Nhiên-liệu-sinh-học
(Biofuel hay Agrofuel) là loại chất đốt tái tạo sản xuất từ
nguyên liệu động thực vật gọi là sinh-khối (biomass). Gọi là
“tái tạo” (renewable) vì chất đốt cơ bản Carbon (C) nằm
trong chu trình quang-tổng-hợp (photosynthesis) ngắn hạn -
đốt nhiên-liệu-sinh-học sa thải khí CO2,
rồi thực vật canh tác hấp thụ lại CO2
đó, để tạo thành sinh-khối chế biến
nhiên-liệu-sinh-học - trên lý thuyết coi như không làm gia
tăng CO2
trong khí quyển. Nhiên-liệu-sinh-học có thể ở
thể rắn như củi, than củi (than-đá thuộc loại cổ sinh, không
tái tạo); thể lỏng (như xăng-sinh-học, diesel-sinh-học); hay
thể khí như khí methane-sinh-học (sản xuất từ lò ủ chất phế
thải). Nhiên liệu ở thể lỏng được ưa chuộng hơn vì có độ
tinh khiết cao, chứa nhiều năng lượng, dể dàng chuyên chở,
dể tồn trử và bơm vào bình nhiên liệu của xe. Xăng-sinh-học
đề cập trong bài này gồm xăng-ethanol (E) và diesel-sinh-học
(ở Việt nam gọi là B), tương ứng với xăng-cổ-sinh biến chế
từ dầu mỏ là xăng (gasoline) và diesel.
Khuynh hướng sản xuất
xăng-sinh-học đang trên đà phát triển, vì nhiều lý do: (i)
giá xăng-cổ-sinh ngày càng mắc; (ii) trữ lượng dầu hoả ở các
mỏ dầu có giới hạn và sẽ kiệt quệ trong tương lai (khoảng
năm 2100); (iii) nhiều quốc gia muốn tuỳ thuộc ít vào việc
nhập cảng nhiên liệu cổ sinh trong khi quốc gia họ có khả
năng sản xuất nhiên liệu thay thế, và (iv) bị áp lực chính
trị phải giảm lượng khí CO2
sa thải để phù hợp với Thoả hiệp Kyoto (1997)
quy định. Nhưng sản xuất và sử dụng xăng-sinh-học có phải là
một biện pháp hửu hiệu để cứu vãn tai hoạ khí hậu toàn cầu
không?
LỊCH SỬ
Nhiên-liệu-sinh-học ở
thể rắn (gổ, củi, than củi, phế thải thực và động vật, v.v.)
đã được loài người sử dụng từ khi khám phá ra lửa. Khi phát
minh ra động-cơ-hơi-nước (steam engine) và máy-phát-điện,
nhiên-liệu-sinh-học thể rắn (gỗ) được sử dụng một thời để
phát triển kỹ nghệ ở thế kỷ 18 và 19, và gây nhiều ô nhiễm.
Ở Việt Nam, xe lưả chạy bằng đốt gỗ cho tới khoảng 1956, mới
thay thế bằng động cơ diesel. Ngày nay có khoảng 2 tỷ dân
đốt nhiên-liệu-sinh-học ở thể rắn như gỗ, củi, trấu, mạt
cưa, rơm rạ, lá khô, v.v. Mặc dầu chứa carbon-tái-tạo, nhưng
cho nhiều khói, tro bụi, bồ hóng nên làm ô nhiểm môi trường.
Động cơ nổ đầu tiên
trên thế giới do Nikolaus August Otto (người Đức) thiết kế
sử dụng nhiên-liệu-sinh-học thể lỏng là rượu cồn – ethanol,
Rudolf Diesel (người Đức) phát minh động cơ Diesel thiết kế
chạy bằng dầu-đậu-phộng (groundnut oil), và Henry Ford (Mỹ)
thiết kế xe hơi chạy bằng dầu-thực-vật (từ 1903 đến 1926)
chế biến từ dầu chứa trong hạt và thân cây cần sa (hemp -
Cannabis sativa).
Từ khi khám phá ra
nhiên-liệu-cổ-sinh (than đá, dầu hoả, khí đốt) thì ngành kỹ
nghệ sử dụng nhiên-liệu-cổ-sinh, vì có hiệu quả kinh tế hơn.
Tuy nhiên mỗi khi có chiến tranh, bị địch phong toả khó
chuyển vận dầu, hay thế giới có khủng hoảng chính trị, kinh
tế, và để không tuỳ thuộc vào dầu hoả nhập cảng (từ Trung
Đông), khuynh huớng sử dụng xăng-sinh-học lại bột phát trong
những thời kỳ này. Chẳng hạn, Đức và Anh Quốc sản xuất
xăng-sinh-học từ khoai tây và lúa mì trong thời kỳ Đệ nhị
Thế Chiến. Khủng hoảng xăng dầu năm 1972 do khối OPEC gây
ra, làm một số quốc gia có chủ trương tự túc nhiên liệu bằng
cách sản xuất xăng-sinh-học từ tiềm năng nông nghiệp đồ sộ
của mình. Brazil tiêu biểu cho chính sách này.
Kể từ 2000, các quốc
gia trên thế giới lần lượt thật sự tuân thủ Thoả hiệp Rio de
Janeiro (1992), rồi Kyoto (1997), tìm kỹ thuật hạn chế sa
thải khí nhà kiếng (CO2,
methane, N2O,
v.v.) của nhiên-liệu-cổ-sinh, thay thế bằng năng-lượng-xanh
(green energy như năng lượng mặt trời, gió, thuỷ điện,
v.v.), nên nhiên-liệu-sinh-học đang trên đà bột phát.
XĂNG-SINH-HỌC
Xăng-Ethanol (E) thông
dụng nhất hiện nay trên thế giới vì dễ dàng biến chế từ
đường (sugar - của mía, củ cải đường, cao lương-đường) và
tinh bột (starch – của ngũ cốc, khoai tây, khoai mì).
Ethanol (C2H5OH)
99.9% có thể chạy động cơ xe-hơi-chạy-bằng-xăng. Khi cháy,
một phân tử ethanol sinh một nhiệt lượng 1409 kJ. Tuy nhiên,
Ethanol chứa 33% năng lượng ít hơn xăng-cổ-sinh, nên cần
nhiều ethanol hơn để xe chạy cùng một đoạn đường. Vì vậy, xe
phải có bình chứa nhiên liệu lớn hơn. Thông thường, máy xe
hơi chạy hiệu nghiệm với E15 (xăng pha 15% ethanol).
Xăng-chứa-ethanol chứa nhiều octane hơn xăng thường nên động
cơ mau nóng hơn, máy cũng mau hao mòn hơn, nhất là các vòng
đệm cao su. Bất lợi của Ethanol là hút ẩm nên xăng-ethanol
có chứa nhiều nước, làm máy khó “đề”, làm rỉ sét kim loại,
hư mòn chất nhựa (plastic), nên đòi hỏi phải thay đổi vật
liệu làm động cơ, phải bảo trì xe thường xuyên. Bồn chứa
ethanol cũng phải làm từ kim loại đặc biệt, việc chuyên chở
cũng khó khăn hơn xăng thường (bồn đặc biệt, đắt hơn, khoảng
£120,000/xe bồn xăng ở Anh – USD 200,000), nên cuối cùng tổn
phí cao (tại Anh, tổn phí sản xuất khoảng 35 pence/lít – 60
cents/lít). Nói tóm lại, nếu tính từ lúc canh tác cây, phân
bón, thuốc sát trùng, tưới nước, thâu hoạch, lên men, chưng
cất cho tới khi sử dụng, biến cải xe hơi, v.v. thì chạy xe
bằng xăng-ethanol tốn kém hơn chạy bằng xăng thường.
Ngày nay mọi hiệu xe
hơi đều có thể chạy xăng-ethanol E10 (xăng thường pha 10%
ethanol), tuy nhiên để bảo đảm máy móc, khuyến cáo nên dùng
xăng-ethanol E5 (Xăng pha 5% ethanol). Một vài loại động cơ
xe hơi cải biến sử dụng xăng-ethanol E85 như ở Brazil. Cách
đây một năm (2007), các trạm bán xăng thuộc một hệ thống
siêu thị lớn ở Anh đã lầm lẫn bơm xăng-ethanol E85 vào các
trạm bán xăng thông thường, làm cháy hỏng máy mấy ngàn chiếc
xe hơi và phải bồi thường cho khách hàng.
Xăng pha với ethanol
thải ít khí nhà kiếng hơn xăng thường. Chẳng hạn E85 sa thải
1 ppm khí NO2
trong khi xăng-cổ-sinh thải 9 ppm. Nguy cơ bị
ung thư ít hơn khi thở phải khí sa thải của xăng-sinh-học.
Butanol (C4H10O)
cho nhiều năng lượng hơn ethanol và có thể đổ thẳng vào bình
xăng xe mà không cần biến chế gì thêm. Chế biến từ dầu mỏ,
hay từ lên men nguyên liệu sinh-khối do vi khuẩn
Clostridium acetobutylicum.
Methanol (CH3OH),
còn gọi methyl-alcohol được điều chế từ khí methane (CH4)
của khí đốt của mỏ dầu. Methanol cũng được biến chế từ chất
hửu cơ động thực vật qua phương pháp đun trong bình kín
(không có oxy và hơi nước) ở nhiệt độ cao (pyrolysis).
Diesel-sinh-học:
Theo phòng thí nghiệm Năng Lượng Tái Tạo Hoa Kỳ (U.S.
National Renewable Energy), đốt diesel-sinh-học thải 50%
carbon monoxide (CO) và 78% carbon dioxide (CO2)
ít hơn diesel. Cũng không có sa thải Sulphur SO2.
Diesel-sinh-học có những đặc tính vật lý tương tự diesel,
thành phần hoá học chính là acít béo - Fatty acid methyl
(hay ethyl) ester. Diesel-sinh-học chứa ít năng lượng hơn,
nhiệt độ bắt cháy là 150°C, trong khi diesel là 70°C.
