|
1/
Trong một lần lên Tây nguyên đã lâu…Câu chuyện dọc đường vẫn làm
tôi thao thức mãi.Đấy là lần xe hỏng.Lùi lại Quy Nhơn hoặc tiến
tới thị xã
Plây Ku đều phải mất nhiều tiếng đồng hồ.Bấy giờ, chỉ mới tắt
mặt trời
nhưng không hy vọng tiếp tục cuộc hành trình.Mọi hành khách đành phải
qua đêm ở lưng chừng đèo An Khê.
Nơi đây
gần như hoàn toàn hoang vắng.Chỉ thấy lau lách ngàn xanh,chập
chùng núi dựng.Cảnh vật vừa âm u vừa hùng vĩ.Không phải bận bịu
hàng hoá gì trong xe, tôi thong thả bước xuống giữa gió chiều
lồng lộng.
Ngày xưa, từng là chỗ bí mật luyện quân của
người anh hùng áo vải đất Tây Sơn.Nguyễn Huệ ! Ráng đỏ trời
chiều tưởng như oai linh còn hiển hiện đến bây giờ.
Có
tiếng động lạ lùng khó hiểu đâu đây.Thì ra, là tiếng…lạc bò.Một khoảnh đất rộng, khá bằng ẩn bên sườn đèo.Đàn
bò chừng dăm, mười con đang bình thản tới lui gặm cỏ.Từng vỏ lon
bia bị bóp méo một đầu, đeo ở đùi mỗi con.Bên trong thả cuội sỏi
gì đó, khi lúc lắc loại lục lạc nàyvang lên âm thanh khô khan
gây chú ý từ xa.Đây rồi…Một ông già đen điu, rắn chắc ngồi lặng
lẽ sườn non.Một cây roi quăn queo và chiếc nón rộng vành để
ngửa…
Thấy
tôi tìm cách lại gần, ông già gật gù :
- Xe
cậu ngoài kia.Xe hỏng ?
- Vâng.Chào cụ.
Tôi tìm
tảng đá, ngồi gợi chuyện cho qua thời giờ.Ông cụ chừng bảy
mươi rất mạnh và cô độc.Tôi nghĩ, một nơi thế
nầy quá buồn.Ông cụ ít nói, có lẽ năm thì mười hoạ gặp người lạ
chuyện trò nên thế.Đến khi vừa nghe tôi tự giới thiệu vài câu
chiếu lệ, về công việc mình đang còn theo đuổi… Ông cụ bỗng sáng
mắt lên và lộ vẻ vui mừng rất đột ngột :
- Tôi rất mong gặp những người
như cậu.Xin cậu…giúp tôi.
Chưa
hiểu ông cụ muốn gì, tôi lại tần ngần nhìn quanh.Ông cụ lại nói
ngay khiến tôi càng ngần ngại hơn vì sự thân
mật sốt sắng này :
- Mời
cậu về nhà tôi nghỉ lại hẵng hay.Bây giờ thì xe chưa thể chạy
được đâu.Sáng mai, liệu sao không để cậu trật
chuyến là được.Cứ tin tôi đi.
Không việc gì bất trắc cả.Nhà tôi ở…trạm nghỉ
của nhân viên quản lý đường đèo An Khê này đó.Gần đây thôi.Mái
lá kia kìa…
Thấy
tôi vẫn im lặng.Nét vui biến mất trên khuôn mặt ông cụ.Không hiểu sao, tôi lại nhận lời nhưng thật tình
bày tỏ :
-
Không phải lo gì, thưa cụ.Chỉ vì chuyện gì đó của cụ chưa biết
rõ làm sao hứa giúp ? Vả lại việc viết lách báo
chí như cỡ cháu chỉ là hạng xoàng.Nhưng, thì thôi.Cũng đến cụ vậy.Cứ coi
như được tá túc nhà cụ đêm nay.Xin cảm ơn cụ trước.
Trở lại
xe báo cho mọi người đồng hành xong, tôi đeo xách tay nhẹ nhàng lên vai đi theo ông cụ chăn bò.
Loong Koong…Loong Koong…Hướng thấp dần vào thung lũng ẩn
khuất, cỏ lau xào xạc.Tiếng chân của người và thú bên nhau dồn
dập đìu hiu.Núi vòi vọi vây quanh trùng điệp với lối mòn đất đỏ
cheo leo.An Khê, nơi một thời ngoạ hổ tàng long.
