang , Kỳ Lân ,
Mã Yên … Năm 981 vua Lê Đại Hành ( Lê Hoàn ) ở vùng quan ải này
đã chiến thắng quân nhà Tống , diệt hết quân thù.
·
Trận Như-Nguyệt ( sông Cầu ) :18-1 1077 đến
tháng 3 - 1077
Năm
1076, Phò mã Thân Cảnh Phúc lập phòng tuyến chống 300 000 quân
Tống ( 10 vạn quân tác chiến, 20 vạn quân hổ trợ ) nhà Tống xâm
lăng Việt Nam lần thứ hai. Ngày 8-1 - 1077 , quân Tống tiến vào
nước ta theo hai ngã ở biên giới phía Bắc và một ngã theo đường
biển Đông Bắc, nhưng rất vất vả nhất là trước các cửa ải Quyết
Lý, Chi Lăng , vì bị các lực lượng thổ binh ta chận đánh . Đến
ngày 18 - 1, quân Tống mới đến bờ Bắc sông Như Nguyệt ( còn có
tên là sông Cầu , sông Nguyệt Đức ), dóng thành 2 cụm quân cụm
Quách Qùy và cụm Triệu Tiết . Quân thủy của ta do Lý Kế Nguyên
chỉ huy đánh tan quân thủy nhà Tống do Dương Tùng Tiên chỉ
huy. Tháng 3 năm 1077 , 400 chiến thuyền của ta bất ngờ, ngược
dòng sông Như Nguyệt , tấn công cụm quân Quách Qùy từ hướng
đông. Trong khi cụm quân này đang mãi đối phó, Lý Thường Kiệt
nắm đại quân , vượt sông đánh thẳng vào tiêu diệt cụm quân
Triệu Tiết. Thừa thắng, từ hướng Tây Bắc, Lý Thường Kiệt đánh
đạo quân Quách Quỳ, đóng cách đó 30 km, khiến chúng cuối cùng
phải phá vây chạy về phía Bắc Đến Chi Lăng, bị đạo quân của
Thân Cảnh Phúc chặn ở Chi Lăng . Địch bi tiêu diệt đại quân và
buộc lòng phải rút hết quân về Tàu.
·
Chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông ( Cổ )
:1285 và 1285- 1288
Lần thứ nhất vào tháng giêng năm 1258 .Lúc bấy
giờ chúa Mông Cổ đang tiến hành cuộc xâm chiếm Trung Quốc. Chỉ
một đạo quân khoảng 4 vạn người, gồm kỵ binh Mông Cỗ và binh
lính người Thóang Vân Nam,tướng Lương Hợp Thai ( Uryanquadai )
chỉ huy từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Quân ta rút lui, bỏ
Thăng Long nhưng quân dân không nao núng Thái sư Trần Thủ Độ
đã trả lời vua Lý Thái Tông. câu bất hủ “ đầu tôi chưa rơi
xuống đất, xin bệ hạ đừng lo “ . Ngày 29-1 1258 , vua Trần
Thái Tông đem binh thuyền ngược sông Hồng tái chiếm Thăng Long ,
đuổi quân địch tháo chạy về Vân Nam. Trên đường rút lui, chúng
còn bị quân các tộc miền núi tập kích, đánh tan tác .
Lần thứ hai, cuối năm1284, đạo quân Nguyên Mông do
Thóat Hoan ( Togan ), con trai vua Nguyên Hốt Tất Liệt (
Kubilai ) và A lý Hải Nha ( Ariquaya ) chỉ huy, lên đường xâm
lược Đại Việt. Cánh quân lớn nhất của Thóat Hoan đánh vào mặt
Lạng Sơn . Cánh quân do Nạp Tốc Lạt Đinh( Nasirut Din ) từ Vân
Nam đánh mặt Tuyên Quang . Sau một vài trận đánh chặn giặc ở mặt
Lạng Sơn và Tuyên Quang, tháng 2 năm 1285 Quân ta rút lui bỏ
trống Thăng Long theo kế họach “ vườn không nhà trống “,
kéo về mạn Thiên Trường và Trường Yên ( Hà Nam Ninh ). Tháng 5
-1285, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân phản công,
giải phóng Thăng Long.Thóat Hoan hỏang hốt bỏ chạy, nhưng đến
biên giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Đại tướng Lý
Hằng đi đọan hậu , bị tên độc ttrúng đầu gối về đến Tư Minh thì
chết. Sau lần thất bại này các đạo quân viễn chinh Nguyên Mông
lại lên đường xâm lược vào cuối năm 1287. Tháng 12 - 1287, Thóat
Hoan đã tiến sâu vào Lạng Sơn. và cuối tháng 1- 1288 mới chia
quân tiến về Thăng Long. Quân ta lại bỏ ngỏ Thăng Long lần
thứ ba. . Quân Nguyên vào Thăng Long ngày 2- 2- 1288. Đạo
quân Thóat Hoan chiếm đóng Thăng Long không có lương thực, lâm
vào tình thế khốn quẫn., vì thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ
đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhận chìm hết ở vùng đảo
Vân Đồn. Cánh quân bộ Thóat Hoan rút qua biên giới Lạng Sơn ,
bị phục kích ở cửa ải nột Bàng , bỏ con đường ra ải Khâu Cấp,
vòng theo đường Đan Ba ( huyện Đình Lập ) chạy tạt ra biên giới.
Nhưng ở đây chúng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích
( Abaci ) bị trúng tên chết . Mãi đến ngày 19- 4 - 1288 , tàn
quân Thóat Hoan mới về đến Tư Minh, Trung Quốc .
Sẽ tiếp : Chiến tranh ở tỉnh Lạng Sơn thời Pháp
thuộc, mất mỏ đồng Tụ Long cuộc tàn phá vùng biên giới của Đặng
Tiểu Bình , mất Nam Quan - Hửu Nghị , thác Bản Giốc … . Phát
triễn kinh tế , công nghệ Lang Sơn . Tranh chấp lảnh địa biên
giới Việt Trung. Hành lang kinh tế va vùng phát triễn kinh tế
đặc biệt Lạng Sơn trong Thỏa Hiệp Hòa Nghị giữa hai nước ?
Trở về Trang Chính
|