Dầu-thực-vật khi hun
nóng thì trở nên lỏng, nhờn hơn, nên có thể chạy máy diesel.
Dầu-thực-vật trích từ các thực vật chứa nhiều dầu như hột
cải-dầu (Oil seed rape), dừa dầu (oil palm), dừa (coconut),
đậu nành (soyabean), đậu phộng (groundnut), bông vải
(cotton), hạt cao su (rubber), hướng dương (sunflower), cây
và hột cần sa (hemp, Cannabis sativa), v.v. Tảo và
trái dầu-lai (Jatropha curcas) là những nguồn
dầu-thực-vật quan trọng mới ngày nay.
Thông thường, để cho
động cơ an toàn, diesel-sinh-học được pha với diesel. Tuy
nhiên, các loại dầu ăn tinh khiết bán trên thị trường, hay
đã sử dụng, đều có thể thay thế diesel để chạy động cơ
diesel loại củ (chỉ cần thay thế bộ phận bơm injection).
Hiện nay nhiều loại xe hơi hiện đại có động cơ chạy được với
dầu-ăn nguyên chất, hay diesel-sinh-học 100%. Chẳng hạn,
động cơ xe hơi MAN B &W Diesel, Wartsila và Deutz AG có thể
chạy từ dầu ăn nguyên chất. Dầu đã sử dụng (từ trong các
tiệm Fast Food) chỉ cần lọc cặn và loại phần nước (do thức
chiên xâm nhập) thì chạy được xe hơi. Xe Đức Volkswagen cũng
chạy được với diesel-sinh-học 100%. Tuy nhiên, các hãng làm
xe hơi khuyến cáo là nên pha 15% diesel-sinh-học với 85%
diesel để xe ít bị hao mòn. Các nước Âu Châu hiện nay bán
diesel pha 5% diesel-sinh-học ở mọi trạm xăng.
Ở Hoa Kỳ, hơn 80% xe
vận tải và xe bus đều chạy bằng diesel-sinh-học, và càng
ngày sử dụng diesel-sinh-học càng gia tăng, 25 triệu gallons
năm 2004, 78 triệu gallons năm 2005, và khoảng 1 tỷ gallons
vào 2007. Xe chở hàng và xe bus ở Âu châu đều chạy bằng
diesel-sinh-học.
PHƯƠNG PHÁP BIẾN
CHẾ XĂNG-SINH-HỌC
Trên nguyên tắc, bất
cứ chất vật liệu sinh học nào chứa nhiều Carbon, hoặc dưới
dạng đường, tinh bột, cellulose đều có thể chế biến thành
ethanol, hoặc chứa nhiều acit béo thì chế biến
diesel-sinh-học được. Thông thường nhất là từ thực vật có
khả năng quang-tổng-hợp – biến CO2
của khí quyển thành chất đường, tinh bột,
cellulose, rồi protides, lipids, v.v. Trung bình cứ mỗi phân
tử CO2
cây hấp thụ và biến chế qua quang-tổng-hợp
thành sinh-khối chứa 114 kilocalories. Khó khăn kỹ thuật
hiện tại là làm sao biến toàn thể năng lượng C chứa trong
sinh-khối thành xăng-sinh-học. Với kỹ thuật hiện nay (cổ
điển), có 2 phương thức hửu hiệu:
(i) Cho lên men (nhờ
men và enzymes trong điều kiện yếm khí) chất đường (từ mía,
củ cải đường, v.v.), tinh bột [từ hạt ngủ cốc (bắp, lúa, lúa
mì, v.v.) và củ (khoai tây, khoai mì, v.v.)], hay cellulose
để tạo ra rượu Ethanol (CH3OH),
Propanol [CH3CH2CH2OH;
(CH3)2CHOH]
và Butanol (C4H10O).
(ii) Trích dầu từ thực
vật giàu chất dầu, hay mở từ động vật (ép với áp suất cao và
nhiệt, hay bằng dung môi, hay phối hợp cả hai).
Về phương diện kỹ
thuật (và kinh tế), chia làm 3 loại nguyên liệu:
Công nghệ
xăng-sinh-học thế hệ 1: chế biến từ đường (mía, củ
cải đường, sorgho-đường) và tinh bột của nông phẩm (từ hạt
của bắp, lúa mì, lúa, v.v., hay từ củ như khoai tây, khoai
mì, v.v.) để tạo ethanol; hay từ dầu (của hạt dừa-dầu, đậu
nành, đậu phộng, v.v.) để biến chế diesel-sinh-học. Kỹ thuật
đơn giản và kinh tế nhất.
Công nghệ
xăng-sinh-học thế hệ 2: từ cellulose, chất xơ của dư
thừa thực vật (rơm, rạ, thân bắp, gổ, mạt cưa, bả mía,
v.v.), hay thực-vật-hoang (non-crop) (như cỏ voi, vetiver,
lục bình). Chẳng hạn, một ha mía cho khoảng 25 tấn bã mía
(bagasse, xác mía sau khi ép), và mỗi tấn bã mía sản xuất
285 lít ethanol. Kỹ thuật hiện nay chưa hoàn hảo, hiệu năng
còn kém, con men chưa hửu hiệu và giá đắt, chỉ một phần
cellulose và lignin biến thành ethanol, nên giá thành sản
xuất còn cao.
Công nghệ
xăng-sinh-học thế hệ 3: từ tảo (algae), kỹ thuật
đang phát triển.
Biến chế Ethanol
Biến chế từ
đường. Kỹ thuật dễ dàng, hiệu năng cao, và ít tổn
phí nhất là cho lên men (yếm khí) từ đường, hay nước mật
(molasse), hay trực tiếp từ nước mía ép, hay nước củ-cải
đường ép, như theo lối thủ công hay công nghiệp xưa nay.
Ngày nay đã tuyển chọn được nhiều dòng men hửu hiệu, biến
đường thành nhiều rượu hơn. Mặc dầu tổn phí biến chế thấp,
nhưng đường, và cả phụ phẩm nước mật, là thức ăn của người
và gia súc, có giá cao, nên ethanol biến chế từ đường có giá
thành cao hơn ethanol sản xuất từ tinh bột. Theo lý thuyết,
cứ 1 tấn đường sucrose sản xuất được 678 lít ethanol, tuy
nhiên hiệu năng cao nhất hiện nay là 587 lít. 1 tấn đường
đen cho 562 lít ethanol, 1 tấn đường cát cho 587 lít. Thân
mía chứa khoảng 10-15% đường sucrose, thân cây cao
lương-đường khoảng 15-23% sucrose, còn củ-cải-đường khoảng
16-18% sucrose. Trung bình, tại các nhà máy đường ở Hoa Kỳ,
cứ sản xuất 100 kg đường thì cho ra 25 lít nước mật
(molasse), nước mật có độ đường 49.2%.
Tại Hoa Kỳ, trung bình
cứ 1 tấn mía (thân) sản xuất được 81 lít ethanol, 1 tấn nước
mật (molasse) cho 289 lít ethanol. Năng suất mía trung bình
toàn quốc ở Hoa Kỳ là 65 tấn/ha, cho khoảng 3.90 tấn đường.
Riêng tại Hawaii năng xuất tới 170 tấn thân mía/ha (vì mùa
trồng dài hơn). Với các giống mía “di-truyền-biến-cải” (GM,
genetically modified) tại Brazil, năng xuất tới 240 tấn
mía/ha, với độ đường 14.6%. Năng suất mía tại Việt Nam
khoảng 35 đến 50 tấn mía/ha. Trung bình 1 ha mía tại Brazil
sản xuất được 5,600 lít ethanol, 1 ha củ-cải-đường tại Pháp
sản xuất 6,700 lít ethanol, và 1 ha bắp ở Hoa Kỳ sản xuất
3,000 lít ethanol. Năng xuất mía và đường ở Brazil tăng gấp
đôi trong thời gian 30 năm 1975-2005, nhờ trồng giống cải
thiện, nhất là các giống mía “biến-cải-di-truyền” ngày nay.
Biến chế từ tinh
bột. Để biến chế ethanol từ tinh bột, tinh bột trước
hết phải được điều chế thành đường, rồi từ đó mới lên men
rượu. Hạt bắp chứa khoảng 70-72% tinh bột, hạt cao lương
khoảng 68-70%, gạo 70-80%. Muốn vậy, hạt ngủ được xay nghiền
thành bột, pha với nước, nấu ở 70°C (để biến thành đường)
rồi nấu chín ở 100-110°C (vừa diệt trùng vừa thêm đường), để
nguội rồi trộn men, cho lên men 48 giờ ở nhiệt độ 36°C. Men
dùng thường là vi nấm Saccharomyces cerevisiae,
Aspergillus oryzae, Mucor, Rhizopus, vi khuẩn
Zymomonas mobilis. Sau đó, dùng máy ly tâm tách rời chất
hèm để làm thức ăn gia súc. Phần chất lỏng, có độ cồn (rượu)
5-15%, được chưng cất ở lò chưng nhiều tầng để tăng độ cồn.
Để đạt độ cồn 99.9%, trước đây dùng benzene và cyclohexane
(đắt tiền, không tái sử dụng được, và độc gây bịnh) để loại
nước. Kỹ thuật ngày nay dùng “chất sàng phân tử” (molecular
sieve, như silica gel, zeolite, hút thấm nước nhưng không
hút rượu, vì rượu có phân tử lớn hơn) thay thế, rẻ tiền và
hiệu quả hơn. Việt Nam có mỏ Zeolite (một loại sét) ở vùng
Lâm Đồng.
Một kỹ thuật mới được
áp dụng hiệu quả hơn, không cần phải nấu tinh bột (tiết kiệm
năng lượng) là sử dụng một loại men (yeast) mới, giúp lên
men biến tinh bột thành đường ở nhiệt độ 32°C.
Trung bình, cứ 1 tấn
bắp sản xuất được 409 lít ethanol.
Biến chế từ chất
xơ. Nói chung đó là cellulose, hemicellulose, lignin
trong thân lá, rơm rạ, trấu, gỗ, v.v. Cellulose là đường
polysaccharide, có công thức (C6H10O5)n,
mà số n biến thiên từ 7,000 đến trên 15,000 phân tử glucose.