2/
Con rể ông cụ là nhân viên trạm đèo vùng này.Là một trạm nghỉ tạm thì đúng hơn.Ông cụ cho biết thực ra nhà
của họ dưới chân đèo chứ không phải ở đây.Công việc cụ được tập
thể trạm giao cho là phát triển chăn nuôi.Loại kinh tế linh
động, tận dụng môi trường đặc biệt vùng đèo.Dăm mười hôm cụ mới
về thăm nhà một bận.Khi nghe tôi tỏ ý ái ngại về sức khoẻ người
già như cụ lại phải lên xuống núi mỗi ngày.Quả là công việc khó
khăn.Ông cụ bấy giờ rất vui, nói như đùa :
- Trẻ mỏ luyện quyền.Già leo
núi.Không đổ chút mồ hôi ăn cơm không biết ngon.Các cậu ngày nay - Ông cụ
phá ra cười, bỏ lửng câu nói
thật lâu. Hình như không tiện với kiểu nói
ấy, ông cụ bỗng nghiêm nghị hơn - Tuy chăn
bò tập thể trạm để làm vui.Nhưng mà riêng tôi, còn thêm một ý nghĩa rất…thiêng liêng, vẫn canh cánh
bên lòng.Thật đấy.
Trạm vắng người.Qua
loa xong bữa tối đạm bạc thì trăng hiện ra đầy huyền ảo giữa núi
đèo.Ông cụ bước tới gian giữa thắp nén nhang cắm vào
liếp phên.Ba róng cây chắc nịch, gác ngang
làm giàn treo bỏ đồ đạc.Bên trên có tấm vải điều đã quá cũ, bạc
màu.Trịnh trọng vái xong mấy vái, ông cụ cẩn thận cất tấm vải
đi.Hiện ra…Cái gì ? Một phiến đá Thanh lớn nhưng đã…vỡ thành mấy
mảnh.Tất cả chúng được đặt khớp vào nhau theo thứ tự nguyên
hình.Phiến đá chừng sáu tấc dài, bốn tấc rộng, dày non tấc hơi
mảnh mai theo hình khối hộp.Viền khung được tạc chung quanh.Ở
ngay giữa lòng nổi lên ba chữ Hán chạm chân phương nét vô cùng
sắc sảo.“Linh Xà Miếu”. Đây là loại biển chữ bằng đá
Thanh xa xưa.Vua chúa vẫn thường cho chạm trổ gắn vào tiền đường
các kiến trúc tôn quý.Tôi nhẩm mãi…Để chắc rằng mình vẫn chưa hề
nghe, đọc thấy về một ngôi miếu như thế này bao giờ cả. Niên đại
nào ? Ở đâu ?
-
Thì ra, cậu cũng đọc được tên miếu.
- Cụ
thu giữ vật này làm gì ? Bây giờ thì miếu ở đâu ? Thưa cụ, nói thực kiến thức cháu cạn hẹp - Tôi lờ
mờ đoán hiểu ý muốn của ông cụ -ắt khiến cụ lại nhọc công.Cháu chưa từng
nghe, biết đến miếu này.
- Ồ, không - Ông cụ lắc đầu
xua đi - Làm sao cậu rành được chuyện bí ẩn dòng họ Bùi nhà tôi.Cậu chỉ nghe
là…đủ.Là coi như giúp tôi.Còn tin hay không tuỳ cậu.Ngày xưa…Chừng vào thời
Hậu Lê.Dòng họ Bùi nhà tôi vốn từ một tỉnh phía Bắc vào đây.
3/
Cụ tổ họ Bùi di cư vào nam sinh cơ lập nghiệp.Cụ chỉ ở quanh
quẩn vùng đất ngày nay là Bình Định - Quy
Nhơn.Đến cụ tổ đời thứ hai sinh toàn gái, sau mới có một út trai
nối dòng.Đời thứ nhất đốt than quá vất vả.Cụ tổ đời thứ hai
chuyển sang nghề buôn muối biển lên rừng, đổi lấy hàng hoá đem
về.Thời bấy giờ không phải ai cũng làm được việc nầy vì không
chỉ gian lao mà còn vô cùng nguy hiểm.Cọp dữ đã nhiều, giặc cướp
còn nhiều hơn.Bà cụ tổ đời thứ hai là gái Bình Định, võ nghệ rất
cao cường. Khi lấy chồng, bà chọn nghề buôn muối để mưu sinh.
Mỗi
chuyến đi thường nửa tháng xa nhà.Khác với người ta, họ đem theo cậu út trai khi vừa lên chín tuổi.Cụ tổ
Út, khi ấy đã tạm thông thạo vài thứ côn quyền nhập môn.Các cụ
đem theo con để khỏi nhớ, đồng thời gọi là khỏi trễ nải việc
truyền nghề bên lưng.Đoàn buôn muối cứ thế…Một thời chẳng biết
sợ ai.Cuộc làm ăn ngày càng nên sự nghiệp.