Hemicellulose cũng là đường polysaccharides chứa khoảng 200
đơn vị đường, là thành phần của màng tế bào thực vật. Cây
thực vật chứa khoảng 33% cellulose, gỗ khoảng 50%, riêng sợi
bông vải (cotton) 90%. Động vật ăn cỏ, mối (termite) tiêu
hoá được cellulose nhờ vi-sinh-vật sống cộng sinh trong bào
tử (như Cellulomonas), một số vi khuẩn có khả năng
biến cellulose ra đường, nhờ chúng sản xuất enzyme cellulase
biến cellulose ra đường.
Vì vậy, để biến
cellulose thành rượu, bắt chước theo bộ tiêu hoá của động
vật ăn cỏ và mối, trước hết phải biến hoá cellulose ra đường
đơn giản như hexose, pentose, bằng thuỷ phân (hydrolysis)
nhờ một số acid (như trong dịch vị) và enzyme cellulase.
Hemicellulose tương đối dể dàng biến thành đường-chứa-5C như
Xylose (C5H10O5),
nhưng xylose không biến chế thành ethanol được. Cũng vậy,
với kỹ thuật hiện tại, chưa có cách biến lignin ra ethanol.
Vì vậy trước tiên phải loại lignin và hemicellulose, chỉ còn
lại thành phần cellulose. Loại lignin bằng sulfuric acid đậm
đặc, hay bằng đun sôi trong nước với sodium carbonate, hay
butanol. Cellulose sau đó cho lên men với cellulase ở nhiệt
độ khoảng 71°C trong vài ngày để biến thành đường.
Hiện tại, sản xuất
enzyme cellulase để biến cellulose thành đường khá phức tạp,
tốn kém, chiếm khoảng 40% chi phí sản xuất rượu vì gồm 3
loại cellulases:
(i) Endo-p-glucanase,
1,4-ß-D-glucan glucanohydrolase, CMCase, phá huỷ các cầu của
chuổi cellulose để biến thành đường glucose và
oligo-saccharide.
(ii) Exo-P-glucanase,
1,4-ß - D-glucan cellobiohydrolase, Avicelase, C1: biến
thành đường cellobiose (C12).
(iii) ß-glucosidase,
cellobiase: thuỷ phân đường cellobiose thành glucose.
Vi nấm Trichoderma
sản xuất nhiều endo-ß-glucanase và exo-ß-glucanase, nhưng
rất ít ß-glucosidase, ngược lại Aspergillus sản xuất
nhiều endo-ß-glucanase và ß-glucosidase, nhưng ít exo-ß-
glucanase. Vì vậy, muốn có nhiều hiệu quả phải tuyển chọn
nhiều dòng nấm. Kết quả cho biết dòng nấm Trichoderma
reesei QM-9414 có hiệu quả tốt nhất trong việc biến
cellulose thành đường. Trong số dòng này, tuyển chon lại
thành dòng KY-746. Phương pháp sản xuất enzyme cellulase từ
men Trichoderma reesei dòng KY-746 hửu hiệu và tương
đối rẻ tiền và được sử dụng hiện nay. Ngày nay nhiều công ty
sản xuất men rượu dùng kỷ thuật “biến-cải-di-truyền” tạo
được nhiều dòng men sản xuất enzyme cellulase, xylanase và
hemicellulase.
Nguyên liệu chứa nhiều
thành phần cellulose như bã mía (41% là cellulose), rơm lúa
(35%), gỗ (40-50%) được thái nhỏ trước khi khử với NaOH
(nồng độ khoảng 1 – 1.2 N) ở nhiệt độ 45°C trong 24 giờ,
tiếp theo là rửa trong nước ấm để loại chất lignin. Dung
dịch cellulose được cho lên men với Trichoderma reesei
để biến cellulose thành đường.
Hiệu năng biến chế
thành rượu ethanol từ chất xơ còn kém, chưa có hiệu quả kinh
tế nhiều ở kỹ thuật hiện nay, vì sản xuất cellulase còn rất
mắc, thời gian lên men lâu nên dể bị nhiểm trùng làm hư cả
bồn lên men.
Để tăng hiệu quả lên
men biến các thành phần cellulose, lignin trong nguyên liệu
thực vật thành xăng-sinh-học, các nhà vi sinh học đã thành
công cấy vào bộ máy di truyền (genome) của vi khuẩn
Escherichia coli thêm 2 gen của vi khuẩn Zymomonas
mobilis để giúp lên men chất đường và tinh bột thành
ethanol, và một gen của vi khuẩn Acinetobacter baylyi
để biến chất dầu trong thực vật thành diesel-sinh-học.
Với kỹ thuật hiện tại,
biến rơm rạ của lúa và ngũ cốc ra xăng-sinh-học chưa kinh
tế. Các nhà khoa học Đài Loan thành công trong phòng thí
nghiệm biến chế ethanol từ rơm lúa, cứ mỗi 10 kg rơm rạ lúa
biến chế được 2 lít alcohol 99.5% để pha làm xăng-sinh-học
(Taipei Times, 19/2/2008), nhưng phải mất vài năm nữa mới có
thể sản xuất thương mại quy mô. Các nghiên cứu ở Trung quốc
cho thấy xăng-sinh-học sản xuất từ rơm rạ mắc hơn
xăng-cổ-sinh khoảng 250 USD/tấn. Ngày 14/1/2008, hảng
General Motors của Hoa Kỳ tuyên bố hợp tác với đại công ty
sản xuất ethanol Coskata để bắt đầu sản xuất quy mô ethanol
từ thân bắp vào cuối năm 2008, và kể từ 2011 sẽ sản xuất 50
– 100 triệu gallons/năm, với giá 1 USD/gallon.
Biến chế
diesel-sinh-học.
Diesel-sinh-học được
chế chế biến từ dầu-thực-vật hay từ mở-động-vật bằng phương
pháp ester-hoá. Dầu-thực-vật (hay mỡ) được trộn với sodium
hydroxide (NaOH) và methanol (hay ethanol), cùng chất xúc
tác (catalyst), phản ứng hoá học xảy ra, cho diesel-sinh-học
và glycerol.1 phần glycerol được sinh ra khi tạo được 10
phần diesel-sinh-học. Trước đây, chất xúc tác lấy từ hoá
chất của kỹ nghệ lọc dầu hoả, hay Acit sulphuric (đắt tiền
và không tái tạo được). Ngày nay, đã khám phá thêm nhiều
chất xúc tác mới hữu hiệu, rẻ tiền biến dầu thành nhiều
diesel-sinh-học hơn.
Điều chế Methanol
Điều chế rượu methanol
từ khí methane (CH4)
của khí đốt dầu hoả hay methane-sinh-học. Một cách tổng
quát, tất cả nguyên liệu sinh-khối (biomas) đều chứa các
nguyên tố chính Carbon (C), Hydrogen (H), Oxy (O), Nitrogen
(N), Sulfur (S).
Lên men yếm khí trong
lò ủ, chất hửu cơ huỷ hoại thành khí methane (CH4):
HONS + H2O
→ CH4
+ CO2
+ H2
+ H2O
+ NH4
+ HS
Khí methane sản xuất
từ lò ủ yếm khí chiếm khoảng 65% và CO2
khoảng 35% thể tích. Sau đó, methane được tổng
hợp thành ethanol, hay methanol.
Trong sản xuất kỹ
nghệ, khí methane phản ứng với hơi nước ở áp suất 10-20
atmospheres (1-2 MPa) và 850°C với Nickel làm chất xúc tác
sẽ cho ra Hydrogen và Carbon monoxide:
CH4+
H2O
→ CO + 3 H2
Với một chất xúc tác
khác (gồm hợp chất đồng, oxit kẻm và nhôm), ở áp suất 50-100
atmospheres (5-10 MPa) và 250°C, tổng hợp Hydrogen và Carbon
monoxide tạo thành methanol:
CO + 2 H2
→ CH3OH
Với kỹ thuật này cũng
sản xuất được khí Hydrogen rẻ tiền, cũng là một
nhiên-liệu-thể khí.
Một phương pháp khác
là công-nghệ-khí-hoá (gasification), phân hủy nhiệt nhiên
liệu khối rắn để tạo ra nhiên liệu khí, dựa trên biến đổi
plasma. Đun chất hửu cơ ở nhiệt độ rất cao, trong điều kiện
không có oxy, để phá huỷ các “cầu nối” (bond) của phân tử
hửu cơ thành “khí-tổng-hợp” (synthesis gas, syngas), rồi
dùng các khí này biến chế ethanol hay diesel-sinh-học. Trong
trường hợp rác-gia-cư, dùng nhiệt độ cao (250°C) với áp suất
thật cao (40 MPa hay 400 atmospheres) đủ để sản xuất
khí-tổng-hợp. Chẳng hạn, cứ mỗi 10 kg vỏ-bánh-xe-hơi củ tạo
được 15.4 lít ethanol.
Một khám phá mới của
Đại học Arkansas (Hoa Kỳ) cho biết vi khuẩn kỵ khí
Clostridium ljungdahlii trong bao tử gà có thể biến khí
chứa 1 C như methane (CH4),
Carbon monoxide (CO) của lò ủ yếm khí thành methanol.
NGUỒN NGUYÊN LIỆU
SẢN XUẤT XĂNG-SINH-HỌC
Tất cả thực vật
quang-tổng-hợp đều có thể biến chế thành xăng-sinh-học.
Cây nông phẩm chứa
đường gồm mía, củ cải đường, cao lương-đường; nông phẩm chứa
tinh bột gồm hạt ngủ cốc như lúa mì, lúa, bắp, sorgho, v.v.;
củ như khoai tây, khoai mì, khoai lang.