Đó là lúc Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
bị quyền thần Trương Phúc Loan làm hại.Dân tình ta thán.Giặc
cướp như ong.
Một hôm, đoàn buôn muối qua đây -
nay là đèo An Khê - thì phát sinh sự cố.Hai kẻ đón đường xuất
hiện, đưa ra thách thức hết sức lạ lùng buộc các cụ phải bỏ
đường buôn.Hễ bất kỳ ai, dùng vũ khí nào…Họ vẫn tay không giao
đấu.Miễn thắng được cứ ngang nhiên qua lại.Nếu không, cấm lai
vãng từ đây ! Cụ tổ họ Bùi rút đao nhảy ra nhưng chỉ chớp mắt bị
kẻ ấy cướp lấy đao lập tức.Kinh hoàng, bà cụ tổ ra tài múa roi
vùn vụt xông lên. Vẫn không hạ được con người ấy.Ngược lại, hắn
không làm gì đoạt nổi ngọn roi gia truyền.Tưởng chỉ có vậy, bà
ngừng tay cười bảo
như chẳng có việc gì :
-
Chưa thắng được nữ nhi, nam nhân cứ kể là…thua cuộc.Mau tránh
đường ra, ai lo phận nấy.Đừng trái lời giao ước.
Tên
chận đường này quay sang người đi theo nãy giờ vẫn còn đứng lặng lẽ bên đường.Hắn cung kính thưa :
-
Thuộc hạ e phải rút kiếm ra thôi, không thì bọn họ chưa phục.Thế
thì trái lời thực.Xin Nhị gia ra tay thu phục một phen.
- Đúng lắm.Việc nhỏ chưa phục,
ắt đại sự ít người tin.Kẻ đi bán buôn còn giễu cợt tất anh kiệt
phải khinh khi rồi đó.Lui ra mau.Còn chư vị - Người ấy quay
sang đoàn thương buôn - Ta một lời nói ra không hề thay
đổi.Ai là người chưa phục, cứ việc bước ra.Ta cùng chư vị cũng
đều dân nước Nam cả.Kẻ có thế không lộng hành vô đạo.Người vô
lực, chớ vì thế mà hèn mọn, a dua.Nếu không, vị tất xứng gọi kẻ
anh hùng.Xin chỉ giáo…
Người
ấy mặt chữ điền, mắt sáng mày xếch ngược như cánh đại bàng đang bay.Giọng nói âm vang lồng lộng.Chỉ chờ
có thế, bà cụ tổ múa roi xông vào quyết một lần sinh tử.Thật
kinh hồn.Không thấy người ấy dùng thế võ gì, chỉ đảo người vài
vòng thì ngọn roi đổi chủ.Bà cụ tổ tay không!
Thất
vọng, đoàn buôn muối đành phải quay về.Trước khi ra đi các cụ
hỏi rằng :
-
Xin để lại một vài lời.Mong nói rõ nguồn gốc võ nghệ, ắt về sau tất có ngày tái ngộ ? Chúng tôi chỉ hận
mình học nghệ chưa tinh.
-
Hay đấy.Nghe đây.Ta chẳng phải quan binh, cũng không hề là giặc
cướp đón đường mãi lộ.Xét các ngươi đều là võ sĩ, không ngờ chỉ
biết đem công phu tổ truyền ra mưu cầu hai chữ“lợi, an”riêng
lấy nhà mình.Đâu rồi ? Những lời thề lúc bái tổ nhập môn.Vì nước
quên thân, anh hùng thượng võ…Các ngươi vốn là chỗ nương nhờ của
dân.Nay lúc cần, quay lưng miễn an ổn gia cơ là xong đấy phỏng ?
Thế cũng còn biết đến câu sĩ diện dám hỏi tên ta ? Lập tức quay
về nói lại lời này.Bảo, nếu ai đã coi là hào kiệt trong đời cứ
đến chân núi này.Để xem thử là chân tài hay chỉ là giả mạo.Tuy
cùng một môn phái Tây Sơn - nhưng rất khác với ta đấy - Các
ngươi có biết đang làm tổn hại oai danh của môn phái đến nhường
nào ? Nguyễn Huệ là danh tánh của ta.Mong các ngươi nhớ lấy lời
này.Cáo biệt.
Về sau
cụ tổ Út truyền lại rằng, trong khi người lớn uất ức nát cả tâm can.Cụ là thằng bé con chẳng ai để ý, lắng
nghe hai kẻ chặn đường kia to nhỏ cùng nhau.Người trước nói với người sau :
-
Cái cơ thu phục nhân tài của Nhị gia quả thực là diệu
dụng khôn lường.Đừng nói thuộc hạ mà ngay Đại gia hay
Tam gia …e rằng không dám đảm đương.Kế “Khích tướng”
chỉ chừng ấy cũng đủ khiến đại sự của chúng ta sớm được cáo
thành.Nay mai…
-
Thầy ta từng dạy bảo. Ít Đức thì vị tất người Trí
đã theo về.Còn kém Tài sao thu phục kẻ Dũng ? Kế
An Dân ở đó ! Chỉ tiếc rằng người sớm vân du như hạc
nội mây ngàn.Bao giờ lại được nghe lời giáo huấn ?
Cụ tổ
Út nói, võ nghệ con người ấy cao thâm đến độ khôn lường.Mà đến việc cơ trí, mưu lược…cũng không ai đoán
nổi.Người có một không hai trong thiên hạ bấy giờ.
4/
Ấm nước sôi sùng sục.Ông cụ chăn bò dừng lại chế một bình trà. Nhang đã gần tàn nén trên gian thờ.Ông cụ lại
đốt, lại vái.Tôi tưởng như không còn nhớ đến chiếc xe lỡ chuyến
trên đèo.Câu chuyện đi vào hồn tôi bao giờ như gió cứ uốn lượn
ngoài kia, trên những rừng lau dậy sóng.
…….Trên
đường về Quy Nhơn, đoàn buôn muối chán nản vô cùng. Nỗi hận, nỗi buồn đeo nặng.Cụ tổ họ Bùi đời
thứ hai dừng ngựa.Với trách vụ của người trưởng đoàn, của người chồng,
người cha, người môn sinh võ phái, cụ nói lời tối hậu :
- Ai
giúp ta xoá được mối nhục này ? Chỉ còn lấy cái chết để tạ tội không tròn được đạo nghĩa với anh em.Ý ta đã
quyết.Sau này con phải đứng trên cha.Đừng để nhục phải ghi nhớ
lấy hôm nay.Một lời, xin bái biệt…
Mọi người sững sờ
cúi mặt nhưng không hề ngạc nhiên vì lời báo tử
ấy.Đất võ Bình Định có câu “Mất mạng còn
danh. Mất mặt vô dụng”.Lời khuyên trong lúc này là xúc phạm.Để đúng câu
“Anh hùng mã thượng”, cụ tổ đời thứ hai vẫn ngồi trên
mình ngựa.Khi cụ rút đao nâng lên thì trời cũng đã về chiều.
Cụ tổ Út, bấy giờ
còn nhỏ chưa thông luật lệ khóc run bần bật.Người
cha nổi giận quát mắng :
- Im
ngay.Ta phải tạ tội để giữ sạch võ phái.Chết vinh, sống nhục
- Đáng phục.Lợi, thì chia với
mọi người.Lỗi, nhận thay cho tất cả không cầu an sợ chết mới là người võ sĩ chân
chính.Biết tự nhận nhìn ra lẽ phải ấy là kẻ Trí .Khó,
nhưng sửa được mới đáng gọi người Dũng trên đời. Hà tất
phải uổng đi mạng sống.Buông đao xuống !
Đột ngột lời nói
vang lên như một lệnh truyền.Một tiên ông ư ? Kẻ
đang bước ra từ sườn núi.Không.Đấy là cụ già
quắc thước tướng mạo phi phàm.Râu bạc chùng trước ngực, người
phục sức như nông dân.Một cây trượng trúc kỳ dị, ngoằn nghoèo
- hệt như đường uốn ở giữa “ Vòng tròn Thái Cực.Lạ
lùng hơn, thân trượng trúc như dát bạc lấp lánh màu kim tuyến
sáng chói lên trong tia nắng trời chiều.Đấy là một con rắn nhỏ
đang quấn quanh trượng trúc.