Mía có hiệu quả kinh
tế nhất vì cho năng suất thân (khoảng 170-200 t/ha ở Brazil,
80-100 t/ha ở Úc, Việt Nam khoảng 35-50 t/ha), biến chế
ethanol thẳng từ nước ép, bã mía dùng làm năng lượng chạy
máy ép và chưng cất ethanol. Mía sản xuất trung bình 15,500
lít ethanol/ha/năm, và cứ 1 tấn chất khô mía sản xuất được
438 lít ethanol. Brazil sản xuất ethanol chính từ mía. Cao
lương-đường hiện được ưa chuộng hơn mía ở một số vùng nhiệt
đới khô hạn, có hiệu quả kinh tế hơn mía. Cao lương-đường
canh tác ở Hoa Kỳ cho 28,500 lít ethanol/ha/vụ-4-tháng.
Nông phẩm chứa dầu như
đậu nành (sản xuất 379 kg dầu/ha/năm, hay 450 lít
dầu/ha/năm), đậu phộng (sản xuất 887 kg dầu/ha/năm),
hột-cải-dầu (hột chứa 55% dầu; sản xuất 999 kg dầu/ ha/năm,
hay 1,188 lít/ha/năm), hạt bắp (140 lít dầu/ha/năm), v.v.
Cây kỹ nghệ cho dầu
như dừa-dầu (oil palm, sản xuất 7,061 kg dầu/ha/năm), dừa
(coconut, sản xuất 2,260 kg dầu/ha/năm), cây dầu-lai (Jatropha
curcas, sản xuất 1,588 kg dầu/ha/năm), thầu dầu (castor
bean, sản xuất 1,188 kg dầu/ha/năm), hướng dương (sunflower,
sản xuất 801 kg dầu/ha/năm, hay 954 l/ha/năm), safflower
(556 l/ha/năm), v.v.
Thực vật hoang dại:
tảo (algae) nước ngọt, tảo biển, lục bình (Eichornia
crassipes), cỏ Vetiver, cỏ voi (elephant grass,
Pennisetum purpureum, sản xuất 13,700 lít
ethanol/ha/năm), lác (Cyperus), cỏ tranh (Imperata
cylindrica), v.v.
Phó sản thực vật từ
sản xuất cây nông phẩm và cây kỹ nghệ: rơm rạ, bả mía, thân,
gổ, mạt cưa, trấu, hột cao su (sản xuất 217 kg dầu/ha/năm),
hạt bông vải (sản xuất 273 kg dầu/ha/năm.
Giấy phế thải: 1 tấn
giấy củ sản xuất khoảng 416 lít ethanol.
Rác thành phố: 1 tấn
rác sản xuất khoảng 227 lít ethanol.
Uế thải chuồng trại
gia súc: phân chuồng (tạo methane-sinh-học rồi chế
methanol).
HIỆN TRẠNG
XĂNG-SINH-HỌC TRÊN THẾ GIỚI
Mặc dầu xăng-sinh-học
đắt hơn xăng-cổ-sinh, mọi quốc gia trên thế giới đều dần dần
chuyển hướng đến sử dụng xăng-sinh-học, vì lý do chính trị
muốn ít tuỳ thuộc vào Trung Đông, vì tuân thủ theo quy ước
Kyoto giảm sa thải khí nhà kiến và sức ép của giới môi sinh,
đồng thời phát triển nông nghiệp tạo công ăn việc làm cho
vùng thôn quê.
Brazil: Bắt
nguồn từ khủng hoảng dầu hoả 1972, Brazil có kế hoạch sản
xuất xăng-sinh-học, và hiện nay dẫn đầu thế giới về sản xuất
và sử dụng xăng-ethanol và diesel-sinh-học. Hiện tại (2006)
Brazil đã có trên 325 nhà máy ethanol, và khoảng 60 nhà máy
khác đang xây cất, để sản xuất xăng-ethanol từ mía (đường,
nước mật, bã mía), và bắp. Để sản xuất diesel-sinh-học từ
hạt cải-dầu và đậu nành, hiện có 10 nhà máy, và 40 nhà máy
khác đang xây cất.
Năm 2005, Brazil sản
xuất 16 tỷ lít ethanol, chiếm 1/3 sản xuất toàn cầu. Năm
2006, Brazil sản xuất được 17.8 tỷ lít ethanol, dự trù sẽ
sản xuất 38 tỷ lít vào năm 2013. Chính phủ Brazil mới đây ra
chỉ tiêu 2% diesel-sinh-học cho 2008, và 5% cho năm 2013.
Ngày nay, diện tích
trồng mía ở Brazil là 10.3 triệu ha, một nửa sản lượng mía
dùng sản xuất xăng-ethanol, nửa kia dùng sản xuất đường.
Tiên đoán là Brazil sẽ canh tác 30 triệu ha mía năm 2020.
Vì lợi nhuận khổng lồ, các công ty tiếp tục phá rừng Amazon
để canh tác mía, bắp, đậu nành cho mục tiêu xăng-sinh-học
vừa tiêu thụ trong nước vừa xuất cảng. Giá xăng-ethanol được
bán bằng nửa giá xăng thường tại Brazil.
Hoa Kỳ: Hoa kỳ
sản xuất Ethanol từ hạt bắp, hạt cao lương và thân cây cao
lương-đường, và củ cải-đường. Khoảng 17% sản lượng bắp sản
xuất hàng năm ở Hoa Kỳ dùng để sản xuất ethanol. Hoa Kỳ đặt
chỉ tiêu sản xuất E10 để cung cấp 46% nhiên liệu cho xe hơi
năm 2010, và 100% xe hơi vào 2012. Hãng General Motor đang
thực hiện dự án sản xuất E85 từ cellulose (thân bắp), và
hiện có khoảng hơn 4 triệu xe hơi chạy bằng E85. Hảng
Coskata đang có 2 nhà máy lớn sản xuất xăng-ethanol. Hiện
tại nông dân Hoa Kỳ chuyển hướng sản xuất lúa mì và bắp cho
xăng-sinh-học, vì vậy số lượng xuất cảng hạt ngũ cốc giảm từ
nhiều năm nay, làm giá nông phẩm thế giới gia tăng Vì giá cả
xăng-sinh-học còn cao hơn xăng thường, chính phủ Mỹ phải trợ
cấp, khoảng 1.9 USD cho mỗi gallon (=3.78 lít)
xăng-sinh-học, trợ cấp tổng cộng khoảng 7 tỷ USD/năm.
Canada: Chỉ
tiêu cho năm 2010 là 45% toàn quốc tiêu thụ xăng E 10.
Âu Châu:
Cộng-đồng Âu châu (EU) ra biểu quyết chung là mỗi quốc gia
phải sản xuất cung cấp 5.75% xăng-sinh-học vào năm 2010, và
10% năm 2020 cho nước mình.
Đức là nước
tiêu thụ nhiều nhất xăng-sinh-học trong cộng đồng Âu châu,
khoảng 2.8 triệu tấn diesel-sinh-học, 0.71 triệu tấn
dầu-thực-vật (tinh khiết) và 0.48 triệu tấn ethanol. Công ty
sản xuất diesel-sinh-học lớn nhất là ADM Oelmühle Hamburg AG
(của Hoa Kỳ), kế đến là MUW (Mitteldeutsche Umesterungswerke
GmbH & Co KG) và EOP Biodiesel AG. Nguyên liệu chánh là củ
cải-đường để sản xuất ethanol, và dầu-cải và dừa-dầu (nhập
cảng từ Mả Lai, Indonesia) cho diesel-sinh-học.
Pháp là nước
thứ hai tiêu thụ nhiều ethanol-sinh-học trong cộng đồng Âu
châu năm 2006, khoảng 1.07 triệu tấn ethanol và
diesel-sinh-học. Công ty Diester sản xuất diesel-sinh-học và
Téréos sản xuất ethanol là 2 đại công ty của Pháp.
Thuỵ Điển có
chương trình chấm dứt hoàn toàn nhập cảng xăng cho xe hơi
vào năm 2020, thay vào đó là tự túc bằng xăng-sinh-học. Hiện
nay, 20% xe ở Thuỵ Điển chạy bằng xăng-sinh-học, nhất là
xăng-ethanol. Thuỵ Điển đang chế tạo xe-hơi-lai vừa chạy
bằng ethanol vừa bằng điện. Để khuyến khích sử dụng
xăng-sinh-học, chính phủ Thuỵ Điển không đánh thuế lên
xăng-sinh-học, trợ cấp xăng-sinh-học rẻ hơn 20% so với xăng
cổ sinh, không phải trả tiền đậu xe ở thủ đô và một số thành
phố lớn, bảo hiểm xe cũng rẻ hơn.
Vương quốc Anh:
chỉ tiêu 5% xe giao thông sử dụng xăng-sinh-học năm 2010.
Hiện tại các xe bus đều chạy xăng-sinh-học. Hảng Hàng Không
Virgin (Anh quốc) bắt đầu sử dụng xăng-sinh-học cho máy bay
liên lục địa.
Các nước Âu châu nhập
cảng dừa-dầu (oil palm) từ Mả Lai và Indonesia để chế
diesel-sinh-học.
Á Châu
Trung quốc: Năm
2005, Trung quốc sản xuất 920,000 tấn ethanol và khoảng
200,000 tấn diesel-sinh-học. Chỉ tiêu sản xuất 4 triệu tấn
ethanol và 2 triệu tấn diesel-sinh-học vào năm 2010, và 300
triệu tấn ethanol vào 2020.
Hiện tại sản xuất xăng
E10 ở 5 tỉnh phía nam, cung cấp 16% nhiên liệu cho toàn xe
hơi ở Trung quốc. Trung quốc cũng trợ cấp khoảng 163 USD cho
mổi tấn xăng-ethanol (nhưng không trợ cấp diesel-sinh-học).
Vì giá cả nông phẩm
gia tăng, và sợ thiếu thực phẩm, hiện nay Trung quốc chỉ cho
phép canh tác khoai mì, cao lương-đường và một số hoa màu
không quan trọng khác trên đất biên tế (nghèo), không thích
ứng sản xuất nông phẩm như ở Shangdong và Xinjiang Uygur.
Hiện tại, Trung quốc
có 2 nhà máy lớn là Longyan Zhuoyue New Energy Development
(thiết lập năm 2001) và Xiamen Zhuoyue Biomass Energy Co.
(thiết lập năm 2006), cả 2 đều ở tỉnh Fujian nam Trung quốc.
Ngoài ra còn khoảng hơn 100 nhà máy quốc doanh nhỏ ở
Guizhou, Guangxi, Shandong, và Anhui, với khả năng sản xuất
từ 300 đến 600,000 tấn diesel-sinh-học/năm, biến chế từ
dừa-dầu (nhập cảng từ Mã Lai), hay từ dầu-ăn-phế-thải, dầu
hạt-cải (trồng ở thung lủng sông Hoàng Hà), dầu bông vải,
dầu trẩu (Aleurites moluccana), hạt dầu-lai (jatropha,
trồng vùng đồi núi ở Guizhou, Sichuan, và Yunnan trong
chương trình xoá đói giảm nghèo) và các phế thải hửu cơ
khác.
Hàng năm, Trung quốc
tiêu thụ khoảng 22 triệu tấn dầu ăn trong kỹ nghệ thực phẩm,
sa thải khoảng 4.5 triệu tấn dầu đã-sử-dụng (sau khi chiên
xào rồi) để chạy vào dây chuyền sản xuất diesel-sinh-học.
Để tìm nguồn nguyên
liệu khác, các nhà khoa học Trung quốc nghiên cứu cho biết
có 1553 loài cây rừng chứa nhiều dầu có khả năng khai thác
sản xuất diesel-sinh-học, trong đó là Pistacia chinensis
Bungo chứa 40% dầu trong thân mọc trên đồi núi. Trung quốc
cũng dự trù trồng 670,000 ha cây dầu-lai (jatropha)
để sản xuất diesel-sinh-học.
Ấn Độ: Chính
phủ có chính sách sử dụng xăng-ethanol E5 hiện nay, sẽ tăng
lên E10 và E20 trong những năm tới. Ần Độ gia tăng diện tích
trồng cây dầu-lai để sản xuất diesel-sinh-học, và diện tích
canh tác mía cho xăng-ethanol.
Mả Lai và Indonesia
đã phá rừng canh tác thêm dừa-dầu (oil palm) để xuất cảng
dầu cho thị trường Âu châu, Hoa Kỳ và Trung quốc cho mục
tiêu sản xuất diesel-sinh-học. Hai quốc gia này dự trù cung
cấp 20% nhu cầu dầu cho kỹ nghệ diesel-sinh-học của Âu châu
vào 2009. Chẳng hạn, tại Tây Kalimantan thuộc Indonesia
trong thập niên 1990s có nửa triệu ha cây dừa-dầu, nay
(2006) diện tích dừa dầu tăng lên hơn 3.2 triệu ha, và sẽ
gia năng lên nữa trong tương lai. Indonesia có chương trình
phá rừng để gia tăng diện tích dừa-dầu toàn quốc lên 20
triệu ha. Liên Hiệp Quốc đã cảnh cáo Indonesia về việc phá
rừng quy mô này, và tiên đoán rằng 98% rừng Indonesia sẽ bị
phá huỷ vào 2022 với đà phá rừng trồng dừa-dầu hiện nay.
Thái Lan. Từ
năm 1985, Thái Lan đã bắt đầu nghiên cứu sản xuất
xăng-sinh-học. Uỷ ban Nhiên-liệu-sinh-học được thành lập năm
2001 để điều hành, và xăng E10 đã bắt đầu bán ở các trạm
xăng từ 2003.
XĂNG-SINH-HỌC CÓ
THẬT SỰ LÀ CỨU TINH TRÁI ĐẤT?
Toàn cầu đang trên đà
gia tăng nhiệt độ, lý do chính là do gia tăng số lượng khí
nhà kiến phóng thích vào khí quyển do cuộc sống văn minh con
người gây nên.
Lợi ích của
xăng-sinh-học.
Đốt xăng-sinh-học sa
thải 18-30% khí nhà kiếng ít hơn đốt xăng-cổ-sinh. Ngoài ra,
số khí CO2
sa thải này được cây hấp thụ lại để tái tạo
xăng-sinh-học, như vậy coi như không có làm gia tăng khí CO2
trong khí quyển. Tường trình của Viện Nghiên
Cứu EMPA Thuỵ Sỉ cho biết trong số 26 loại xăng-sinh-học
biến chế từ các nguồn nguyên liệu thực vật khác nhau có 21
loại xăng thải 30% khí-nhà kiến ít hơn xăng-cổ-sinh.
Đại học Minnesota cho
biết ethanol-sinh-học sản xuất từ bắp sa thải CO2
ít hơn 12% so với xăng, và diesel-sinh-học 41%
CO2
ít hơn so với diesel từ dầu mỏ. Ô nhiễm môi trường sẽ
ít hơn, và sức khoẻ con người nhờ vậy tốt hơn.
Biến chế xăng-sinh-học
cần nguyên liệu thực vật nên tạo nhiều công ăn việc làm mới
cho nông dân. Trung quốc và Ấn độ khuyến khích sản xuất
xăng-sinh-học một phần nằm trong chương trình xoá đói giảm
nghèo ở các vùng đất khô cằn, không thích ứng trồng cây
lương thực.
Ngoài ra, đây cũng là
cơ hội giúp khoa học tiến nhanh, tiến mạnh trong nghiên cứu
đi tìm năng-lượng-xanh hiệu quả cho toàn cầu, thay thế năng
lượng từ nhiên-liệu-cổ-sinh sẽ kiệt quệ vào cuối thế kỷ này.
Bất lợi của
xăng-sinh-học
Mặc dầu xăng-sinh-học
sa thải ít khí-nhà-kiếng hơn xăng-cổ-sinh, tường trình của
Viện Nghiên Cứu EMPA Thuỵ Sỉ cũng cho biết là có 12 loại
xăng-sinh-học có ảnh hưởng xấu trầm trọng vào môi sinh thế
giới hơn xăng-cổ-sinh, trong số đó là ethanol biến chế từ
bắp của Hoa Kỳ, từ mía của Brazil, diesel-sinh-học từ đậu
nành của Brazil và từ dừa-dầu của Mả Lai và Indonesia.
Nhà khoa học được giải
thưởng Nobel là Paul Crutzen cho biết lượng khí N2O
thải từ đốt xăng-sinh-học chế từ dầu-cải, dừa-dầu và bắp góp
phần vào gia tăng nhiệt toàn cầu còn mảnh liệt hơn đốt
nhiên-liệu-cổ-sinh, bởi vì xăng-sinh-học thật sự thải vào
không khí nhiều khí-nhà-kiếng hơn xăng-cổ sinh. Nếu chỉ tính
từ việc đốt xăng thì xăng-sinh-học quả thật cho ít
khí-nhà-kiếng, nhưng nếu tính từ lúc sửa soạn đất đai, canh
tác, phân bón, thuốc sát trùng, tưới nước, thâu hoạch, chế
biến, v.v. để thành xăng-sinh-học, tất cả các khâu này đều
cần rất nhiều năng lượng lấy từ nhiên-liệu-cổ-sinh, thì sử
dụng xăng-sinh-học, vừa đắt tiền hơn, vừa sa thải nhiều
khí-nhà-kiến hơn xăng-cổ-sinh, chưa kể tai hại thảm khốc vào
môi sinh khi phá thêm rừng Amazon của Nam Mỷ (để trồng thêm
mía và đậu nành), rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á (để trồng
dừa-dầu) và Phi châu (bắp, sorgho), khai khẩn đất than-bùn ở
Âu Châu (củ cải-đường). Chẳng hạn, để sản xuất ethanol từ
bắp ở Hoa Kỳ, người ta tính rằng cần tới 35 % năng lượng
nhiều hơn (kể từ khi gieo đến khi thành ethanol) số năng
lượng mà ethanol cho ra khi đốt. Trung bình, để sản xuất
được 1 lít ethanol 95% từ bắp thì cần 1.1 lít xăng-cổ-sinh
để canh tác và biến chế. Tuy nhiên, số năng lượng để sản
xuất ethanol từ bắp này, thay vì lấy từ nhiên-liệu-cổ sinh,
nay có thể lấy từ nguồn năng lượng tái tạo khác như mặt
trời, gió, hay sinh-khối, v.v. Ngoài ra, hiệu quả năng lượng
chạy động cơ của diesel-sinh-học biến chế từ hạt hướng-dương
chỉ bằng 46% tổng năng lượng để tạo ra (kể từ lúc gieo
trồng). Năng lượng chế tạo ra diesel-sinh-học từ đậu nành
(kể từ gieo trồng) cao gấp 3.2 lần năng lượng cần để khai
thác xăng-cổ-sinh. Đại học Princeton (Hoa Kỳ) cũng cho biết
thay vì tiết kiệm 20% khí CO2
thải vào khí quyển, canh tác bắp và phương pháp
biến chế xăng-ethanol hiện nay thật sự làm gia tăng gấp đôi
khí-nhà-kiến sa thải (Science, 2008, Vol. 319, No. 5867,
trang 1238-1240).
Xăng-sinh-học cạnh
tranh với nông phẩm của người và gia súc, làm giá nông phẩm
gia tăng trên thị trường thế giới hiện nay (khoảng 50% so
với 3 năm trước đây), làm ảnh hưởng đến chăn nuôi gia súc và
tôm cá, làm cạn kiệt kho thực phẩm an toàn của thế giới. Để
có lợi nhuận nhiều, nông dân ở Hoa Kỳ và Âu châu chuyển
hướng giảm diện tích lúa mạch (barley, làm rượu bia, không
lợi để làm ethanol), đồng cỏ để trồng bắp, lúa mì,
củ-cải-đường. Ngoài ra, vì để sản xuất xăng-sinh-học các
quốc gia giàu đã giảm viện trợ nông phẩm thặng dư cho các
nước nghèo đói. Chẳng hạn, trung bình hàng năm Anh quốc sản
xuất thặng dư 3.5 triệu tấn lúa mì, số lượng này đủ tạo
xăng-ethanol cung ứng 3.5% xăng tiêu thụ ở Anh quốc. Thay vì
số lúa mì này bán cho chính phủ trong chương trình viện trợ
dân nghèo ở Phi Châu như trước kia, nông dân bán cho các
công ty sản xuất xăng-ethanol. Chương trình viện trợ nông
phẩm thặng dư của Hoa Kỳ PL 480 (Thực phẩm cho Hoà bình,
Food for Peace) cho các quốc gia nghèo cũng bị ảnh hưởng
tương tự.