Đoàn buôn muối giật
mình nhìn nhau sửng sốt.Họ biết con rắn bạc ấy là một linh vật,
tuy nhỏ bằng ngón út nhưng cực kỳ quý hiếm.Một loại Quốc bảo
nước Nam mà các vua Tàu từng ra sức chiếm đoạt…
Gọi
là Kim Tuyến Linh xà hoặc
Kim Tuyến xà hay ngắn gọn hơn là
Linh xà cũng
thế…Người đi núi nhiều năm cũng chỉ được nghe mà chưa tận mắt
bao giờ.Sở dĩ gọi thế vì truyền thuyết bảo rằng, Linh xà không
nọc độc. Ngược lại, còn có chất giải độc trong nước miếng rắn
này.Bởi thế mọi nọc độc kinh hồn nhất đều trở thành vô dụng
trước Kim Tuyến Linh xà. Chính nó là “Đại khắc tinh” của mọi
loài độc vật chết người…
Gặp nó, dù là Hổ
mang Bành chúa cũng lập tức tránh xa. Từ ngàn xưa, người Trung
Hoa bắt dân Giao Chỉ cống nạp ngọc trai, sừng tê giác - đặc
biệt nhất - Kim Tuyến Linh xà.Vì Giao Chỉ là nơi duy nhất trên
thế gian
linh vật này
sản sinh và cư ngụ.Nó chỉ thích hợp thuỷ thổ của vùng rừng núi
Trường Sơn đầy linh khí. Ai thu phục và nuôi dưỡng được Linh xà
Đấy phải là bậc kỳ
nhân trong thiên hạ.
Vảy bạc của nó thay
ra, làm bảo vật cứu mạng.Bất kỳ hổ mang, rắn rết cực độc nào cắn
phải…Chỉ cần đắp vảy vào đấy.Vảy bạc hoá đen, lấy
ra đem ngâm
vào rượu tốt…Vảy đen hoá…bạc như ban đầu.Kẻ đeo vảy
trong mình ra
vào hang động, tay không bắt hổ mang đều chẳng hề gì.Gọi là
Linh xà Thần dược.Cứu mạng trăm người…
Các cụ
tổ họ Bùi ngỡ ngàng nhìn người mới đến, biết là bậc kỳ nhân. Tất cả xuống ngựa thi lễ, cúi mình xin chỉ
giáo.Cắm cây trượng trúc trước mặt mọi người - chỉ thẳng vào đấy - bậc kỳ
nhân nói những lời chí cốt :
-
Ngoằn ngoèo như thế kia, cũng là hình thể nước Nam ta.Đấy là
“Tượng” của Linh xà, tinh vi
huyền diệu khôn lường.Nhờ vào đây, các anh hùng ngộ ra cách gìn
giữ vững chắc sơn hà.Binh pháp đời Trần gọi là “Linh xà Trận
pháp” hay “Thế trận Linh xà” cũng thế…Rất khác vớ“Trường xà
trận” của binh pháp Trung Hoa (do Tôn Võ Tử sáng tạo ra, lừng
lẫy thiên hạ từ thời Đông Chu) Linh xà Trận pháp của nước Nam ta
rất uyển chuyển và vô cùng bí hiểm…Không hề bị phá vỡ vì lối
dụng binh thần tốc, vũ bão của “Ưng trận” hay là Thế trận Chim
Ưng, vốn là khắc tinh chuyên chế ngự Thế trận Trường xà, nhất là
khi Trường xà biến hoá thành Trường xà Quyện địa.
Linh
xà, tuy sống ở núi rừng nhưng sinh sản ở những miền cửa biển.
Chính vì thế mà có đủ “Khí linh” của núi
sông, thuỷ hoả…Nước Nam ta có hình thế như một “Đại Linh xà” có
Trường Sơn làm “Sống lưng”, lấy biển Đông mà vùng vẫy sinh
hoá.Thế trận ấy trên đời không có chỗ thứ hai.Đó là hình thể hết
sức đặc biệt.Uốn lượn linh động như “Lượn sóng nhấp nhô”. “Sức
Nước chính là sức Dân” vậy.
Linh
xà Trận pháp lấy núi để công, dựa nước mà thủ.Núi thì kiên
cường, nhìn xa thấy rộng.Nước thì nhu hoà mà bền vững.Không ai
phá nổi núi, vì núi tự bền.Chẳng thể ngăn xẻ nước, vì nước vốn
tụ.Tổ tiên ta ngộ lấy Thế trận Linh xà có một không hai nầy mà
bảo vệ đất nước đến bây giờ.Qua bao thăng trầm, bao tàn độc xâm
lăng… của những kẻ thù cường bạo nhất… Nước Nam vẫn vượt lên mà
trường cữu.