Gia tăng phá rừng.
Hiện nay, khoảng 12 triệu ha – tức khoảng 1% diện tích canh
tác toàn thế giới – được dùng sản xuất xăng-sinh-học: mía và
bắp để biến chế ethanol; dầu-hạt-cải (oil seed rape) và
dừa-dầu (oil palm) để biến chế diesel-sinh-học. Năng lượng
dùng canh tác phải tính từ lúc cày xới, máy gieo hạt, phân
bón, thuốc sát trùng, tưới nước, máy thâu hoạch, phơi sấy
khô, lên men, chưng cất v.v. Tổng số năng lượng này cao hơn
năng lượng sinh ra từ xăng-sinh-học. Ngoài ra, khi phá rừng,
cày xới đất, chất hữu cơ trong đất bị thiêu huỷ và số lượng
CO2
sa thải vào khí quyển rất lớn.
Nghiên cứu của Đại Học
Minnesota (Hoa Kỳ) cho biết phá rừng nhiệt đới (như Brazil,
Malaysia, Indonesia hiện nay), biến cải đất than bùn và đồng
cỏ (như Hoa Kỳ và Âu Châu hiện nay) để canh tác cho mục tiêu
xăng-sinh-học sẽ là một tai hoạ cho thế giới, vì sẽ sa thải
CO2
vào khí quyển từ 17 đến 420 lần nhiều hơn số lượng của
số xăng-cổ-sinh tương đương sa thải. Các nghiên cứu gần đây
cho biết cứ mỗi ha rừng nhiệt đới bị phá huỷ để trồng
dừa-dầu hay bắp hay đậu nành, khoảng 700 tấn CO2
phóng thích vào không khí, và lượng CO2
tiết kiệm được từ sử dụng xăng-sinh-học chỉ là
một phần nhỏ, phải mất 300 đến 400 năm mới huề vốn CO2
này (Science, 2008, Vol. 319, No 5867, trang
1235-1238).
Thế giới sẽ không còn
đất để sản xuất nông phẩm, bởi vì, giả sử rằng Hoa Kỳ muốn
tự túc bằng sử dụng hoàn toàn xăng-sinh-học, thì cần phải sử
dụng 75% diện tích canh tác của toàn thế giới để canh tác
mới đủ xăng-sinh-học cho Hoa Kỳ.
Vì vậy, sản xuất
xăng-sinh-học từ sản phẩm lương thực của con người và gia
súc, chuyển hướng lấy đất màu mở vốn trồng cây lương thực,
việc phá rừng, phá đồng cỏ, cải tạo đất than-bùn để canh tác
sản xuất nguyên liệu biến chế xăng-sinh-học, dùng nhiên-liệu
cổ-sinh để canh tác và biến chế xăng-sinh-học sẽ là tai hoạ
cho nhân loại chứ không phải là vị cứu tinh để thoát khỏi ám
ảnh hâm nóng toàn cầu.
Xăng-sinh-học thật sự
là vị cứu tinh nếu được biến chế từ các phế thải rác rến
thành phố, dư thừa thực vật (rơm, rạ,..), phó sản của nhà
máy (mạc cưa, trấu, bã mía, ..), từ thực vật hoang dại, hay
thực vật được canh tác trên vùng đất biên tế không thích ứng
cho cây lương thực. Năng lượng để sản xuất và biến chế
xăng-sinh-học cũng phải “xanh”.
VIỆT NAM VÀ
XĂNG-SINH-HỌC.
Trong thời kỳ Đệ nhị
thế chiến, xe hơi ở Việt Nam chạy ethanol chế biến từ gạo.
Mặc dầu có nhiều mỏ dầu với trử lượng rất khổng lồ (khoảng
600 triệu barrel ước tính năm 2006, 1 barrel ≈ 159 lít),
nhưng Việt Nam phải nhập cảng xăng và diesel cho xe cộ và kỹ
nghệ còn phôi thai của mình. Chẳng hạn năm 2005, Việt Nam
khai thác được 32,4 triệu tấn than và 18,5 triệu tấn dầu
thô, nhưng đã phải nhập 11,45 triệu tấn xăng và diesel.
Trước trào lưu sử dụng
xăng-sinh-học của thế giới, Việt nam cũng đã bị lôi cuốn
theo trào lưu này. Từ cả chục năm nay, báo chí trong nước
cũng thường đề cập đến việc phát triển xăng-sinh-học trên
thế giới, nhất là khi giá cả xăng dầu tăng vọt. Tháng 7/2006
tại Sài Gòn, và tháng 10/2007 tại Hà Nội, hàng trăm nhà khoa
học và kinh doanh ở Việt Nam hội thảo chung quanh vấn đề
xăng-sinh-học. Qua các cuộc hội thảo này và báo chí
trong nước vào thời điểm này thì chính phủ Việt Nam chưa
chuẩn bị gì cho chiến lược, ngoài một số cá nhân chuyên gia
và nhà kinh doanh có tầm nhìn xa, chạy trước thời cuộc.
Chẳng hạn, về nguyên liệu thì bàn về sử dụng lúa gạo, mía
đường, để tạo ethanol; cây dầu-lai (miền Bắc gọi là cây
dầu-mè – Jatropha curcas), mở cá ba-sa (khoảng 40,000
tấn/năm). Hội thảo cũng cho biết 3 lý do chính chưa phát
triển ngành xăng-sinh-học là: (i) số lượng nguyên liệu sản
xuất xăng-sinh-học là tinh bột ngủ cốc, mật rỉ đường và mỡ
cá ba-sa còn hạn chế; (ii) chưa có đầu tư thích đáng vì chưa
có hỗ trợ của chính phủ, (iii) chính phủ chưa có chính sách.
Chung qui, các nhà khoa học và kinh doanh đang mong chờ
chính phủ ban hành chính sách và luật lệ rỏ ràng. Các công
ty mía đường (như Lam Sơn ở Thanh Hoá), Sài Gòn Petro, Công
ty Rượu Bình Tây, Công ty Chí Hùng, v.v. cũng đã có dự án
sản xuất ethanol làm nhiên liệu, khi chánh phủ phất cờ cho
phép. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nhà kinh doanh nào dám
bỏ tiền vào nghiên cứu và đầu tư khi chính phủ chưa có chính
sách quy định, chưa có phối hợp ăn khớp giữ các Bộ, thủ tục
nhiêu khê: thủ tục đất đai canh tác thì quản lý bởi Bộ Nông
nghiệp; quy định tiêu chuẩn sản xuất pha chế xăng-sinh-học
thì quản lý bởi Bộ Khoa học-Công nghệ; và sử dụng xăng dầu
phải có ý kiến của Bộ Giao thông-Vận tải, v.v.
Theo báo “Khoa Học Phổ
Thông” ngày 14/12/2006, thì “Bộ Công nghiệp VN đang xây dựng đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm
2015, tầm nhìn 2020”, theo đó “Giai đoạn 2011-2015, sẽ
phát triển mạnh sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học thay
thế nhiên liệu truyền thống, mở rộng quy mô sản xuất và mạng
lưới phân phối phục vụ cho giao thông và các ngành sản xuất
công nghiệp khác. Đến năm 2020, công nghệ sản xuất sinh học
ở VN sẽ đạt trình độ tiên tiến trên thế giới, với sản lượng
đạt khoảng 5 tỷ lít xăng E10 và 500 triệu lít dầu biodiesel
B10/năm”
Ngày 20/11/2007, Thủ
tướng chính phủ đã ký phê duyệt “Đề án phát triển
nhiên-liệu-sinh-học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”
trong đó đặt mục tiêu đến năm 2015, sản lượng ethanol và dầu
thực vật đạt 250 nghìn tấn, đáp ứng 20% nhu cầu xăng dầu của
cả nước bằng xăng E5 (pha 5% cồn) và dầu B5 (Diesel pha 5%
dầu sinh học), và đến năm 2025, đạt 1.8 triệu tấn, đáp ứng
100% nhu cầu của cả nước bằng xăng dầu pha nhiên liệu sinh
học trên. Và khoảng thời gian từ nay đến 2010 là nghiên cứu
và ban hành luật lệ liên quan đến sản xuất và sử dụng
xăng-sinh-học.
Việt Nam với đất hẹp
(diện tích canh tác khoảng 9.3 triệu ha), dân đông (85 triệu
năm 2007, trung bình mổi đầu người 0.11 ha), lại nghèo (GDP
trung bình toàn dân là US$726/đầu người năm 2006, của nông
dân chỉ khoảng 1/2), vùng sản xuất nông nghiệp chính là đồng
bằng Cửu Long và Sông Hồng đã quá tải. Đất canh tác hiện nay
phải tiếp tục sản xuất nông phẩm thiết yếu cho đời sống
người dân (chánh yếu là lúa, hoa màu phụ, cây kỹ nghệ) để tự
túc và xuất cảng. Vì vậy Việt Nam phải tìm nguồn nguyên liệu
thực vật nào để sản xuất xăng-sinh-học mà:
(i) không tranh dành
đất đai với canh tác hoa màu, chăn nuôi gia súc, nuôi cá tôm
hiện tại,
(ii) không được phá
thêm rừng,
(iii) thích hợp trên
diện tích đất bỏ hoang cằn cổi, sa mạc hoá, tổng cộng khoảng
10 triệu ha, gồm đất đồi trọc ở Miền Bắc (4.77 triệu ha),
Bắc Trung Việt (1.9 triệu ha), phía Nam Trung Việt (1.63
triệu ha), và Tây nguyên (1.05 triệu ha),
(iv) có hiệu quả kinh
tế cao, và
(v) tăng lợi tức, giúp
xoá đói giảm nghèo cho nông dân.