Bậc kỳ
nhân nói tiếp :
-
Nay đất nước đang hồi quốc nạn, ngoại bang lợi dụng dòm ngó không yên.Biết sự an nguy trong phút giây nầy
là trọng, nên ta vân du khắp cõi trời Nam tìm người đủ tài đức
để bí truyền Linh xà Trận pháp…
Nhân
qua đây, gặp cơ duyên nói đôi lời chí cốt.Chư vị vẫn còn chấp mê chưa tỉnh ngộ ? Võ học của cha ông để lại
nhằm giúp dân, chống giặc. Hà cớ gì đem dùng vì mưu lợi cá nhân ? Nếu
những lời nói của người đã chặn đường trên núi kia là đúng.Là
lấy làm nhục nhã thì liệu có rút đao tự xử…Cũng đã để lại tiếng
xấu muôn đời.Sống hay chết đi liệu rằng sẽ thay đổi được gì không ? Cái tiếng “khi sư,
diệt tổ”.
Tất cả
đoàn buôn muối không biết tự bao giờ, đều đã quỳ xuống trước cây trượng trúc.Cụ tổ họ Bùi tâm hồn sáng tỏ,
bái lạy tạ ơn xin chỉ cho con đường chính đáng.Thì ra Linh xà
Trận pháp đã được trao truyền cho con người siêu quần Nguyễn
Huệ.
Sau đó
không lâu, tất cả đều trở thành nghĩa quân Tây Sơn.Nghe nói lại
rằng, Nguyễn Huệ lập tức đến nơi thầy xuất hiện.Bậc anh hùng xúc
động bái vọng giữa không trung, nói cùng chư tướng sĩ :
-
Tuy lánh mặt nhưng thầy vẫn sống giữa lòng dân.Người…âm thầm
giám sát, giúp đỡ, thử thách ta.Đệ tử nguyện đến hơi thở cuối
cùng không để mai một đi lời dạy của thầy.Vì nước quên thân.Vì
dân phục vụ.
Về sau,
Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.Xã tắc lại an bình.Thêm lần nữa, "Ưng trận" bị
Thế trận Linh xà chế ngự.Sau khi ca khúc khải hoàn, Hoàng Đế
lập tức truyền cho dựng lên Linh Xà Miếu ở ngay
tại nơi đã từng có trượng trúc quấn Linh xà xuất
hiện.Hằng năm,vua thân chiêm bái.Kỳ lạ thay, từ đó mười dặm
chung quanh miếu không tìm ra hổ mang, rắn độc.Tự mọc đầy cây
thuốc Nam trừ rắn là Bách - Xà - Thiện - thảo.Loài cây lá
như rau "Răm", có những đoá hoa nhỏ như nút áo, màu vàng
đậm xinh xinh.
5/
Ông cụ ngừng kể.Tấm vải điều lại được nâng lên lưng chừng.Mắt
ông cụ chú mục nhìn vào khoảng…xa vời.Tôi kính trọng hồi ức của
con người ngồi trước mặt.Gió đỉnh đèo An Khê vút qua như ngựa
sải trên lau lách về khuya.Một đám mây bay qua.Trăng chìm vào
trong vùng tối.
……Cho
tới khi Gia Long lên ngôi… Linh Xà Miếu bị đập phả tan
tành, tiêu vong tông tích.Ai lai vãng nơi nầy thì bị tội.Cụ tổ
đời thứ ba, còn gọi là cụ tổ Út nghĩ ra cách giả làm tiều phu.Cụ
lén thu lượm được mấy mảnh đá Thanh nầy, đem chôn vào nơi kín
đáo.Dặn rằng, sau phải hàn gắn cho nguyên lành mà thờ phụng
trong nhà.Riêng nền miếu ấy nên lai vãng để trông chừng.Mấy đời
sau…Có cách gì thuận tiện thời thế, là lúc cố tu bổ lại mà
thờ.Quan trọng hơn, vẫn là ý nghĩa của Linh Xà Miếu.Con
cháu không được quên, phải nhắc nhở lưu truyền câu chuyện ấy…
Lời dặn
dò, hết một đời thì bảo lại đời sau.Cứ thế.Đời cụ nội của lão chăn bò này - Cụ ấy là chắt gọi cụ tổ Út
bằng ông cố - rời đất Quy Nhơn, ngài về dưới chân đèo An Khê
này cốt gần nền miếu hơn để trông chừng cho thuận lợi.Mãi đến
hôm nay, lão chăn bò nầy đã có thêm đời con và đời cháu. Như vậy
dòng họ Bùi kể từ khi vào Nam lập nghiệp đã đến mười đời, đều
nghèo cả.Hoá cho nên chỉ làm được có thế.Thật đáng buồn.Đời tôi,
sức tôi chẳng còn bao lâu nữa…Lòng dạ xốn xang.