Sau đây, tác giả gợi ý
một vài nguyên liệu.
1.
Sản xuất diesel-sinh-học từ hạt cao-su. Việt nam hiện
nay đã có 250,000 ha cao su trưởng thành, và diện tích sẽ
gia tăng nhiều trong tương lai (có thể tới 1 triệu ha). Nếu
thu góp được tất cả hạt của 250,000 ha này, ngay từ bây giờ
Việt Nam có thể sản xuất được 54,250 tấn dầu-cao-su, tương
ứng với 1 triệu tấn diesel-sinh-học B5. Dầu hột cao
su chứa 18.9% saturated acid (palmitic acid và stearic
acid), và 80% unsaturated acid (oleic acid, 24.6 %; linoleic
acid, 39.6 %; và linolenic acid, 16.3 %). Hột cao su chín
rụng rộ vào khoảng tháng 7 và 8 dương lịch, rất thuân tiện
cho các em học sinh nghỉ hè kiếm lợi tức trong việc thu lượm
hột. Các cơ sở đồn điền cao su đều đã có sẳn máy móc và
phương tiện ép dầu.
2. Canh tác cao
lương-đường (Sweet sorghum) trong mùa hạn trên vùng
ruộng sạ ở đồng bằng Cửu Long. Trước 1960, sau khi gặt lúa
sạ, tại An Giang Châu Đốc đất bỏ hoang từ tháng 1 đến tháng
5 dương lịch là lúc mùa khô, thiếu nước canh tác. Bắt đầu
khoảng sau 1965, nông dân trồng cao lương-hạt (grain
sorghum, lúa miến) trong các tháng này trên đất thiếu nước
bơm để làm thực phẩm gia súc và cá, và lúa thần-nông trên
một số ruộng đất dọc sông rạch có khả năng bơm nước. Hiện
nay, đa số đất còn bỏ hoang trong mùa nắng vì thiếu nước,
hay không lợi khi canh tác lúa (vì giá xăng, phân, thuốc quá
cao).
Các vùng ấm hay nóng ở
miền Nam Hoa Kỳ đã canh tác cao lương-đường từ hàng trăm năm
nay để sản xuất xi-rô (sirup). Các giống Hoa Kỳ này cho năng
xuất hột thấp nhưng thân có nhiều đường. Viện Nghiên Cứu
Quốc Tế Nông Nghiệp Vùng Khô Hạn (ICRISAT) dùng các giống
này để lai tạo thành các “giống lai” vừa cho năng xuất hột
cao, năng xuất thân cao và độ đường cao ở cả hột và thân.
Thân cao lương-đường chứa 15 đến 23% đường, thân mía chứa
12-15% đường. Chẳng hạn giống lai “Madhura” được lai tạo để
có thân chứa nhiều đường (sweet-stem sorghum hybrid) dùng để
chế biến ethanol, sirup và đường kẹo. Giống lai Madhura ngắn
hạn (120 ngày), trồng 2 vụ/năm cho năng xuất hột tổng cộng
từ 2 đến 4 tấn/ha, 5-7 tấn lá khô (cho trâu bò ăn), 15-20
tấn bã (thân sau khi ép lấy đường, làm thức ăn trâu bò), 3-6
tấn đường kẹo hay 5-9 tấn sirup (75% đường), hay 3000 - 4000
lít ethanol 95%. Giống SSH-104 có chu kỳ sinh trưởng 100 –
115 ngày, thân chứa 23% đường, một vụ trồng (4 tháng) cho
năng suất thân cây 95-125 tấn/ha, so với mía khoảng 65-90
tấn/ha với vụ trồng dài 10-12 tháng.
Tại vùng Imperial
Valley của California, 1 ha trồng cao lương-đường trong 1 vụ
4 tháng sản xuất: 5,600 lít ethanol + 20 tấn xác bã khô (có
thể biến thành 10 Megawatt-giờ điện).
Cao lương chịu hạn
hán, chịu được đất phèn, đất mặn, đất kiềm, chịu được nước
ngập, ít sâu bọ bệnh tật, ít đòi hỏi phân bón, ít tốn nước
tưới (chỉ bằng 1/4 nhu cầu nước của mía). Mới đây, các khoa
học gia đã cài vào bộ máy di truyền cao lương-đường gen chịu
đựng đất phèn nặng vì nhôm. Vùng đất phèn Tứ Giác Long Xuyên
nên chọn các giống chịu phèn này.
Cao lương-đường, cũng
như cao lương hạt, chịu được khô hạn, nhu cầu nước tối thiểu
là 175 m3/ha/vụ,
chỉ bằng 1/4 nhu cầu nước để canh tác mía (700 m3/ha/vụ),
trong lúc lúa nước cần từ 9,000 đến 15,000 m3/ha/vụ
. Lá cao lương có một lớp sáp ngăn chận thoát hơi nước, nên
cao lương sử dụng nước hiệu quả hơn các ngũ cốc khác. Chồi
và hoa được sinh sản và phát triển trong một thời gian dài,
nên khi gặp khô nóng ngắn hạn không bị ảnh hưởng vào thụ
phấn. Nếu khô hạn kéo dài, phát hoa ít và nhỏ hơn, trong lúc
thân cây chứa nhiều đường hơn. Cao lương cần 310 lít nước để
sản xuất 1 kg chất khô, trong khi bắp cần 370 lít nước. Chỉ
cần 4000 m3
nước để canh tác, cao lương-đường sản xuất được
1000 lít ethanol, trong lúc mía phải cần tới 36,000 m3
nước để cho kết quả tương đương. Tổng hợp hết
mọi chi phí tại Hoa Kỳ kể từ canh tác cho tới chế biến xong
xuôi, sản xuất 1000 l ethanol từ cao lương-đường tốn 81.6
USD, từ bắp tốn 89.2 USD, và từ mía tốn 111.5 USD. Năng suất
toàn cây trung bình 90-120 tấn/ha/vụ (4 tháng).
Năng suất đường, cũng
như năng suất toàn cây cao nhất khi nhiệt độ không khí trung
bình 26-27°C, nhiệt độ đất 18-20°C. Quang-tổng-hợp tối đa ở
nhiệt độ ban ngày 32°C. Trong một mùa canh tác (4 tháng), 1
ha cao lương hấp thụ 40 tấn C từ không khí qua
quang-tổng-hợp.
Năng lượng cần thiết
để biến nước ép từ thân cao lương-đường (chính là đường) ra
ethanol chỉ bằng 50% năng lượng cần thiết để biến hạt bắp
(chính là tinh bột) ra ethanol.
Ần độ cũng nghiên cứu
tuyển chọn dòng men hửu hiệu để lên men nước ép từ thân
sorgho-đường thành rượu, cho biết dòng men NCIM 3319 hữu
hiệu nhất, biến 90% đường thành rượu trong 48-72 giờ.
Cây
dầu-lai (Jatropha curcas L.). Cũng còn gọi là
cây-dầu-mè hay cây-hàng-rào, cùng họ với khoai mì, cao su
(Euphorbiaceae). Trên thế giới có khoảng 175 loài, Việt Nam
có 5 loài, trong số đó có cây dầu-lai (Jatropha curcas
L.). Cây dầu-lai gốc Trung Mỷ, trồng ở Việt Nam từ lâu đời
để lấy dầu từ hạt, hạt chứa khoảng 40% dầu. Cây cao 1-5 m,
trồng được nơi khô hạn với vũ lượng 200 mm/năm cho tới nơi
có vũ lượng 1200 mm/năm, lý tưởng là 600 – 1000 mm/năm. Khô
hạn liên tục 3 năm chỉ làm lá rụng nhưng cây không chết.
Vùng duyên hải khô cằn Ninh Thuận Bình Thuận với vũ lượng
trung bình 600 mm/năm, hiện bỏ hoang, là nơi thích hợp canh
tác cây-dầu lai. Cũng canh tác được trên các đồi trọc (vừa
bảo vệ chống xói mòn, vừa cho dầu), đất đang sa-mạc-hoá, đất
kiềm vùng duyên hải Trung Việt. Cây không chịu được úng
nước, hay đất dốc quá 30 độ, và đất acit (pH <7), pH thích
hợp 8-9, thích hợp vùng đất cà giang duyên hải Trung Việt.
Không có sâu bọ hay bệnh tật, ngoại trừ đốm lá do
Cercospora. Cây trồng bằng hột hay bằng nhánh giâm dể
dàng. Nhánh giâm cho trái sau một năm, trồng bằng hạt sau 2
năm. Khoảng cách trồng 2m x 2 m, khoảng 2500 cây/ha. Cho
năng xuất hạt cao kể từ năm thứ 4, và thọ khoảng 50 năm. Một
cây đơn độc cho 2 kg trái/cây, trung bình năng suất hột từ 3
đến 6 tấn hột/ha/năm, tuỳ đất tốt hay xấu. Trên đất xấu, cho
trung bình 0.9 tấn dầu/ha/năm, đất trung bình 1.6 – 2 tấn
dầu/ha/năm. Trung bình 4 kg hột ép được 1 lít dầu. Cây
dầu-lai có thể trồng xen kẽ với cà phê, cây ăn trái và rau
hoa. Dầu có chất độc (không ăn được), trước đây dùng làm đèn
cầy, xà phòng, ngày nay làm diesel-sinh-học. Ấn độ dự trù
canh tác 14 triệu ha để sản xuất diesel-sinh-học.
Lục
bình (Eichornia crassipes). Lục bình xưa nay coi như
cỏ dại, sống bềnh bồng trên sông, rạch, ao, hồ, cản trở ghe
tàu lưu thông, ngăn cản dòng nước chảy, v.v. Tuy nhiên,
nghiên cứu gần đây cho biết lục bình là một nguyên liệu hữu
hiệu để sản xuất khí-đốt-sinh-học và xăng-sinh-học. Lục bình
cũng dùng để lọc nước phế thải từ nhà máy biến chế thực
phẩm, trại chăn nuôi, nước cống rãnh thành phố. Rễ lục bình
hấp thụ các kim loại độc trong nước phế thải như chì, thuỷ
ngân, strontium, v.v. và chứa các chất này trong rễ với nồng
độ gấp 10,000 lần nồng độ kim loại chứa trong nước. Phần cây
tươi chứa 95.5% nước, 0.04% N, 0.06% P2O5, 0.2% K2O, 1% chất
tro, và 3.5% chất hửu cơ. Lục bình được dùng làm thức ăn cho
trâu bò (lên men dưa lục bình với 2% muối, hay ăn tươi),
phơi khô đun bếp, tro làm phân, cọng lục bình phơi khô dùng
đan giỏ, thủ công, v.v.
Lục
bình tăng trưởng rất nhanh, mỗi năm có thể thâu hoạch 4 lần,
tổng năng xuất chất tươi/ha/năm biến thiên giữa 20 và 200
tấn ở Florida canh tác từ trong nước sông hồ (không phân
bón), cho 300 tấn nếu canh tác trong nước sa thải của thành
phố, từ chưồng trại gia súc. Canh tác tại Ấn độ cho năng
xuất khoảng 150 tấn chất tươi/ha/năm. Lục bình không sống
được ở nước mặn chứa quá 5 g muối/l.
Lục
bình sản xuất chất khô (dry matter) khoảng 60-80 tấn/ha/năm
ở miền nam Hoa Kỳ (không phân bón), như vậy cao hơn cỏ voi
(57 tấn), mía (55 tấn), cao lương (37 tấn), cây rừng bạch
đàn Eucalyptus (15 tấn), thông (9 tấn), hướng dương (6 tấn)
canh tác với phân bón.
Năng lượng chứa trong 1 tấn chất khô lục bình tương đương
với 2.4 barrels dầu hoả (= 381 lít). Cứ mỗi kg chất khô lục
bình sản xuất 370 lít khí-sinh-học cho năng lượng 22,000
KJ/m3
(580 Btu/ft3),
còn methane ròng 100 % cho 895 Btu/ft3.
NAS của Hoa kỳ ước lượng rằng 1 ha lục bình ở miền nam Hoa
Kỳ sản xuất 70,000 m3
khí-sinh-học (gồm 70% methane, 30% CO2).
Nước phế thải từ lên men sản xuất khí-sinh-học dùng làm phân
hửu cơ.
Tại
Ấn độ, 1 tấn lục bình phơi khô (không phải chất khô) cho
khoảng 50 lít ethanol và 200 kg chất phế thải dùng làm phân
bón. Lên men yếm khí 1 tấn lục bình khô cho 750 m3
khí-sinh-học (600 Btu), trong đó chứa 51.6%
methane, 25.4% hydrogen, 22.1% CO2,
và 1.2% oxygen. Với kỹ thuật hoá-khí (gasification) ở nhiệt
độ cao (800°C) với hơi nước, 1 tấn chất khô lục bình sản
xuất 1,100 m3
khí-đốt-tổng-hợp (syngas) chứa 16.6% H2,
4.8% methane, 21.7% CO, 4.1% CO2, và 52.8% N.
Hiện nay, trên sông Tiền Giang, Hậu Giang và một số sông
rạch lớn, một số ít nông dân đóng cọc dọc bờ sông trồng lục
bình để lấy sợi dùng đan lác thủ công xuất cảng (như mủ, giỏ
xách, ..). Các dề lục bình này cũng bảo vệ được bờ sông
tránh xói lở do sóng ghe tàu gây nên, trong khi giữa dòng
sông trống trải để ghe tàu lưu thông. Cần phát triển trồng
lục bình dọc sông rạch bên trong các cọc, như nông dân canh
tác hiện nay. Đặc biệt, lục bình có năng xuất rất cao ở
những ao hồ thanh lọc nước thải ở các nhà máy biến chế hải
sản, chăn nuôi gia súc, nơi thải nước cống thành phố.
Tảo
(Algae): là nguồn thực vật
đầy hứa hẹn để sản xuất diesel-sinh-học. Cũng cần biết rằng
dầu hoả bắt nguồn từ huỷ hoại tảo, chất hửu cơ trầm tích,
phiêu sinh, vi sinh vật ở thời cổ đại. Tảo là thực vật có
khả năng quang-tổng-hợp, lấy năng lượng mặt trời biến CO2
thành đường, từ đó tạo protids và lipids. Tảo
mọc trong nước ngọt hay nước mặn, từ trong vủng nước nhỏ, ao
hồ hay biển. Tuỳ theo loại, tảo giàu protein (như
Spirulina maxima chứa 60-70%; Chlorella vulgaris
chứa 51-58% protein trọng lượng chất khô), chất bột
(carbohydrates) (như Botryococcus braunii chứa 86%,
Spirogyra sp. chứa 33-64%; Porphyridium cruentum
chứa 40-57% trọng lượng chất khô), và lipids (như
Scenedesmus dimorphus, chứa 16-40%; Prymnesium parvum
chứa 22-40%).
Các
vi sinh gồm tảo, diatoms, và cyanobasteria được gọi chung là
“vi-tảo” (microalgae) chứa nhiều dầu và chất béo (trên 30%)
là nguyên liệu chế diesel-sinh-học.
Tảo có thể canh tác
trong thùng (tank), trong ao, hồ, biển. Quan trọng là phải
đầy đủ ánh sáng (mặt trời hay đèn), đầy đủ CO2
hoà tan trong nước (bằng cách bơm không khí vào
nước như nuôi cá, hay bơm khí CO2),
chất dinh dưởng như phân bón hoá học, chất hửu cơ như nước
thải từ cống rảnh. Nếu canh tác tảo ngoài biển, cần phải bón
thêm phân chứa sắt (iron). Loại tảo xanh Chlorophyceae
(green algae) cho nhiều carbohydrates hơn lipids, tăng
trưởng mạnh ở 30°C, cần nhiều ánh sáng và nước có độ dẩn
điện 55 mmho/cm. Tảo cho tỷ lệ dầu cao khi canh tác trong
môi trường thiếu chất dinh dưởng, nhưng năng xuất tảo kém
nên năng xuất dầu cũng kém ở môi trường canh tác này.
Nghiên cứu mới đây cho
biết An Giang có 137 loài tảo nước ngọt, đa số là tảo lục
Chlorophyta. Ở vùng nước nhiểm mặn phải chọn giống thích ứng
nước mặn, để canh tác. Cần phải nghiên cứu để khám phá khả năng
chứa dầu trong các loài tảo này.
Để lấy dầu, giản dị nhất
là ép để lấy khoảng 75% dầu chứa trong tảo, phần xác còn pha với
dung môi cyclo-hexane để trích lấy dầu còn lại. Xác tảo sau khi
ép chứa nhiều chất bột, nên cho lên men để sản xuất ethanol, hay
làm thức ăn gia súc.
Năng suất dầu/ha từ tảo
canh tác trong điều kiện lý tưởng cho 200 lần nhiều hơn dầu từ
hoa màu, và trong điều kiện canh tác thông thường cho năng xuất
dầu cao 30 lần hay tệ lắm cũng 15 lần nhiều hơn canh tác
dầu-cải, dừa dầu, đậu nành hay cây dầu-lai (jatropha). Năng suất
tại Hoa Kỳ hiện tại với vi tảo canh tác là 17,300 lít dầu/ha/năm
(gấp 3 lần dừa-dầu của Mả Lai), trong các tank phòng thí nghiệm
với điều kiện lý tưởng cho 46,000 đến 140,000 lít/ha/năm. Phòng
Nghiên Cứu Năng Lượng của Hoa Kỳ ước tính rằng chỉ với diện tích
5 triệu ha trồng tảo, tức khoảng 1% đất nông nghiệp của Hoa Kỳ
hiện nay (khoảng 500 triệu ha), thì đủ cung cấp diesel-sinh-học
cho Hoa Kỳ, thay thế hoàn toàn diesel từ dầu hoả.
Ngày 11/12/2007, Công Ty
Shell tuyên bố thiết lập cơ sở canh tác tảo để biến chế dầu ăn
và diesel-sinh-học tại Hawaii, trong các ao hồ chứa nước mặn để
canh tác tảo biển. Cũng cần biết thêm rằng tại Hawaii đã có
nhiều cơ sở thương mại canh tác tảo biển để làm dược liệu từ mấy
chục năm nay.
Tảo Diatom chứa khoảng 30%
dầu, có thể sản xuất 45.6 tấn dầu/ha/năm. Tảo Botryococcus
braunii chứa 86% hydrocarbons cuả trọng lượng chất khô, có
thể biến chế thành ethanol.
Nếu đầy đủ ánh sáng, CO2
(hoà tan trong nước), và dinh dưởng, 1 ha tảo cho
100 tấn tảo, và mỗi tấn tảo sản xuất được 410 lít
diesel-sinh-học. Nếu lên men yếm khí, thì mỗi tấn tảo sản xuất
được 6 MJ khí methane. Một m3
tảo khô nặng khoảng 448 kg.
Nghiên cứu ghép gen cho
nhiều dầu cũng cho kết quả khả quan. Enzyme Acetyl-CoA
carboxylase (ACC) chi phối số lượng lipids tích trữ trong cơ thể
vi-tảo, và gen chi phối ACC đã được đánh dấu và ghép vào bộ máy
di truyền của tảo.
Tại Hoa Kỳ có dự án dẫn
ống khí thải CO2
từ nhà máy nhiệt điện đốt than đá đến hồ canh tác
tảo để tái tạo Carbon-sinh-học, thay vì thải CO2
vào khí quyển làm gia tăng nhiệt độ hoàn cầu.
Việt Nam có bờ biển dài
3,200 km, nhiều đầm, vũng, ao, hồ, nước ngọt hay nước mặn đều có
thể canh tác tảo. Dùng tảo vừa để xử lý nước thải từ chuồng trại
chăn nuôi, nước thải thành phố, vừa sản xuất diesel-sinh-học,
cần nên được nghiên cứu ở Việt Nam.
Trần-Đăng Hồng
Trở về Trang Chính
|