Ông cụ
nói đến đây, đưa cánh tay xương xẩu quệt ngang khuôn mặt răn reo đầy những vết chân chim.Tôi xúc động
không biết nói gì hơn :
-
Thì ra các
cụ đều chịu…sống nơi đây vì lời di chúc của tổ tiên để
-
lại.Đến từng
ấy thế hệ vẫn không vì nghèo mà bỏ đi xứ khác.
- Cậu thấy rồi.Một công hai
việc.Tôi xin chăn nuôi bò của tập thể trạm đèo nầy để làm…vui.Để nhẹ đi phần nào
gánh nặng con cái phải lo toan.Ngày nào hay ngày ấy.Ngoài ra, cái chính
là để sớm hôm còn lai vãng với nền miếu ngày xưa.Những mảnh đá
Thanh kia được cụ nội tôi quật lên, đem về nhà hương khói.Tôi
mang theo để tạm nơi đây, tiện bề tưởng niệm. Mai chiều…Hết đời
tôi thì giao cho thằng con cung thỉnh về nhà.Đấy…Cái nền Linh
Xà Miếu chính là chỗ cậu với tôi gặp gỡ lúc ban chiều.Một
khoảnh đất bằng cheo leo bên sườn đèo An Khê.Nơi ấy vẫn có thể
tìm ra nhiều gạch đá xưa bị đập vỡ và vùi chôn bên dưới…
Bàng hoàng…Tôi nào
ngờ, nhờ vào tiếng…lạc bò mà chân đã từng
đặt lên nền Linh Xà Miếu .Trước mặt
tôi là hậu duệ đời thứ tám của dòng họ Bùi.Cụ không làm người
chăn nuôi theo nghĩa thông thường.Cụ đang chăm coi và lưu giữ
linh thiêng. "Cảm ơn cụ" Tôi thầm nói trong lòng.Dù văn
hoá vật thể, có khi theo định luật thời gian mà tàn lụi nơi
nào…Thì cứ vẫn còn những giá trị "phi vật thể" để bảo lưu, bổ
khuyết.Miễn sao, có những người như cụ.Những người thật đơn
giản, vô danh thoạt tưởng như chắng có gì để nói, để bỏ chút thì
giờ đồng cảm, lắng nghe…
-
Cậu nghe xong câu chuyện dòng họ Bùi nhà tôi rồi đấy.Không có
cơ hội nói ra, lòng tôi vẫn khắc khoải chưa yên.Dù sao, thì cậu
cũng là người lấy chữ nghĩa viết lách làm trọng.Từng đã có vài
người biết rõ câu chuyện này.Kết quả, họ đều cười tôi không giữ
cái đáng tiền.Họ lấy làm bực mình, phiền toái khi đã phải tốn
công sức ngồi nghe một người chăn bò…ngớ ngẩn như tôi.
-
Nhưng đấy là ai ? Họ có…ý kiến nào không.Thưa cụ ?
- Có lẽ những kẻ chuyên bán buôn
đồ cổ.Hoặc là người chỉ muốn tìm cơ hội cầu may.Nhìn thấy từng
mảnh đá Thanh đã vỡ ra…Họ vừa ý bảo nếu không, chẳng biết bên
trong còn có bí mật nào ? Họ chỉ mơ vàng bạc, hay gì đó miễn đem
bán mua đắc giá.Họ không cần ý nghĩa cha ông.
Tôi
chia sẻ nỗi lòng bằng một câu hỏi chẳng lấy làm hy vọng :
- Có
khi chức trách, nơi thẩm quyền này nọ…sẽ giúp đỡ cụ không chừng.Nếu chịu khó đi…một vài nơi đâu đó ?
- Chẳng ai tin những việc mà
sách sử đến bây giờ không tìm ra căn cứ.Sẽ không có thời gian và
tốn kém cho các việc này.Đi lại nhiều nơi chỉ tổ phiền hà lắm
khi tai tiếng.Tôi muốn hương linh được yên nghỉ hơn là để các
ngài bị xúc phạm vì thiếu sót đời sau.Nếu có sai lầm, tội lỗi ấy
thuộc về ai… Các ngài hay chính của chúng ta ? Thôi thế…
-
Không đâu, thưa cụ.Lỗi ấy thuộc về cả một triều đại nối theo sau nhà Tây Sơn.Triều Nguyễn.Khi mà người viết sử
làm quan.Họ có nhiệm vụ hiểu "chính đáng thay vì là chính xác".
"Chính" đồng nghĩa với đương triều.
Còn "đáng" mà lắm khi chưa "xác".Việc
thực, vẫn rất có thể không “đáng” ghi
vào, đôi khi còn nêu phủ nhận.Thế nhưng, dù "đáng hay là xác"
chỉ mới riêng quan niệm ở một Nguyễn triều kia.Bởi "lịch"
thì vẫn luôn phải tiếp tục "trải qua" để xét soi, phê
phán do còn nhiều thời đại khác về sau…
Sử đúng
nghĩa - ngoài chính sử từ các sử quan ấy - còn song hành phần"ngoại
sử", phần "truyện" để bổ khuyết gẫm suy và nhận
định.Chính sử là chính đáng, song ngoại sử chẳng kém phần
quan trọng với đời sau…Thưa cụ những lời kể và chứng tích đang
có này…Nền miếu, đá Thanh kia.Kể cả cụ lẫn kẻ đang lỡ độ đường
này…Đủ để làm nên nơi đây một thiên ngoại sử về ngôi Linh Xà
Miếu.
Vâng,
thưa cụ.Dẫu chính sử đối với cụ là chỗ không còn trông mong gì
nữa…Vẫn còn đây phần ngoại sử ngay trong con tim, khối óc.Nơi ấy
không giấy tờ, không chữ nghĩa…Không cả đắn đo gì mà những kẻ
viết chính sử kia thường canh cánh bên lòng…Phải thông cảm cho
các sử quan cụ ạ.Đấy là những con người khốn khổ.Không như chúng
ta, chỉ bận trí "công hay tội của triều đại" mà thôi.Họ
đồng thời phải tự trả lời câu hỏi "công hay tội cho ngay
chính bản thân mình" ? Một câu hỏi không thể né
tránh trước triều đại đang sống.Khác với câu hỏi từ phía lịch sử
đơn thuần. Câu hỏi trước triều đại - dù chưa mang
tính vĩnh cửu bao giờ - luôn khắc nghiệt vì không đợi kẻ
viết sử nằm dưới nấm mộ sâu mới ban hành phán quyết về chức năng
một con người từng cầm bút…Lẽ ấy, mọi ngành đều không thiếu vỹ
nhân.Duy sử gia thì thưa cụ, thử hỏi có bao nhiêu Tư Mã Thiên ở
dưới gầm trời ?
Ông cụ
gật gù, trên mặt đã có lộ sắc vui.Tôi không dám coi thường
những người như cụ.Không dám bỏ ngang lời tâm
tư kia, hoặc bắt buộc lòng mình nói theo cách…để một người chăn bò
thu nhận.Không.Vì ít ra chính tôi cũng đang tự nhắc nhủ bản thân
mình.Rằng, mớ chữ nghĩa quá nhỏ bé mà tôi viết ra - chưa bao giờ
ngờ nổi - vẫn còn được một người như cụ thật sự mong chờ và
trân trọng.Một món nợ nặng trĩu không biết mấy linh hồn…Là tiếng
kêu nghẹn tắt của chín, mười thế hệ.Hoàn toàn không đơn giản như
hai bữa cơm rau để tôi cứ ung dung… rồi quên
lãng.
6/
Kiếu biệt vào sáng hôm sau, tôi trở về xe đang khởi động trên
đèo để ra đi.Ông cụ dậy sớm hơn.Bếp lữa bập
bùng.Một bóng lặng lẽ ngồi bên ấm trà bốc khói.Đôi ba trái bắp
nướng lót lòng.Hạt cứng to, hồng tím như màu "ba zan"
muôn thuở nơi đây.Bên lối mòn lau lách xào xạc, đàn bò đứng đợi
sẵn bao giờ lưng đẫm ướt sương đêm.
Cho đến
khi yên vị chỗ ngồi, tôi vẫn thấy rõ hình ảnh cây roi toe tua ông cụ còn huơ huơ trong màn sương mây vây
bủa.Xe chạy vào eo núi khác che khuất… Từ đó đến nay có một thứ
tiếng mãi theo tôi, còn đeo đẳng bên lòng…Loong Koong…Loong
Koong…Mười năm đã qua đi.Tôi chưa hề trở lại đất An Khê.Mười
năm tôi lận đận theo đời.Vẫn dặn mình đừng để mất chút niềm tin
nơi những người như cụ.Tự nơi lòng tôi còn món nợ qua đèo.
Xin cụ
cứ an tâm về ước vọng cao quý của đời mình.Thưa cụ, nếu cụ còn
sống - Tôi tin thế - khi đọc thấy những dòng này chắc
cụ có chút ít vui lòng.Cảm ơn cụ đã tin tôi.Niềm tin mà tổ tiên
cũng đã từng trao cho cụ…
(Thành
nội - Huế)
Trần Hạ Tháp
Trở về Trang Chính
|